Tài liệu Sự thể hiện của lời mời và lời chào trong truyện ngắn nam cao

  • Số trang: 59 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 53 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC TRẦN THỊ HUYỀN SỰ THỂ HIỆN CỦA LỜI MỜI VÀ LỜI CHÀO TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC TRẦN THỊ HUYỀN SỰ THỂ HIỆN CỦA LỜI MỜI VÀ LỜI CHÀO TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO NHÓM NGÀNH: XH2a KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Người hướng dẫn: ThS. Bùi Kim Tuyến SƠN LA, NĂM 2013 LỜI CẢM ƠN Khóa luận được hoàn thành với sự chỉ đạo giúp đỡ tận tình, sát sao của cô giáo Th.S Bùi Kim Tuyến – giáo viên chủ nhiệm, cùng các thầy cô giáo trong bộ môn Tiếng Việt, khoa Ngữ Văn trường Đại học Tây Bắc. Nhân dịp khóa luận được công bố em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Bùi Kim Tuyến và các thầy cô trong tổ bộ môn tiếng Việt đã giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình trong quá trình thực hiện khóa luận. Em xin chân thành cảm ơn! Sơn La, tháng 05 năm 2013 Tác giả khóa luận Trần Thị Huyền K50 ĐHSP Ngữ Văn MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. Lí do chọn khóa luận ................................................................................... 1 2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................ 2 3.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................ 2 3.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 2 4. Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận .......................................................... 3 5. Ý nghĩa của khóa luận.................................................................................. 3 5.1. Ý nghĩa lý luận ........................................................................................... 3 5.2. Ý nghĩa thưc tiễn ........................................................................................ 3 6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu .............................................. 3 6.1 Phương pháp nghiên cứu. ........................................................................... 3 6.2 Nguồn ngữ liệu ............................................................................................ 4 7. Cấu trúc của khóa luận ................................................................................ 4 CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÍ THUYẾT CHUNG .................................. 5 1. Hành vi ngôn ngữ ......................................................................................... 5 1.1. Lí thuyết về hành động nói ....................................................................... 5 1.1.1 Hành động tạo lời ...................................................................................... 5 1.1.2 Hành động ở lời......................................................................................... 5 1.1.3 Hành động mượn lời.................................................................................. 6 1.2. Điều kiện sử dụng các hành động ở lời..................................................... 7 1.2.1 Điều kiện nội dung mệnh đề ...................................................................... 7 1.2.2 Điều kiện chuẩn bị ..................................................................................... 8 1.2.3 Điều kiện chân thành ................................................................................. 8 1.2.4 Điều kiện căn bản ...................................................................................... 9 2. Lý thuyết hội thoại ....................................................................................... 9 2.1. Khái niệm cặp kế cận ................................................................................. 9 2.2. Cấu trúc được ưa chuộng........................................................................ 11 3. Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt ............................................. 