Tài liệu Sự thể hiện của ẩn dụ tu từ trong thơ của nhà thơ xuân quỳnh

  • Số trang: 56 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 336 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

LỜI CẢM ƠN được oà t à với sự c ỉ đạo giúp đỡ t tì , sát s o củ T ạc sĩ Bùi im T yế k o Ngữ vă , cù g với sự độ g viê cổ vũ iệt tì củ cô giáo c ủ iệm cù g các t ầy cô giáo tro g bộ mô Tiế g Việt, k o Ngữ vă trườ g Đại ọc Tây Bắc. Q đây, em xi trâ trọ g bày tỏ ò g biết ơ sâ sắc tới cô Bùi im T yế và các t ầy cô tro g tổ bộ mô tiế g Việt đã giúp đỡ, ướ g dẫ và c ỉ bảo t tì tro g q á trì t ực iệ k . Em xi c â t à cảm ơ ! Sơ L , t á g 05 ăm 2013 Trầ T ị T úy K50 ĐHSP ữ Văn MỤC LỤC MỞ ĐẦU .................................................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................................................... 1 2. Lịch sử vấn đề ......................................................................................................................... 2 3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu ............................................................................................ 5 3.1. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................................ 5 3.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................................. 5 4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................................ 6 4.1. Phương pháp thống kê phân loại ......................................................................................... 6 4.2. Phương pháp so sánh – đối chiếu ........................................................................................ 6 4.3. Phương pháp phân tích tu từ học ......................................................................................... 7 5. Những đóng góp của khóa luận .............................................................................................. 7 6. Cấu trúc khóa luận .................................................................................................................. 7 Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT ................................................................................................. 9 1.1 Một số khái niệm cơ bản ...................................................................................................... 9 1.1.1 Màu sắc tu từ ..................................................................................................................... 9 1.1.2. Phương tiện tu từ ............................................................................................................ 11 1.1.3. Biện pháp tu từ ............................................................................................................... 11 1.1.4. Sự khác nhau giữa phương tiện tu từ và biện pháp tu từ ................................................ 12 1.1.4.1. Cấp độ từ vựng ............................................................................................................ 12 1.1.4.2. Cấp độ ngữ nghĩa ......................................................................................................... 13 1.1.4.3. Cấp độ cú pháp ............................................................................................................ 14 1.1.4.4. Cấp độ văn bản ............................................................................................................ 15 1.1.5. Phân tích tu từ học .......................................................................................................... 17 1.2. Ẩn dụ tu từ ......................................................................................................................... 20 1.2.1. Khái niệm ....................................................................................................................... 20 1.2.2. Đặc điểm cấu trúc nghĩa, kiểu loại ................................................................................. 21 1.2.2.1. Căn cứ vào từ loại và chức năng của từ ẩn dụ có thể chia ẩn dụ ra làm ba loại .......... 21 1.2.2.2. Các dạng ẩn dụ ............................................................................................................ 22 1.2.3. Ý nghĩa sử dụng .............................................................................................................. 24 1.2.3.1. Trong sinh hoạt hàng ngày .......................................................................................... 24 1.2.3.2. Trong văn chính luận ................................................................................................... 24 1.2.3.3. Trong thơ văn nghệ thuật ............................................................................................. 25 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ........................................................................................................... 26 Chương 2: ẨN DỤ TU TỪ TRONG THƠ XUÂN QUỲNH ................................................... 27 2.1. Thống kê phân loại ............................................................................................................ 27 2.1.1. Tư liệu thống kê ............................................................................................................. 27 2.1.2. Mục đích thống kê .......................................................................................................... 27 2.1.3. Kết quả thống kê. ............................................................................................................ 27 2.1.3.1. Bảng thống kê về ẩn dụ tu từ trong thơ của Xuân Quỳnh ..................................... 27 2.1.3.2. Nhận xét ....................................................................................................................... 29 2. Giá trị ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Quỳnh ............................................................................ 30 2.1. Ẩn dụ tu từ biểu thị cho phong cách thơ Xuân Quỳnh ...................................................... 30 2.2. Giá trị biểu cảm của ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Quỳnh .................................................. 35 2.3 Phân tích bài thơ “Tiếng gà trưa” ....................................................................................... 45 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ........................................................................................................... 49 KẾT LUẬN .............................................................................................................................. 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................................ 52 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề à Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh là một tác giả nữ có phong cách và bản sắc riêng khá rõ nét. Trải qua năm tháng sống và viết, yêu thương và lao động nghệ thuật hết mình, Xuân Quỳnh đã để lại cho đời một di sản văn học thật đáng quý. Ngòi bút của chị đã được thử thách qua thời gian và nhiều loại chủ đề khác nhau. Trong đó có những bài thơ tình yêu đã đạt tới đỉnh cao. Dù đi vào những vấn đề lớn của đất nước hay trở về với những tình cảm riêng tư, thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất riêng của một tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo, đầy nữ tính. Đọc những tác phẩm của Xuân Quỳnh, chúng ta gần như hình dung được chị đã sống ra sao, đã yêu thương day dứt những gì? Lấy sự chân thực làm điểm tựa cho cảm xúc sáng tạo của mình, các sáng tác của Xuân Quỳnh chính là đời sống của chị, là những tâm trạng của chị trong mỗi bước vui buồn của đời sống. Trên con đường hoạt động văn học nghệ thuật không dài lắm, với tư cách người phụ nữ - người yêu – người vợ và người mẹ, sáng tác của Xuân Quỳnh đã đi vào lòng bạn đọc nhiều thế hệ như là tiếng nói tiêu biểu của tình yêu và tình mẫu tử. Đó là tiếng nói trữ tình dịu dàng, sâu lắng, chứa đựng hơi thở của thời đại mà vẫn in dấu truyền thống của tâm hồn dân tộc ta tự ngàn xưa. Trong sự nghiệp văn chương đồ sộ của mình, Xuân Quỳnh đã sử dụng rất nhiều biện pháp nghệ thuật như: điệp từ, điệp ngữ, so sánh, hoán dụ, từ láy và không thể không nhắc đến biện pháp ẩn dụ tu từ. Ẩn dụ tu từ là một trong những biện pháp nghệ thuật tạo nên sự thành công, tạo nên phong cách lãng mạn, trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh. Vì vậy khóa luận này tìm hiểu về: “Sự thể hiện của ẩn dụ tu từ trong thơ của nhà thơ Xuân Quỳnh”. Chúng tôi thiết nghĩ, việc nghiên cứu giá trị nghệ thuật của các phương tiện và biện pháp tu từ nói chung và giá trị của ẩn dụ tu từ trong thơ của Xuân Quỳnh nói riêng là một việc làm thiết thực để chúng ta có thể thêm một cách nhìn sâu sắc về phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Ẩn dụ tu từ là một biện pháp tu từ được nhà thơ sử dụng nhiều và có giá trị rất lớn trong việc diễn đạt tư tưởng, quan điểm và tình cảm của nhà thơ. Trong chương trình trung học phổ thông từ xưa đến nay, môn Văn vẫn giữ được vị trí ưu thế, các tác phẩm của nhà văn chân chính vẫn có chỗ đứng bền vững trong chương trình giảng dạy. Cùng với những tác phẩm của các tác giả tên tuổi thì thơ Xuân Quỳnh cũng được đưa vào giảng dạy cho học sinh. Trong chương trình Ngữ Văn 7, tâp 1, Nhà xuất bản Giáo dục có đưa vào giới thiệu bài thơ Tiếng gà trưa và trong chương trình Ngữ Văn 12, tập 1, Nhà 1 xuất bản Giáo dục có giới thiệu bài thơ Sóng . Đây được coi là hai bài thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh. Hiện nay, phương pháp giảng dạy đã được đổi mới khác với lối dạy học truyền thống, phương pháp dạy tích hợp giữa ba môn tiếng Việt, làm văn, Đọc văn trong chương trình Ngữ Văn ngày càng được chú trọng, được quan tâm từ phía giáo viên giảng dạy. Nhưng thực tế hiện nay trong nhà trường phổ thông cho thấy những phương tiện , biện pháp tu từ xuất hiện trong tác phẩm ít được giáo viên và học sinh phân tích kĩ lưỡng, tỉ mỉ. Giáo viên chỉ định hướng khái quát cho học sinh. Họ chưa coi đây là một phương pháp