12 CHƯƠNG 2: SỰ THỂ HIỆN CỦA LỜI MỜI TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO ...................................................................................................... 17 2.1. Lí thuyết về lời mời.................................................................................. 17 2.1.1. Khái niệm lời mời .................................................................................. 17 2.1.2. Tác dụng của lời mời ............................................................................. 17 2.1.3. Vấn đề nhận diện lời mời ...................................................................... 18 2.1.3.1 Một số cách thức mời trong tiếng việt ................................................... 19 2.2 Sự thể hiện của lời mời trong truyện ngắn Nam Cao ............................. 27 CHƯƠNG 3: SỰ THỂ HIỆN CỦA LỜI CHÀO TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO ...................................................................................................... 31 3.1. Lí thuyết về lời chào ................................................................................ 31 3.1.1 Khái niệm lời chào ................................................................................. 31 3.1.2. Tác dụng của lời chào ........................................................................... 31 3.1.3. Cấu trúc lời chào tiếng Việt ................................................................... 33 3.1.3.1. Lời chào trực tiếp ................................................................................ 33 3.1.3.2. Lời chào gián tiếp ................................................................................ 34 3.1.4. Nghi thức chào trong tiếng Việt ............................................................ 35 3.1.4.1. Nghi thức chào gặp mặt ....................................................................... 35 3.1.4.2. Chào chia tay ...................................................................................... 40 3.1.5.Cách thức chào hỏi (chào theo vai giao tiếp) ......................................... 42 3.1.5.1. Lời chào của người vai dưới với người vai trên ................................... 42 3.1.5.2. Lời chào giữa những người ngang vai giao tiếp .................................. 43 3.1.5.3. Lời chào của người vai trên với người vai dưới ................................... 43 3.2. Sự thể hiện của lời chào trong truyện ngắn Nam Cao ........................... 43 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................. 51 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn khóa luận Trong quan niệm của các nhà nghiên cứu văn hóa, lời chào, lời mời ra đời cùng với sự ra đời của văn hóa giao tiếp của mỗi dân tộc, thể hiện phép lịch sự, tôn trọng, khiêm nhường, trình độ văn hóa của mỗi con người trong quá trình giao tiếp. Nó góp phần tạo lập, củng cố, duy trì, phát triển các mối quan hệ giao tiếp. Vì thế, nó trở thành đối tượng của nhiều ngành nghiên cứu khoa học khác nhau trong suốt nhiều thập kỉ, đặc biệt là ngành khoa học xã hội: Văn hóa, dân tộc, văn học, ngôn ngữ học. Cho đến nay việc nghiên cứu về lời chào, lời mời đã được nhiều công trình nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này và đã có những kết luận có ý nghĩa về mặt khoa học. Tuy nhiên, chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về sự thể hiện của lời mời và lời chào trong truyện ngắn Nam Cao. Nam Cao (1917 – 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri, sinh trong một gia đình nông dân ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam. Ông là người có tấm lòng đôn hậu, chan chứa yêu thương, gắn bó sâu nặng, giàu ân tình với quê hương và những người nghèo khổ bị áp bức, khinh miệt trong xã hội cũ. Đó chính là một trong những lí do dẫn Nam Cao đến với con đường nghệ thuật hiện thực “vị nhân sinh” và tạo nên những tác phẩm thấm đượm tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Nam Cao là nhà văn có biệt tài viết truyện ngắn, cũng là người tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực phê phán. Ông đặc biệt thành công khi viết về hai mảng đề tài: người nông dân nghèo và người