có hiệu quả rất lớn để đi vào chiều sâu nội dung, tư tưởng bài thơ. Chính vì vậy mà khi phân tích Xuân Quỳnh, giáo viên chưa giúp học sinh cảm nhận thật sâu sắc cái hay, cái đẹp của các phương tiện và biện pháp tu từ, trong đó có ẩn dụ tu từ mang lại. Để góp một phần nhỏ vào việc khắc phục tình trạng trên, chúng tôi đã lựa chọn tìm hiểu nghiên cứu về “Sự thể hiện của ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Quỳnh”. Thiết nghĩ đây là việc làm cần thiết với những ai yêu thích, có mối quan tâm sâu sắc đến thơ của chị. 2. Lịch sử ấn đề Việc tìm hiểu phương thức ẩn dụ đã từ lâu được các nhà nghiên cứu quan tâm. Trong các giáo trình về từ vựng học tiếng Việt: Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp đều nói đến hiện tượng chuyển nghĩa nói chung và phương thức ẩn dụ nói riêng Bên cạnh đó, các tác giả viết về phong cách học như: Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa, Hữu Đạt... cho rằng ẩn dụ là một phép tu từ dùng để trang trí, góp phần làm giàu hình tượng, cảm xúc tiếng Việt. Song ở mỗi tác giả, ở mỗi thời điểm lại có cách gọi và phân loại khác nhau. Nguyễn Thái Hòa, gọi ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa, có khả năng gợi hình, gợi cảm. Về mặt ý nghĩa, tác giả phân ẩn dụ ra làm ba loại: “Từ cụ thể đến cụ thể, từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể”. Cách phân loại này dựa vào tính cụ thể của đối tượng chọn làm ẩn dụ. Với cách phân chia này, mối quan hệ tương đồng giữa hai sự vật, hai hiện tượng chưa được thể hiện rõ nét và cũng chưa thấy được tính đa dạng, phong phú của ẩn dụ tu từ. Cù Đình Tú, xem ẩn dụ “là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ sở của mối liên tưởng về nét tương đồng của hai đối tượng”. Dựa vào khả năng tương đồng giữa hai đối tượng, tác giả chia ẩn dụ tiếng Việt ra làm năm loại: “Tương đồng về màu sắc, 2 tương đồng về tính chất, tương đồng về trạng thái, tương đồng về hành động và tương đồng về cơ cấu”. Nhìn chung các phân chia này phù hợp với chức năng biểu cảm của ẩn dụ tu từ. Tuy nhiên cách nhận định về ẩn dụ tu từ này mang nhiều tính truyền thống, chưa làm rõ các phương tiện và biện pháp tu từ. Như vậy, vấn đề ẩn dụ được nghiên cứu khá kĩ lưỡng và nhiều nhưng hầu như ít có công trình nào tìm hiểu ẩn dụ tu từ trong tác phẩm nghệ thuật. Thực tế này đã để ngỏ một cách hiểu, cách tiếp cận (ẩn dụ tư từ) trong nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác đối với các văn bản nghệ thuật. Xuân Quỳnh – Một người phụ nữ đa sầu, đa cảm; một người vợ, người mẹ dịu hiền, đặc biệt hơn chị còn là một người nghệ sĩ đa tài. Sự nghiệp văn học của chị được xây dựng trên nhiều lĩnh vực như: thơ trữ tình, truyên ngắn viết cho thiếu nhi...ở mảng nào chị cũng gặt hái được nhiều thành công đáng kể nhưng khi nhắc tới Xuân Quỳnh người ta thường biết đến chị với tư cách là một nhà thơ thực thụ. Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ tiêu biêu của thế hệ nhà thơ sinh ở thập kỉ 40. Cũng giống như hầu hết các nữ sĩ đông tây kim cổ, Xuân Quỳnh làm thơ cốt để diễn tả cuộc sống của chính mình về tất cả mọi phương diện: những khát khao, những tình cảm, những suy nghĩ, và "sự sống" của một người phụ nữ. Có lẽ vì vậy mà những sáng tác của Xuân Quỳnh cũng luôn chân thành, đằm thắm và da diết. Chị đã yêu với tất cả chiều sâu thăm thẳm của trái tim mình. Với Xuân Quỳnh, thơ của chị sáng tác khá nhiều song số lượng bài viết, nghiên cứu về chị còn phần nào hạn chế, khiêm tốn. Trong số nghiên cứu về Xuân Quỳnh phải kể đến: - Nữ sĩ Xuân Quỳnh – cuộc đời để lại (Ngân Hà tuyển chọn và biên soạn, nhà xuất bản văn hóa thông tin – Hà Nội 2001) - Xuân Quỳnh – cuộc đời và tác phẩm (Lưu Khánh Thơ, Đông Mai tuyển chọn, nhà xuất bản phụ nữ) - Bài viết Con người và nhà thơ của Lại Nguyên Ân (Hội nhà văn Việt Nam – Báo văn học tuổi trẻ, tháng 6 năm 1995) Nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh chưa nhiều song phần lớn các ý kiến đều đánh giá khá cao thơ chị. Trong: Nữ sĩ Xuân Quỳnh – cuộc đời để lại bài viết “ Cảm nhận về thơ Xuân Quỳnh” Lưu Khánh Thơ có viết: Từ lúc xuất hiện cho đến khi vĩnh biệt cuộc đời, quá trình sáng tác thơ của Xuân Quỳnh là một chặng đường đi lên không hề đứt đoạn. Hồn thơ của chị ngày càng đa dạng và không ngừng được 3 mở ra. Ngòi bút của Xuân Quỳnh đã được thử thách qua thời gian, với nhiều loại chủ đề khác nhau [8]. Bên cạnh đó, Lại Nguyên Ân thì cho rằng: Xuân Quỳnh là hiện tượng rất quan trọng của nền thơ chúng ta. Có lẽ là từ Hồ Xuân Hương, qua các chặng phát triển, phải đến Xuân Quỳnh, nền thơ ấy mới thấy lại một nữ thi sĩ mà tài năng và sự đa dạng của tâm hồn được thể hiện một tầm cỡ đáng kể như vậy, dồi dào phong phú như vậy[8]. Hay như Mai Quốc Liên đã có lần nhận xét: Chưa có ai đã biểu hiện sự thương yêu sâu xa, đằm thắm đến thế trong thơ tình Việt Nam như Xuân Quỳnh. Chu Văn Nga trong bài viết: Xuân Quỳnh – một chồi thơ sắc biếc cũng đã nhận xét rất chân thật dòng cảm xúc của mình về thơ Xuân Quỳnh: Tôi yêu thơ Xuân Quỳnh trước tiên vì nét trẻ trung, tươi tắn cái vẻ hồn nhiên cởi mở của người làm thơ, yêu cách viết nghịch ngợm, dí dỏm, không cần làm duyên nhưng vẫn có cái duyên của người cầm bút[8]. Khi nhận xét về nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh, đặc biệt là về giọng thơ, Nguyễn Thị Minh Thái đã nói: Những câu thơ ấy giống hệt những giọt nước sau cơn mưa còn đọng lại trên lá cây. Chỉ cần một làn cảm xúc chợt đến khi chạm vào lá, là những câu thơ ấy sẽ rơi rụng ngay xuống một vùng tâm thức mồn một hiện lên giữa lòng ta[8]. Xuân Quỳnh là một nhà thơ có nghệ thuật và kĩ thuật biểu hiện tương đối vững vàng, có bản lĩnh. Cấu tứ thơ Xuân Quỳnh thường rất tự nhiên nhưng lại chắc chắn, gọn ghẽ, sắc sảo. Một giọng điệu không kiểu cách, khiên cưỡng mà luôn tự nhiên phóng khoáng. Câu thơ đi về rộng dài theo những liên tưởng nhiều khi đột xuất mà vẫn tự nhiên, hợp lí, câu thơ chao liệng giữa hi vọng, mơ ước với những trăn trở xót xa, những niềm vui nỗi buồn. Để có những tác phẩm thơ hay, đặc sắc và dễ đi vào lòng người, Xuân Quỳnh cũng giống như bao nhà thơ khác cũng vượt qua những thang bậc của sự tìm tòi, trăn trở. Tóm lại, nhìn một cách tổng thể, các học giả, các công trình nghiên cứu, bài viết có những nhận xét khá thống nhất, chính xác về phong cách sử dụng ngôn ngữ của Xuân Quỳnh. Tuy nhiên, do mục đích khác nhau mà các bài viết, công trình nghiên cứu ấy chưa đi sâu tìm hiểu về biện pháp nghệ thuật “Ẩn dụ tu từ” trong thơ của Xuân Quỳnh. Vậy nên, trong khuôn khổ của khóa luận này chúng tôi sẽ nỗ lực tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu về biện pháp ẩn dụ tu từ trong thơ của Xuân Quỳnh với mong muốn kế thừa và phát huy những thành tựu 4 đã nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh. Qua đó, hi vọng chúng tôi có thể góp thêm chút ít ý kiến vào việc nghiên cứu, tìm hiểu về bộ phận sáng tác có giá trị nhiều mặt này của nhà thơ. 3. Mục êu à phạm n h ên cứu 3.1. Mục êu n h ên cứu Mục đích của khóa luận này là tìm hiểu hiện tượng chuyển nghĩa mà cụ thể là phương thức ẩn dụ tu từ. Đặc biệt là tìm hiểu giá trị ẩn dụ trong thơ của Xuân Quỳnh. Từ đó thấy được vai trò, tác dụng của phương tiện này trong việc góp phần tạo nên sự thành công trong thơ của Xuân Quỳnh. Bên cạnh đó, khóa luận này đóng góp tiếng nói của mình vào việc tìm hiểu thơ Xuân Quỳnh nhất là phương diện nghệ thuật. Nâng cao sự hiểu biết, năng lực khám phá, cách tiếp cận, thêm một cách phân tích khác về thơ Xuân Quỳnh. Khóa luận nghiên cứu thành công chính là tài liệu tham khảo cho những ai yêu mến, thích thú, quan tâm tới thơ Xuân Quỳnh nói chung và các bạn sinh viên ngành Ngữ Văn nói riêng trong học tập, nghiên cứu và giảng dạy. Khi nghiên cứu khóa luận này, chúng tôi tiến hành các bước sau: Thứ nhất: Tìm hiểu chung về phương tiện tu từ, biện pháp tu từ và phương tiện tu từ ngữ nghĩa: Ẩn dụ tu từ, làm cơ sở vững chắc để soi rọi vào trong thơ ca Xuân Quỳnh nhằm tìm ra những biện pháp, phương tiện tu từ này một cách khoa học, chính xác và khách quan. Thứ hai: Tiến hành khảo sát thơ ca Xuân Quỳnh, tìm ra những bài thơ, câu thơ có sử dụng ẩn dụ tu từ để từ đó rút ra nhận xét, đánh giá khái quát về phong cách sử dụng các phương tiện và biện pháp tu từ trong thơ của Xuân Quỳnh. Thứ ba: Phân tích giá trị nghệ thuật của phương tiện và biện pháp tu từ ẩn dụ trong việc biểu đạt nội dung, ý nghĩa, tư tưởng, tình cảm của tác phẩm thơ Xuân Quỳnh. Liền với đó là đi sâu vào phân tích giá trị cụ thể của ẩn dụ tu từ trong bài thơ “Tiếng gà trưa” được đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa của chương trình trung học cơ sở (lớp 7). Thông qua đó, đề xuất một số cách cảm thụ, phân tích, tiếp cận khác khi giảng dạy và học tập thơ Xuân Quỳnh, thấy được bút pháp miêu tả, sử dụng ngôn ngữ tinh tế của tác giả. 3.2. Phạm n h ên cứu Xuân quỳnh sử dụng nhiều phương tiện và biện pháp tu từ trong các tác phẩm thơ của mình. Trong tập thơ “ Thơ tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ”, 5 các sáng tác của Xuân Quỳnh đã sử dụng những phương tiện và biện pháp tu từ như: Dùng từ láy, phép điệp cấu trúc, ẩn dụ...để thể hiện sự tinh tế, sắc sảo trong nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh. Xuân Quỳnh đã sự dụng nhiều phương tiện và biện pháp tu từ nhưng ở khóa luận này chúng tôi chỉ đi sâu vào nghiên cứu sự thể hiện của ẩn dụ tu từ trong những bài thơ của tác giả trong tập thơ “Thơ tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ”. Chúng tôi nghiên cứu “Ẩn dụ tu từ” ở ba phạm vi, góc nhìn: Phong cách học, tu từ học và điểm nhìn thẩm mĩ để thấy được cái độc đáo, mới lạ trong sử dụng ngôn từ của nhà thơ Xuân Quỳnh. 