trí thức nghèo. Văn Nam Cao có giọng điệu riêng: buồn thương chua chát, dửng dưng, lạnh lùng mà đầy thương cảm, đằm thắm yêu thương. Sáng tác của ông đã vượt qua được những thử thách khắc nghiệt của thời gian, càng thử thách lại càng ngời sáng. Thời gian càng lùi xa, những tác phẩm của ông lại càng bộc lộ ý nghĩa hiện thực phê phán sâu sắc, tư tưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện, độc đáo. Ông có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam trên quá trình hiện đại hóa ở nửa đầu thế kỉ XX. 1 Việc nghiên cứu về sự thể hiện của lời mời và lời chào trong truyện ngắn Nam Cao sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn sâu rộng hơn về những biểu hiện của lời mời và lời chào trong giao tiếp tiếng Việt, đồng thời cho thấy phong cách nghệ thuật của nhà văn. Đó chính là những lý do chính yếu quyết định đến việc chúng tôi lựa chọn khóa luận “Sự thể hiện của lời mời và lời chào trong truyện ngắn Nam Cao”. 2. Lịch sử vấn đề Hiện nay, chúng ta nhận thấy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt. Việc nghiên cứu về hành động chào, mời trong tiếng việt đều đã được các nhà ngôn ngữ học đề cập. Chẳng hạn như tác giả Nguyễn Thị Thu Hương với nghiên cứu: “Lời chào không nghi thức trong giao tiếp thông thường của người Việt”. Tác giả Vũ Tiến Dũng với nghiên cứu: “Lời chào với từ chào và lời mời với từ mời trong giao tiếp tiếng Việt”. Tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy với: “Lời mời và văn hóa ứng sử lịch sự của người Việt trong cách từ chối lời mời”. Các tác giả đã tìm hiểu khá sâu sắc về các kiểu dạng mời chào khác nhau trong giao tiếp tiếng Việt. Tuy nhiên do mục đích nghiên cứu của mỗi đề tài là khác nhau nên kết quả đạt được cũng khác nhau. Thực tế cho thấy chưa có một đề tài chuyên biệt nào nghiên cứu về sự thể hiện của lời mời và lời chào trong truyện ngắn Nam Cao. Vì vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn khóa luận này trên cơ sở thừa nhận kết quả nghiên cứu của các tác giả đã nghiên cứu trước đó và bước đầu tìm hiểu về sự thể hiện của lời mời và lời chào trong truyện ngắn Nam Cao. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là nghiên cứu những lời thoại hẹp hơn là những lời thoại liên quan đến lời mời, lời chào trong truyện ngắn Nam Cao. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của khóa luận chủ yếu là nghiên cứu lời mời, lời chào qua những lời thoại trong truyện ngắn Nam Cao. 2 4. Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận Mục đích của khóa luận này là tìm hiểu sự thể hiện của lời mời và lời chào trong truyện ngắn Nam Cao. Từ mục đích trên khóa luận cần giải quyết một số nhiệm vụ sau: a. Nghiên cứu lý thuyết về lời mời và lời chào trong giao tiếp tiếng Việt. b. Khảo sát chỉ ra lời mời và lời chào trong truyện ngắn Nam Cao. c. Chỉ ra phong cách nghệ thuật của nhà văn Nam Cao. 5. Ý nghĩa của khóa luận 5.1. Ý nghĩa lý luận Trên cơ sở nghiên cứu về sự thể hiện của lời mời và lời chào trong truyện ngắn Nam Cao giúp chúng ta có cái nhìn sâu rộng hơn về những biểu hiện của lời mời và lời chào trong giao tiếp tiếng Việt, đồng thời cho thấy phong cách nghệ thuật của nhà văn Nam Cao. 5.2. Ý nghĩa thưc tiễn Trên cơ sở nghiên cứu về lời mời và lời chào trong truyện ngắn Nam Cao giúp chúng ta có cách hiểu linh hoạt, thích ứng nhanh chóng hơn với hành động nói trong hoạt đông giao tiếp. Trên cơ sở đó, khóa luận sẽ góp phần thêm một tiếng nói hữu ích giáo dục cho thanh niên biết cách chào mời hợp với nghi thức lời nói của người Việt. 6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 6.1 Phương pháp nghiên cứu. Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như khảo sát, thống kê, điều tra, miêu tả, quy nạp. Phương pháp miêu tả giúp cho chúng tôi tránh được những kết luận có tính tư biện, võ đoán. Việc miêu tả những lời chào, lời mời sẽ là cơ sở giúp chúng ta có những kết luận khoa học vững chắc về sự thể hiện của lời mời và lời chào trong truyện ngắn Nam Cao. Phương pháp chủ đạo mà khóa luận sử dụng là phương pháp quy nạp. Đây là phương pháp được thực hiện trong sự phân tích lý thuyết đã có, đặc biệt quan trọng là phân tích nguồn ngữ liệu thu thập được và từ đó khái quát hóa thành những kết luận. Thông qua phân tích cứ 3 liệu thu thập về hành động chào, mời lịch sự, khóa luận đã xác định được cách thức chào, mời thường dùng trong giao tiếp tiếng Việt. 6.2 Nguồn ngữ liệu a. Nguồn ngữ liệu chủ yếu mà khóa luận sử dụng là những lời mời và lời chào trong truyện ngắn Nam Cao. Các lời thoại này đã được gọt giũa theo ý đồ của nhà văn nhưng nó vẫn không mất đi tính đặc trưng (tính cảm tính, tính cụ thể, tính cảm xúc) và các chức năng (giao tiếp lí trí, tạo tiếp, cảm xúc) của phong cách sinh hoạt hàng ngày dưới cách nhìn của phong cách chức năng. b. Ngoài ra khóa luận còn sử dụng những ghi chép về hành động chào, mời trong hoạt động giao tiếp thường ngày. 7. Cấu trúc của khóa luận Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận có cấu trúc gồm 3 chương cụ thể: Chương 1: Những cơ sở lí thuyết chung Chương 2: Sự thể hiện của lời mời trong truyện ngắn Nam Cao Chương 3: Sự thể hiện của lời chào trong truyện ngắn Nam Cao 4 CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ LÍ THUYẾT CHUNG 1. Hành vi ngôn ngữ 1.1. Lí thuyết về hành động nói Với cuốn sách how to do things with words (tạm dịch là: người ta hành động như thế nào bằng lời nói), Austin được coi là người xây dựng và đặt nền móng cho lí thuyết về hành động nói. Và nhờ việc phân biệt phát ngôn khảo nghiệm và phát ngôn ngôn hành, Austin đã phát hiện ra bản chất của ngôn ngữ. Ông gọi hành động nói là hành động phát ngôn, hành động nói năng. Mệnh đề mà ông phát hiện ra là “khi tôi nói tức là tôi hành động”, tức là chúng ta thực hiện một hành động đặc biệt mà phương tiện là lời nói. Đó chính là hành động nói. Theo Austin có ba loại hành động nói lớn: - Hành động tạo lời (locutionary act). - Hành động mượn lời (perlocutionary act). - Hành động ở lời (illocutionary act). 1.1.1 Hành động tạo lời Hành động tạo lời là hành động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, các kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung. Một bộ phận của hành động tạo lời là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ tiền dụng học. Chẳng hạn có một câu nói cụ thể: (1).“Tôi ăn cơm” Ở đây người nói đã sử dụng các từ: “ tôi, ăn, cơm” và các quy tắc đặt câu của tiếng Việt như: chủ ngữ đặt trước vị ngữ và bổ ngữ “cơm” đặt sau động từ trung tâm “ăn”. 1.1.2 Hành động ở lời Hành động ở lời là hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng tương ứng với chúng ở người nhận. Ví dụ: (2). - Could you lend me open, please? - Yes, ofcause. 5 - No, I can’t. Đặc điểm của hành động ở lời là có ý định (đích ở lời hay đích ngôn chung), có tính quy ước, có thể chế mặc dù quy ước và thể chế đó không hiển ngôn nhưng mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ đó vẫn tuân thủ một cách tự giác. Chẳng hạn, người Việt chúng ta hỏi thường bộc lộ sự quan tâm, chào bộc lộ sự tôn trọng, hỏi có khi không dùng để hỏi mà để mời chào… Nắm được ngôn ngữ không có nghĩa là chỉ nắm được âm, những từ ngữ, câu của ngôn ngữ đó mà còn phải nắm được quy tắc điều kiển các hành động ở lời của ngôn ngữ đó. Chằng hạn, hỏi phải đúng nơi, đúng chỗ, đúng ngữ cảnh. Trong trường hợp hai người ngồi cùng chuyến xe ô tô hỏi nhau về tên, tuổi, hôn nhân, công việc… với người Việt thì đó là sự quan tâm còn đối với người phương Tây thì đó là hành động khiếm nhã. Hành động ở lời khác với hành động mượn lời và tạo lời là nó làm thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại. Chúng đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành động đó. Khi ta hứa với ai một điều gì đó thì ta phải có trách nhiệm thực hiện lời hứa còn người nghe có quyền chờ đợi kết quả của lời hứa đó. Điểm đáng lưu ý là lý thuyết về hành động nói chủ yếu liên quan đến hành động ở lời. Các phát ngôn ngôn hành là sản phẩm, cũng là phương tiện của hành động ở lời. 1.1.3 Hành động mượn lời Hành động mượn lời là những hành động “mượn” các phương tiện ngôn ngữ hay nói đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận, hoặc chính người nói. (3). Đồng chí hiệu phó phụ trách chuyên môn của một trường phổ thông trung học có sinh viên về thực tập tuyên bố: - Ngày mai, tôi sẽ đi dự một số tiết có sinh viên thi giảng. Có hai trường hợp mà hành động mượn lời của phát ngôn này có thể xảy ra: + Với những sinh viên chăm chỉ, tập giảng nhiều và có năng lực chuyên môn tốt thì sẽ rất vui mừng vì có dịp được thể hiện mình, được cọ sát về chuyên môn nhiều hơn. 6 + Với những sinh viên nghiệp vụ sư phạm còn yếu lại tỏ ra lo lắng, sợ có người dự sẽ run thêm và giờ giảng của mình bị đánh giá khắt khe hơn. 1.2. Điều kiện sử dụng các hành động ở lời Austin xem các điều kiện sử dụng các hành động ở lời là những điều kiện “may mắn” (Felicity conditions) nếu chúng được bảo đảm thì hành động mới “thành công”, đạt hiệu quả nếu không nó sẽ thất bại. Với các điều kiện “may mắn” đưa ra, Austin cho rằng: hành động ở lời là cái được thực thi một cách trực tiếp bởi một hiệu lực có tính quy ước đi liền với một kiểu phát ngôn nhất định phù hợp với thủ tục có tính quy ước. Chính vì vậy, hành động ở lời có tính xác định (xác định theo quy ước) . Trên cơ sở lời hứa trong tiếng Anh, Searle đã điều chỉnh và bổ sung điều kiện thực hiện các hành động tại lời của Austin. Theo quan điểm của Searle, mỗi hành động tại lời cần phải có những điều kiện mà còn gọi là những quy tắc để cho việc thực hiện nó đạt đúng hiệu quả của nó. Searle cho rằng: có bốn điều kiện, mỗi điều kiện là một điều kiện cần còn toàn bộ hệ điều kiện là điều kiện đủ. 1.2.1 Điều kiện nội dung mệnh đề Nội dung mệnh đề thường chỉ ra bản chất nội dung của hành động nói. Nội dung mệnh đề có thể là mệnh đề đơn giản (đối với hành động xác tín, miêu tả) hay một hàm mệnh đề (đối với câu hỏi khép kín). Gọi là hàm mệnh đề vì phát ngôn ngôn hành tương ứng với hành động hỏi đưa ra hai khả năng người trả lời chọn lấy một mà trả lời. Nội dung của mệnh đề có thể là hành động của người nói (như hành động hứa, thề, cam kết) hay hành động của người nghe (như hành động ra lệnh, yêu cầu). Chẳng hạn: (4). a. Bạn đã đến. b. Bạn đã đến rồi à? c. Bạn đến nhé! d. A! Bạn đến. Bốn câu thơ trên đều có chung nội dung thông báo là “anh đến”, song hành động ở lời trực tiếp của bốn câu trên là khác nhau 7 4a – là hành động thông báo 4b – hành động trực tiếp là hỏi 4c – hành động trực tiếp là cầu khiến 4d – hành động thông báo và bộc lộ cảm xúc 1.2.2 Điều kiện chuẩn bị Điều kiện chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực lợi ích, ý định của người nghe và về các mối quan hệ của người nói và người nghe. (Chẳng hạn trong hành động ra lệnh người nói phải tin rằng người ra lệnh có khả năng thực hiện được hành động quy định trong lệnh, trong yêu cầu). Đồng thời, vị thế xã hội của người nói và người nghe được tính toán để có lợi cho người nói hơn. (Với hành động hứa đòi hỏi người hứa phải muốn thực hiện lời hứa và người nghe cũng muốn lời hứa được thực hiện. Tuy nhiên, cũng có trường hợp người hứa không muốn thực hiện lời hứa và người nghe cũng không muốn người hứa thực hiện hành động hứa đó. Ví như trường hợp giáo viên hứa sẽ kỉ luật nghiêm minh đối với học sinh mắc lỗi. 1.2.3 Điều kiện chân thành Đây là điều kiện về trạng thái tâm lý tương ứng của người phát ngôn. Xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín; ra lệnh thì đòi hỏi lòng mong muốn; hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói; hỏi thì mong muốn được giải đáp điều mình hỏi. Ví dụ: (5). a. Thầy giáo chủ nhiệm là người rất quan tâm tới lớp. b. Bạn hãy tận tâm với công việc hơn! c. Bạn có thấy quyển sách của tôi đâu không? d. Chị hứa hè này sẽ đưa bọn em đi chơi. Trong ví dụ trên, thì ví dụ 5a là hành động khảo nghiệm xác tín, đòi hỏi người nói phải tin điều khẳng định là đúng, 5b là hành động cầu khiến: mong muốn anh tốt hơn trong công việc, 5c là hành động hỏi: tôi mong muốn được trả lời, 5d là hành động hứa: đòi hỏi chị phải thực hiện việc cho các em đi chơi vào hè này. 8 1.2.4 Điều kiện căn bản Đây là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói và người nghe bị ràng buộc khi hành động đó đã được phát ra. Trách nhiệm đó có thể rơi vào hành động sẽ được thực hiện (hành động hứa, thỉnh cầu) hoặc với tính chân thực của nội dung đã được trình bày. 2. Lý thuyết hội thoại Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên và phổ biến của ngôn ngữ đồng thời nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra. Hội thoại đã được tìm hiểu từ những năm 1970 trong phân ngành ngôn ngữ học Mĩ, sau đó được tiếp tục nghiên cứu ở Pháp và các nước thuộc cựu lục địa, ngày nay hội thoại đã được bàn đến ở hầu hết các nước trên thế giới. Các cuộc hội thoại có nhiều kiểu loại khác nhau nhưng nhìn chung chúng đều có những điểm chung nhất định về mặt cấu trúc. Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc hội thoại,theo trường phái phân tích cấu trúc hội thoại ở Mĩ thì đơn vị cơ sở của hội thoại là lượt lời và cấu trúc của hội thoại được làm thành từ những cặp kế cận. 2.1. Khái niệm cặp kế cận Các hành vi ngôn ngữ không tồn tại một cách độc lập, riêng rẽ. Trong hội thoại, mỗi phát ngôn đều có mối quan hệ với những phát ngôn đi trước hoặc sau nó. Mỗi hành vi ngôn ngữ đều ảnh hưởng tới những hành vi khác xung quanh nó. Nó có thể là hệ quả của hành vi ngôn ngữ đứng trước và là tiền đề cho hành vi ngôn ngữ phía sau, lượt lời kéo theo lời sau nó. Tất cả hình thành nên các cặp kế cận hay cặp thoại. Có thể hiểu cặp kế cận là các lượt lời thường đi liền với nhau lập thành một cặp gần như tự động. Ví dụ: (6). SP1: Mấy em ơi. Vô ăn ủng hộ món mới nào SP2: Hết tiền rồi bác ơi 9 Hoặc: (7). SP1: Khoai tây bao tiền 1kg vậy chị? SP2: Mười nghìn. Những phát ngôn như trên làm thành cặp kế cận. Như vậy thể hiện cặp kế cận là hai phát ngôn gần kề nhau, do hai người nói khác nhau nói ra, nó được tổ chức thành bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai trong đó bộ phận riêng thứ nhất đòi hỏi phải có bộ phận riêng thứ hai. Trong một cặp kế cận, lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai tức là khi nói ra một điều gì đó thì người ta mong muốn hoặc dự đoán hay chờ đợi một điều gì đó khác sẽ xảy ra. Hai lượt lời này có sự liên kết với nhau rất chặt chẽ. Các cặp kế cận thông thường hay gặp là những cặp hành vi ngôn ngữ như: hỏi – trả lời; chào – chào; cầu khiến – chấp nhận/từ chối cầu khiến; cám ơn – đáp lời cám ơn; xin lỗi – đáp lời xin lỗi v.v Ví dụ: (8). a. Hỏi – Trả lời SP1: Bạn đã ăn cơm chưa? SP2: Tớ chưa ăn. b. Chào - Chào SP1: Cháu chào bác ạ! SP2: Ừ. Chào cháu. c. Cầu khiến – Chấp nhận/từ chối SP1: Lấy hộ anh quyển sách. SP2: Vâng. Hoặc SP2: Anh tự đi mà lấy. d. Cảm ơn – Đáp lại lời cảm ơn SP1: Cảm ơn anh nhiều. SP2: Có gì đâu mà ơn với huệ. 10 e. Xin lỗi – Đáp lại lời xin lỗi SP1: Xin lỗi mình không cố ý. SP2: Không sao chuyện nhỏ mà. 2.2. Cấu trúc được ưa chuộng Thông thường một cặp kế cận được tạo thành từ hai bộ phận, bộ phận thứ nhất (lượt lời thứ nhất) và bộ phận thứ hai (lượt lời thứ hai). Với cùng một lượt lời thứ nhất thì ở lượt thứ hai sẽ có nhiều khả năng xảy ra. Ví dụ: (9). SP1: Lấy hộ anh quyển sách. SP2: a. Vâng! b. Anh tự đi mà lấy. c. Giá sách cao lắm, em không với được đâu. d. Sao em phải có trách nhiệm lấy hộ anh? e. Em đang rất vội vì hôm nay trường em khai giảng, em lại có nhiệm vụ cầm biển lớp nữa, anh tự đi lấy được không? Như vậy, cùng một lượt lời thứ nhất có thể gây ra nhiều lượt lời thứ hai khác nhau, trong đó những lượt lời ưa dùng hơn và những lượt lời ít dùng hơn. Ở ví dụ trên thì lượt lời ở a thường ưa dùng hơn lượt lời ở b, c, d và e. A là một sự tiếp nhận tích cực của SP1 trước một yêu cầu của SP2, a đáp ứng đúng mục đích mà SP2 đang hướng tới, về mặt hình thức a thường có cấu trúc ngắn gọn, đơn giản. Ngược lại, lượt lời ở b, c, d và e thường ít dùng, nó là một sự tiếp nhận tiêu cực trước yêu cấu của SP2, nó không đáp ứng được nhu cầu của SP2, về mặt hình thức thì lượt lời tiếp nhận tiêu cực thường có cấu trúc phức tạp, đa dạng. Ví dụ trên cho thấy trong những bộ phận thứ hai của một cặp kế cận có thể có những bộ phận đáp ứng đích của người nói đặt ra ở bộ phận thứ nhất cũng như thỏa mãn hành vi tạo ra ở bộ phận thứ nhất. Các cấu trúc gồm bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai thỏa mãn hai tiêu chí nói trên lập thành cấu trúc được ưa chuộng. Cấu trúc được ưa chuộng gồm hai loại: Những hành vi được ưa chuộng 11 và những hành vi không được ưa chuộng. Phần được ưa chuộng là hành động tiếp theo được mong đợi, phần không được chuộng là hành động tiếp theo không được mong đợi. Một số khuôn hình chung của cấu trúc được ưa chuộng: PHẦN THỨ NHẤT PHẦN THỨ HAI Được chuộng Không được chuộng Yêu cầu Chấp thuận Từ chối Khen tặng Tiếp nhận Khước từ Mời Nhận lời Từ chối Nhận định Tán thành Không tán thành Mắng Cãi Thừa nhận Hỏi Trả lời theo sự Trả lời không thuận theo sự Phê bình chờ đợi chờ đợi Phủ định Tiếp thu Như vậy trong cấu trúc dược ưa chuộng không phải chỉ có phần được tạo ưa chuộng mà còn bao gồm cả phần không ưa chuộng. Cấu trúc được ưa chuộng hay không được ưa chuộng không phải do ý thích hay cảm xúc của cá nhân chi phối mà nó được xã hội quy định. Không thể khẳng định cấu trúc có bộ phận thứ hai không được ưa chuộng là ít gặp hơn so với cấu trúc có bộ phận thứ hai được ưa chuộng, chỉ có điều chúng ta luôn nhận thấy là trong giao tiếp người ta thường cố gắng làm sao để ngăn chặn cấu trúc có bộ phận thứ hai không được ưa chuộng xuất hiện nhiều mà thôi. 3. Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt Trong thế giới chúng ta đang sống có hai loại hiện tượng: hiện tượng xã hội và hiện tượng tự nhiên. Hiện tượng tự nhiên là những hiện tượng phát sinh, phát triển, mất đi một cách tự nhiên không phụ thuộc vào con người và xã hội loài người. Ví dụ như các hiện tượng: mưa, nắng, sấm, chớp, bão…Hiện tượng xã hội là những hiện tượng phát sinh, phát triển, mất đi phụ thuộc vào ý muốn 12 của con người và xã hội loài người. Ví dụ như chính trị, pháp quyền, tôn giáo, ngệ thuật, giáo dục… Ngôn ngữ được xem là một hiện tượng xã hội vì: Ngôn ngữ sinh ra do nhu cầu giao tiếp của con người. Ngôn ngữ phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người (ngôn ngữ là người bạn đồng hành trong xã hội loài người). Ngôn ngữ sẽ mất đi khi không còn xã hội loài người và ngôn ngữ chỉ có trong xã hội loài người. Không chỉ là một hiện tượng xã hội, ngôn ngữ còn được xem là một hiện tượng xã hội đặc biệt. Trước hết bởi ngôn ngữ có chức năng, có quy luật phát triển riêng (chức năng của ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, đồng thời ngôn ngữ còn là công cụ của tư duy); ngôn ngữ phát triển từ từ liên tục, tích góp, không đột biến, không nhảy vọt. Mặt khác ngôn ngữ không do hạ tầng cơ sở đẻ ra, cũng không thuộc thượng tầng kiến trúc. Cơ sở hạ tầng là toàn bộ quan hệ sản xuất của xã hội ở một giai đoạn phát triển nào đó; kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, tôn giáo, nghệ thuật,…của xã hội và các cơ quan tương ứng chúng. Không ai đồng nhất ngôn ngữ với cơ sở hạ tầng, nhưng ý kiến coi ngôn ngữ thuộc kiến trúc thượng tầng lại khá phổ biến. Ngôn ngữ không thuộc kiến trúc thượng tầng bởi vì: Mỗi kiến trúc thượng tầng đều là sản phẩm của một cơ sở hạ tầng, trong khi đó ngôn ngữ không phải do cơ sở hạ tầng nào đẻ ra mà là phương tiện giao tiếp của toàn thể xã hội, được hình thành và bảo vệ qua các thời đại. Khi cơ sở hạ tầng cũ bị thủ tiêu thì kiến trúc thượng tầng của nó cũng sụp đổ theo và thay thế vào đó một kiến trúc thượng tầng mới tương ứng với một kiến trúc hạ tầng mới. Ngôn ngữ biến đổi liên tục, không đếm xỉa đến tình trạng của cơ sở hạ tầng, nhưng nó không tạo ra một ngôn ngữ mới mà chỉ hoàn thiện cái đã có mà thôi. Kiến trúc thượng tầng luôn luôn phục vụ cho giai cấp nào đó, còn ngôn ngữ không có tính giai cấp. Luận điểm chính của cái gọi là “ học thuyết mới về ngôn ngữ” của Mac là tính giai cấp của ngôn ngữ. Ông cho rằng, không có ngôn ngữ nào không có tính giai cấp. Sự thực không phải như vậy. Ngôn ngữ ra đời cùng với xã hội loài người, nhưng xã hội loài người không phải ngay từ đầu đã 13 phân chia thành các giai cấp. Cho nên không thể nói tới ngôn ngữ giai cấp trong thời kì đó. Chúng ta có thể dễ dàng chấp nhận thời kì cộng sản nguyên thủy là ngôn ngữ chung thống nhất cho toàn xã hội. Nhưng khi xã hội đã phân chia thành các giai cấp thì ngôn ngữ có biến thành ngôn