4. Ph ơn pháp n h ên cứu Khóa luận nghiên cứu theo các phương pháp cơ bản sau: 4.1. Ph ơn pháp hốn kê phân loạ Phương pháp thống kê phân loại sẽ giúp người làm khóa luận có kết quả cụ thể, khách quan và đảm bảo độ chính xác cao. Qua đó, ta thấy được phương tiện nào, biện pháp nào được sử dụng nhiều hay ít, tỉ lệ cao hay thấp. Từ đó, ta sẽ nhận thấy giá trị của phương tiện, biện pháp tu từ nào chiếm ưu thế. Có thể khẳng định: Đây là một phương pháp rất quan trọng và cần thiết cho việc nghiên cứu khóa luận. Nó không chỉ giúp cho khóa luận được lôgic, rõ ràng, sâu sắc, mang tính khoa học và khách quan cao mà nó còn giúp người đọc nghiên cứu có cái nhìn tổng quan hơn, cụ thể hơn về biện pháp nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh. Từ đó, việc nghiên cứu kĩ các văn bản nghệ thuật để rồi tìm ra các dạng kết cấu thường gặp của các phương tiện, biện pháp tu từ mà tác giả hay sử dụng. Trên cơ sở của phương pháp này ta có thể khắc phục được một phần những thiếu sót thường gặp và lựa chọn phương hướng thích hợp để khắc phục khi đi vào tìm hiểu, phân tích giá trị của ẩn dụ tu từ trong các bài thơ của Xuân Quỳnh. 4.2. Ph ơn pháp so sánh – đố ch u Phương pháp so sánh – đối chiếu với các công trình nghiên cứu khác về Xuân Quỳnh là một việc cần làm để thấy sự giống nhau, khác nhau, khía cạnh nào các tác giả đề cập tới hay có đề cập tới thì cũng mới tản mạn, rải rác ở một số công trình mà chưa thành hệ thống. Lấy đó làm cơ sở làm nền tảng khách quan hỗ trợ đắc lực cho việc nghiên cứu. 6 4.3. Ph ơn pháp phân ích u ừ học Phương pháp phân tích tu từ học là phương pháp quan trọng và chính yếu bởi nó có thể giúp ta giải mã một cách đầy đủ hơn sự độc đáo trong sử dụng ngôn ngữ lựa chọn hình ảnh, tư duy nghệ thuật độc đáo của tác giả trong việc làm nên sự biến đổi phong cách thể loại trong văn học. Khi sử dụng phương pháp này vào phân tích các phương tiện, biện pháp nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh cần chú ý tới các thao tác phân tích tu từ học sau: - Xác định thành phần thông tin cơ bản của văn bản ngôn từ. - Tìm ra những hình thức biểu đạt gần nghĩa hoặc đồng nghĩa của biểu đạt lựa chọn. Tiến hành so sánh, đối chiếu dựa trên những mối quan hệ của ngữ cảnh tư từ để thấy được những đặc điểm đồng nhất và đối lập của từng yếu tố. - Đưa ra những phán đoán về giá trị, hiệu quả của hình thức nghệ thuật được lựa chọn trong việc biểu đạt nội dung. Tuy nhiên, sự phân tích tu từ học chỉ là chất xúc tác cho tác động của nghệ thuật về tư tưởng và cảm xúc thẩm mĩ. Sự phân tích này không thể tách rời quá trình tổng hợp để khôi phục tính chỉnh thể của tác phẩm văn học, nhằm xác định rõ giá trị của mỗi yếu tố, mỗi phương tiện, biện pháp tu từ trong cái toàn thể đó là tác phẩm. Ngoài bao phương pháp trên, chúng tôi còn nghiên cứu các tài liệu khoa học để bổ sung kiến thức, hoàn thiện khóa luận một cách đầy đủ hơn. 5. hữn đón óp của khóa luận Xuân quỳnh là một nhà thơ lớn, có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam. Đặc biệt tác phẩm của bà được chọn giảng dạy trong nhà trường trung học cơ sở, trung học phổ thông đã chứng tỏ bà là một nhà thơ lớn và có vị trí quan trọng trong nền văn học của nước nhà. Vì vậy, sự thành công của khóa luận sẽ là một trong những tài liệu tham khảo tìm hiểu về thơ Xuân Quỳnh, về sự thể hiện “sức sống” của ẩn dụ tu từ trong tác phẩm nghệ thuật. 6. Cấu rúc khóa luận Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận gồm 2 chương Chương 1: Cơ sở lí thuyết Chương này dành cho việc điểm lại những vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài như: 7 1. Lí do chọn khóa luận. 2. Lịch sử vấn đề. 3. Mục đích nghiên cứu. 4. Phạm vi nghiên cứu. 5. Cấu trúc chung và nội dung cơ bản của khóa luận. Để từ đó lấy làm căn cứ lí giải các hiện tượng cụ thể mà khóa luận đặt ra. Chương 2: Ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Quỳnh. 8 Ch ơn 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT “Trong tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng và hình thức phải hòa hợp với nhau một cách hữu cơ như là tâm hồn và thể xác, nếu hủy diệt hình thức thì cũng có nghĩa là hủy diệt tư tưởng và ngược lại cũng vậy” (Belinxki). Một ý kiến khác cho rằng: “Tác phẩm nghệ thuật đích thực, nhất là tác phẩm ngôn từ, bao giờ cũng là một phát minh về hình thức và một khám về nội dung” (Leonop). Vậy tác phẩm văn học là sự hội tụ, sự gặp gỡ và giao thoa, mối quan hệ hữu cơ khăng khít giữa hình thức con chữ, ngôn ngữ, nội dung và nghệ thuật. Nhà lí luận chính trị Lênin cũng cho rằng: “Tác phẩm văn học dù muốn hay không muốn đều phải khoác lên cho nó chiếc áo diêm dúa của ngôn từ”. Giới nghiên cứu ngôn ngữ học tiếng Việt cũng đưa ra ý kiến về hình thức và nội dung trong tác phẩm văn học. Trong đó, có ý kiến của giáo sư Đinh Trọng Lạc: “Cái làm nên sự kì diệu của ngôn ngữ là phương tiện và biện pháp tu từ”. Như vây, hình thức và nội dung có quan hệ hữu cơ, quan hệ biện chứng với nhau. Vì vậy, khi đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu thơ Xuân Quỳnh, chúng tôi chú trọng nhiều đến hình thức diễn đạt, đặc biệt là phương tiện ẩn dụ tu từ trong thơ của Xuân Quỳnh. Chương này chúng tôi sẽ tìm hiểu cơ sở lí thuyết của phương tiện tu từ, biện pháp tu từ để làm tiền đề cho chương sau (Chương 2). 1.1. Mộ số khá n ệm cơ bản 1.1.1. Mà sắc t từ Đinh Trọng Lạc [16] khẳng định rằng “phương tiện ngôn ngữ ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật – lôgic) ra còn có ý nghĩa bổ sung” mà tu từ học còn gọi là màu sắc tu từ. Màu sắc tu từ là khái niệm phong cách học chỉ phần thông tin có tính chất bổ sung bên cạnh phần thông tin cơ bản của một thực từ. Nói cách khác, màu sắc tu từ là khía cạnh biểu cảm – cảm xúc của ý nghĩa thuộc từ (diễn đạt những tình cảm, những đánh giá, những ý định …) bên cạnh sự vật – logic của ý nghĩa. Ví dụ: Các từ: Ăn, nhậu, tọng, hốc, đớp, xơi… là những từ đồng nghĩa nhưng khác nhau về sắc thái biểu cảm. 9 Cụ thể: Ăn là dùng tay, thìa, đũa đưa thức ăn vào miệng, miệng kết hợp các cử động nhai, đảo, nuốt… mang màu sắc trung hòa. Tọng, hốc, đớp là nói đến cách dùng bữa của những người bất lịch sự, hạn chế về văn hóa ẩm thực, văn hóa sinh hoạt của người Việt, mang màu sắc khinh thường, rẻ rúm. Xơi là nói đến cách dùng thức ăn của người có văn hóa, lịch sự, điềm đạm, mang màu sắc tôn trọng, lịch sự. Chẳng hạn khi nói: - Cháu mời bác xơi cơm ạ! Thái độ của người nói mang màu sắc tôn trọng, lịch sự. - Hốc cho nhanh rồi cút đi! Thái độ của người nói mang màu sắc coi thường, khinh bỉ. Phần lớn các từ trong ngôn ngữ chỉ có phần thông tin cơ bản (còn gọi là ý nghĩa chỉ xuất) như: nhà, cửa, cột, kèo, xấu, chạy, đến… Nhưng trong ngôn ngữ cũng có nhiều từ, ngoài phần thông tin cơ bản ra, còn có phần thông tin bổ sung (còn gọi là ý nghĩa hàm chỉ) như: Người ngọc, quốc sắc, thiên hương, quân tử… Màu sắc tu từ chính là ý nghĩa hàm chỉ. IV. Acnon xác định ý nghĩa hàm chỉ như sau: “Khi xem xét thông tin được chứa đựng một cách tương ứng trong thông báo trên cấp đôi các từ, có thể thấy rằng các từ bên cạnh ý nghĩa chỉ xuất nêu rõ đối tượng của lời nói còn có ý nghĩa hàm chỉ vốn được hình thành từ những thành tố cảm xúc, biểu cảm, bình giá và tu từ học chức năng” [15]. Màu sắc tu từ là phần ý nghĩa bổ sung, là yếu tố nhỏ bé, tinh tế làm nên sự đối lập giữa các phương tiện trung hòa của ngôn ngữ với các phương tiện tu từ của ngôn ngữ. Còn trong các biện pháp tu từ, thì cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ có trung hòa lẫn tu từ cùng đi đến một tác dụng, một hiệu quả là làm nảy sinh những màu sắc tu từ. Các tác phẩm văn chương mẫu mực đều chứng tỏ rằng các nhà văn lớn luôn luôn là những người nắm bắt được một cách tinh tế những màu sắc tu từ trong sự diễn đạt vừa chính xác, vừa sinh động của sự vật, của thực tế khách quan lẫn tình cảm, thái độ chủ quan của mình. Vì vậy, có thể nói rằng, các phương tiện ngôn ngữ dùng để giao tiếp trong xã hội không thể không có màu sắc tu từ. 10 1.1.2. P ươ g tiệ t từ Những phương tiện tu từ thường được gọi là những phương tiện diễn cảm, nhưng gọi như vậy dễ gây hiểu lầm là chúng chỉ diễn đạt cảm xúc. Thực ra những phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ, mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật – lôgic) ra, chúng còn mang ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ. Màu sắc tu từ nhiều khi được gọi là sắc thái tu từ (cốt để nhấn mạnh sự đối lập giữa phần nghĩa cơ bản và phần nghĩa bổ sung) nhưng, từ “sắc thái” nên dùng để chỉ những sắc thái nhỏ bé, tinh tế, đậm nhạt khác nhau của màu sắc. Ví như màu sắc cảm xúc có những sắc thái: hống hách, hách dịch, quan liêu, gia trưởng… Các phương tiện tu từ cần được định nghĩa một cách khái quát và nhất quán ở mọi cấp độ. Phương tiện tu từ gồm có: - Phương tiện tu từ từ vựng. - Phương tiện tu từ ngữ nghĩa. - Phương tiện tu từ cú pháp. - Phương tiện tu từ văn bản. Phương tiện tu từ tiếng Việt rất đa dạng và phong phú, ở mỗi cấp độ phương tiện tu từ có những đặc điểm, đặc trưng và nét khu biệt riêng. 1.1.3. Biệ p áp t từ Theo Đinh Trọng Lạc [17], biện pháp tu từ, định nghĩa một cách khái quát nhất, đó là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói. Đó là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ (không kể là trung hòa hay diễn cảm) để tạo ra hiệu quả tu từ (tác dụng gợi hình gợi cảm, nhấn mạnh làm nổi bật…) do sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong ngữ cảnh rộng. Biện pháp tu từ còn là những cách diễn đạt mới mẻ trong những ngữ cảnh cụ thể bên cạnh những cạnh những cách diễn đạt bình thường quen thuộc mọi ngữ cảnh. Ví dụ: Trong câu thơ: Anh yêu em như yêu đất nước của Nguyễn Đình Thi đã so sánh “yêu em” như “yêu đất nước” trở thành một biện pháp tu từ, nhờ việc so sánh đó mà diễn đạt được tình yêu đôi lứa đặt sóng đôi, ngang bằng với tình yêu đất nước. Chính các biện pháp tu từ đã làm nên những câu văn hay, những câu thơ đẹp, những tác phẩm đặc sắc. Bởi cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc không chỉ do nội dung hay mà còn do hình thức hay, hình thức diễn đạt ngôn ngữ mới mẻ, độc 11 đáo. Vì vậy, khi ta nắm chắc về biện pháp tu từ ta sẽ nhận thấy được một “cơ thể” (tác phẩm văn chương) hoàn chỉnh, viên mãn, sáng tạo ngôn từ của người nghệ sĩ – nữ thi sĩ Xuân Quỳnh. Căn cứ vào cấp độ ngôn ngữ, các phương tiện được phối hợp sử dụng, các biện pháp tu từ được chia ra thành các cấp độ sau: - Biện pháp tu từ từ vựng. - Biện pháp tu từ ngữ nghĩa. - Biện pháp tu từ cú pháp. - Biện pháp tu từ văn bản. - Biện pháp tu từ ngữ âm – văn tự. Chúng ta đều biết, đọc một câu thơ, câu văn thấy rất hay nhưng không biết hay ở chỗ nào (nghĩa là không biết tác dụng ra sao của biện pháp tu từ nào) thì có nghĩa là mới thấy hay một nửa. Phong cách học chính là nhằm giúp người sử dụng biết cái hay đó. Hơn nữa, phạm vi nghiên cứu của đề tài là phương tiện tu từ ẩn dụ - một trong những phương tiện, mang lại giá trị biểu cảm cho tác phẩm văn chương, đặc biệt trong thơ của Xuân Quỳnh. 