ngữ giai cấp hay không? Những người ủng hộ tính giai cấp của ngôn ngữ cho rằng nếu không có xã hội thống nhất mà chỉ còn các giai cấp thì cũng không có ngôn ngữ thống nhất nữa. Sự thực ngược lại. Các giai cấp đối địch vẫn phải liên hệ về kinh tế với nhau, giai cấp tư sản vẫn phải dựa vào giai cấp vô sản để mà sống, giai cấp vô sản cũng phải bán mình cho giai cấp tư sản để kiếm miếng ăn. Như vậy nếu không có ngôn ngữ chung cho các giai cấp thì xã hội sẽ ngừng sản xuất, sẽ tan rã và không tồn tại với tư cách là một xã hội nữa. Có lẽ học thuyết về tính giai cấp của ngôn ngữ chỉ có cơ sở ít nhiều ở sự tồn tại của các tiếng lóng, biệt ngữ giai cấp. Trong khi vận dụng ngôn ngữ chung, các giai cấp đều lợi dụng nó để phục vụ cho nhu cầu của riêng mình, vì vậy đã đưa vào ngôn ngữ chung những từ ngữ riêng của họ.Nhưng những biệt ngữ ấy chưa phải là ngôn ngữ bởi vì chúng không có hệ thống ngữ pháp và từ vựng riêng biệt; chúng chỉ lưu hành trong những phạm vi hẹp chứ không thể dùng làm phương tiện chung của xã hội. Vì thế, tiếng lóng và biệt ngữ là những nhánh phụ của ngôn ngữ dân tộc, thiếu hẳn tính độc lập của một ngôn ngữ và chỉ sống một cách vất vưởng. Kiến trúc thượng tầng không trực tiếp liên hệ với sản xuất, nó chỉ liên hệ với sản xuất một cách gián tiếp qua cơ sở hạ tầng. Điều đó chứng tỏ phạm vi tác động của kiến trúc thượng tầng là nhỏ hẹp và có hạn. Trong khi đó ngôn ngữ liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất của con người, và không những với hoạt động sản xuất mà còn cả với mọi hoạt động khác của con người, trên tất cả mọi lĩnh vực công tác, từ sản xuất đến hạ tầng, từ hạ tầng đến thượng tầng. Phạm vi tác động của ngôn ngữ rộng hơn thượng tầng rất nhiều và hầu như không có giới hạn nào cả. Như vậy ngôn ngữ không thuộc hạ tầng, cũng không thuộc thượng tầng kiến trúc. Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt. Đặc thù riêng của hạ tầng 14 là nó phục vụ xã hội về mặt kinh tế. Đặc thù riêng biệt của thượng tầng là nó phục vụ xã hội bằng những ý niệm về chính trị, pháp lí và các mặt khác nữa. Vậy đặc thù riêng biệt của ngôn ngữ, đặc thù giúp ta phân biệt ngôn ngữ với các hiện tượng xã hội khác là gì? Là ngôn ngữ phục vụ xã hội, làm phương tiện giao tiếp giữa mọi người, làm phương tiện trao đổi ý kiến trong xã hội, làm phương tiện giúp cho người ta hiểu biết lẫn nhau… Những đặc thù ấy chỉ riêng ngôn ngữ mới có, và chính vì chỉ ngôn ngữ mới có nên ngôn ngữ mới thành đối tượng nghiên cứu của một khoa học riêng biệt là: ngôn ngữ học. Tiểu kết J.L.Austin cho rằng hành động nói được chia làm ba loại hành vi ngôn ngữ lớn, đó là hành vi tạo lời, hành vi ở lời và hành vi mượn lời. Trên cơ sở tiếp thu các điều kiện sử dụng hành vi ở lời của J.L.Austin, Searle cho rằng một hành vi ở lời phải có bốn điều kiện. Mỗi điều kiện là một điều kiện cần, còn toàn bộ hệ điều kiện là điều kiện đủ để có được hành vi ở lời. Đó là điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành và điều kiện căn bản. Trong hội thoại, các hành vi ngôn ngữ không tồn tại một cách độc lập, riêng rẽ mà luôn có mối quan hệ khăng khít với các hành vi ngôn ngữ khác đứng trước và sau nó, mỗi hành vi ngôn ngữ đều ảnh hưởng tới những hành vi khác xung quanh nó, nó có thể là hệ quả của hành vi ngôn ngữ đứng trước và là tiền đề cho hành vi ngôn ngữ phía sau, lượt lời trước kéo theo lượt lời sau nó. Tất cả hình thành nên cặp kế cận . Một cặp kế cận luôn gồm có hai bộ phận, bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai. Trong đó bộ phận riêng thứ nhất phải đòi hỏi có bộ phận riêng thứ hai. Bộ phận thứ hai của một cặp kế cận có thể có hai cấu trúc, cấu trúc được ưa chuộng và cấu trúc không được ưa chuộng. Trong quá trình giao tiếp khi thực hiện bộ phận thứ hai với cấu trúc không được ưa chuộng người nói phải cố gắng làm sao để cấu trúc có bộ phận thứ hai không được ưa chuộng ít xuất hiện, để không làm ảnh hưởng tới mối quan hệ với người đối thoại. Ngôn ngữ được xem là một hiện tượng xã hội. Và khi đề cập tới một hiện tượng xã hội, người ta thường xem xét chúng trên cơ sở của hai phạm trù của 15
- Xem thêm -