1.1.4. Sự k ác giữ p ươ g tiệ t từ và biệ p áp t từ Phương tiện tu từ với biện pháp tu từ có sự khác nhau được thể hiện rất rõ ở các cấp độ như: Cấp độ từ vựng, cấp độ ngữ nghĩa, cấp độ cú pháp, cấp độ văn bản. 1.1.4.1. Cấp độ từ vựng Tác giả Đinh Trọng Lạc [16] quan niệm: Các phương tiện tu từ từ vựng được xác định là những đơn vị từ vựng đồng nghĩa mà ngoài ý nghĩa cơ bản ra (ý nghĩa sự vật – lôgic) chúng còn có ý nghĩa bổ sung (gọi là màu sắc tu từ) được hình thành từ bốn yếu tố: Biểu cảm (chứa đựng yếu tố hình tượng), cảm xúc (diễn đạt những tình cảm, cảm xúc), bình giá (khen, chê, tốt,xấu...) và phong cách chức năng (chỉ rõ phạm vi sử dụng: Thường xuyên cố định). Ta kháo sát ví dụ sau: Từ “đứa trẻ” là phương tiện từ vựng trung hòa thì các từ sau đây là những phương tiện tu từ: “Cún con”, “em bé”... là cách gọi âu yếm, yêu thương. “Đồ trẻ con”, “đồ con nít”... tỏ thái độ khinh thường, ghét bỏ. 12 Căn cứ vào phạm vi được sử dụng những từ ngữ đồng nghĩa tu từ được chia ra như sau: Những từ ngữ có điệu tính tu từ cao: Là những từ gọt giũa được ưu tiên sử dụng trong lời nói sách vở, văn hóa. Đó là những từ ngữ mang màu sắc cao quý, bác học và thường bắt nguồn từ các lớp từ như: Từ thi ca, từ cũ, từ Hán – Việt. Những từ ngữ có điệu tính tu từ thấp: Là những từ ngữ được ưu tiên sử dụng trong lời nói đối thoại, tự nhiên trong sinh hoạt hàng ngày. Đó là những từ mộc mạc, bình dị, bắt nguồn từ các lớp từ như: Khẩu ngữ, từ lóng, từ nghề nghiệp, từ địa phương. Còn những từ ngữ không có nghĩa tương liên, từ không nằm trong dãy đồng nghĩa, không đi vào hệ hình từ vựng tu từ. Tuy không phải là những phương tiện tu từ ở cấp độ thấp từ vựng, nhưng chúng ta có thể sử dụng để tạo ra các biện pháp tu từ ở các lớp như: Thuật ngữ từ trong danh mục, từ lịch sự, từ ngoại lai. Các biện pháp tu từ từ vựng là một cách phối hợp sử dụng các đơn vị từ vựng trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn (trong câu, trong chỉnh thể câu) có khả năng đem lại hiệu quả tu từ do mối quan hệ giữa các đơn vị trong ngữ cảnh. Mối quan hệ có tính chất cú đoạn này đứng ở góc độ tu từ học thì rất phong phú và đa dạng. Song nếu sử dụng cách phân loại chức năng do L.Hjelms Lev đưa ra thì có thể tách ra làm ba dạng chính: Quan hệ quy định, quan hệ hòa hợp và quan hệ tương phản. Trong quan hệ quy định: Yếu tố được đánh dấu về tu từ học ở điệu tính cao hay điệu tính thấp được sử dụng trên cái nền của các đơn vị trung hòa về tu từ học đã quy định màu sắc tu từ của toàn bộ phát ngôn. Trong quan hệ hòa hợp: Những đơn vị được đánh dấu về tu từ học trong cùng một lớp tu từ học thuộc một hay nhiều cấp độ ngôn ngữ kết hợp với nhau dẫn được hiện tượng liên tưởng có sức biểu hiện mạnh mẽ. Trong quan hệ tương phản: Những yếu tố được đánh dấu về tu từ học thuộc các lớp tu từ học khác nhau bề ngoài tưởng đối chọi, mâu thuẫn với nhau nhưng thật ra lại thống nhất với nhau một cách biện chứng, có khả năng gợi liên tưởng đến bảm chất của những hình tượng, sự vật, hiện tượng phức tạp. 1.1.4.2. Cấp độ ngữ nghĩa Theo Đinh Trọng Lạc [16] thì: Các phương tiện tu từ ngữ nghĩa là những định danh thứ hai mang màu sắc tu từ của sự vật, hiện tượng. 13 Ví dụ: Nhan đề tập truyện ngắn “Vang bóng một thời” và tên nhan đề truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân được coi là phương tiện tu từ ngữ nghĩa, tức là tên gọi thứ hai bằng hình tượng: Những nho sĩ cuối mùa, những con người tài hoa, bất đắc chí, những nét văn hóa tốt đẹp ngày xưa và nay chỉ còn vang bóng – vang bóng một thời và những con người không chịu a dua theo thời, chạy theo danh lợi mà vẫn cố giữ “thiên lương” và “sự trong sạch của tâm hồn” (Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù). Căn cứ vào loại hình ảnh được sử dụng phương tiện tu từ ngữ nghĩa được chia ra như sau: - Phương tiên tu từ được dùng hình ảnh về lượng gồm: Phóng đại, thu nhỏ, nói giảm... - Phương tiện tu từ dùng hình ảnh về chất gồm: Ẩn dụ, cải danh, nhân hóa, phúng dụ, hoán dụ, tượng trưng... Còn biện pháp tu từ ngữ nghĩa là toàn bộ những cách kết hợp có hiệu quả tu từ theo trình tự tiếp nối của các đơn vị từ vựng (kể cả các phương tiện tu từ) thuộc một cấp độ trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn như: So sánh, đồng nghĩa kép, thế đồng nghĩa, phản ngữ, nghịch ngữ tiệm thế. Ví dụ: Tố Hữu đã sử dụng lối so sánh trong câu thơ sau: Sống trong cát, chết vùi trong cát Những trái tim như ngọc sáng ngời [12] Trong hai câu thơ trên, Tố Hữu đã sử dụng lối so sánh giữa “trái tim” (cái so sánh) với tính chất “sáng ngời” (cơ sở so sánh) qua (từ so sánh) là “như”. Do đó, ta thấy được trái tim – tình yêu thương của người mẹ bao la biển trời được ví như ngọc sáng ngời. 1.1.4.3. Cấp độ cú pháp Các phương tiện tu từ cú pháp là những kiểu câu mang màu sắc tu từ do được cải biến từ những kiểu câu cơ bản (chủ - vị) như kiểu câu rút gọn, mở rộng thành phần hay đảo trật tự. Ví dụ: Kiểu câu đảo trật tự. Đó là một con dao nhỏ nhưng rất sắc [26] 14 Nếu đảo trật tự thành: Đó là một con dao rất sắc nhưng nhỏ thì giá trị biểu cảm về con dao sắc sẽ giảm đi. Các biện pháp tu từ cú pháp là những cách phối hợp sử dụng các kiểu câu để được hiệu quả tu từ trong phạm vi của một đơn vị thuộc bậc cao hơn (trong chỉnh thể trên câu, trong đoạn văn, trong cả văn bản) như sóng đôi, đảo, đối, lặp đầu, lặp cuối, câu hỏi tu từ, tách biệt liên kết tu từ học. Ví dụ: Phép điệp ngữ được dùng để cấu tạo những câu thơ sau: Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa Buồn trông ngọn nước mới xa Hoa trôi man mác biết là về đâu Buồn trông nội cỏ dầu dầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh [14] 1.1.4.4. Cấp độ văn bản Các phương tiện tu từ văn bản là các mô hình văn bản đem lại hiệu quả tu từ do được cải biến từ mô hình văn bản trung hòa (mở đầu, phần chính, kết thúc) như các mô hình mở rộng hay rút gọn hay đảo trật tự thành tố. Còn các biện pháp tu từ văn bản là cách phối hợp sử dụng các mảnh đoạn của văn bản có khả năng đem lại hiệu quả tu từ. Do sự tác động qua lại của các mảnh đoạn này với nhau trên cơ sở ba kiểu quan hệ sau đây: * Quan hệ quy định mảnh đoạn được đánh dấu về tu từ học của văn bản xác định điệu tính tu từ của toàn văn bản. * Quan hệ hòa hợp: Các mảnh đoạn văn bản đồng nhất về màu sắc và phong cách cũng thuộc vào một kiếu mô hình văn bản. * Quan hệ tương phản: Các mảnh đoạn của văn bản có sự khác nhau về đặc trưng tu từ hoặc đặc trưng phong cách. Như vậy ở các cấp độ nào của ngôn ngữ, các biện pháp tu từ cũng cần được phân biệt với phương tiện tu từ ở những đặc điểm sau: Thứ nhất: Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng các đơn vị lời nói trong giới hạn của một đơn vị cao hơn. Còn phương tiện tu từ là những yếu 15 tố ngôn ngữ thuộc các cấp độ khác nhau được đánh dấu về tu từ học trong giới hạn của một cấp độ nào đó của ngôn ngữ. Thứ hai: Ý nghĩa tu từ học của biện pháp tu từ nảy sinh trong ngữ cảnh của một đơn vị lời nói nào đó. Còn ý nghĩa tu từ học của phương tiện tu từ được củng cố ở ngay phương tiện đó. Thứ ba: Ý nghĩa tu từ học của biện pháp tu từ được quy định bởi những quan hệ cú đoạn giữa các đơn vị của một bậc hay của một bậc khác nhau. Còn ý nghĩa tu từ học của biện pháp tu từ được quy định bởi những hệ hình của các yếu tố cùng bậc. Mặc dù giữa các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ có những đặc điểm khác nhau như vậy nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ biện chứng. Một mặt, việc sử dụng các phương tiện tu từ sẽ tạo ra biện pháp tu từ. Mặt khác, việc sử dụng một số biện pháp tu từ nào đó trong lời nói cũng có thể chuyển hóa nó thành một phương tiện tu từ. Đây chính là trường hợp của những cái gọi là so sánh phóng đại đã mòn đi trong thời gian. Hơn nữa cùng một phương tiện tu từ có thể được dùng để xây dựng nên những biện pháp tu từ rất khác nhau. Và ngược lại, những phương tiện tu từ khác nhau có thể cũng tham gia vào việc xây dựng một biện pháp tu từ duy nhất. Việc xác định, phân loại và miêu tả các phương tiện tu từ, cũng như các biện pháp tu từ đạt được những hệ thống nhất quán trong tất cả các hệ thống ngôn ngữ sẽ giúp chúng ta ý thức được sự tồn tại của những phương tiện tu từ trong thể đối lập (tu từ học) với những phương tiện trung hòa, đồng thời còn giúp chúng ta thấy được tầm quan trọng nổi bật của sự đối lập, quen thuộc, mới mẻ của những biện pháp thông thường và biện pháp đặc biệt (tức biện pháp tu từ). Lẽ tất nhiên, sự lựa chọn sử dụng các phương tiện tu từ và các biện pháp tu từ ở người sử dụng ngôn ngữ (nhất là các nhà thơ, nhà văn) luôn luôn là sự sáng tạo không ngừng. Song, cũng không nên nghĩ rằng phải luôn luôn dùng những hình thức bóng bẩy, gợi cảm mới hay, là độc đáo, là ấn tượng… Bởi vì, trình độ cao trong việc sử dụng ngôn ngữ không phải chỉ biểu hiện ở chỗ biết nhiều, dùng nhiều phương tiện tu từ, biện pháp tu từ chủ yếu là tỏ rõ khả năng sử dụng lựa chọn các phương tiện tu từ, biện pháp tu từ, phương tiện ngôn ngữ phù hợp với đặc trưng của từng phong cách chức năng. Dễ thấy điều này trong các tác phẩm văn chương của các nhà thơ, nhà văn. Có những tác giả sử dụng nhiều các phương tiện tu từ, biện pháp tu từ trong tác phẩm để làm tăng giá trị cho tác phẩm cả về mặt nội dung cũng như hình thức như: Nguyễn Tuân, Hồ Xuân Hương, Xuân Quỳnh, Huy Cận, Xuân Diệu… 16 Bên cạnh đó, có những tác phẩm chỉ sử dụng phương tiện tu từ như “đòn bẩy”, như một thủ pháp “vẽ mây nảy trăng” đúng lúc, đúng chỗ và lựa chọn phù hợp với từng phong cách cũng dem lại những giá trị biểu đạt, biểu cảm, gợi liên tưởng sâu sắc, độc đáo. Mặc dù giữa phương tiện tu từ và biện pháp tu từ có những đặc điểm khác nhau như vậy nhưng chúng lại có những yếu tố vô cùng có ý nghĩa góp phần làm cho tác phẩm văn chương đa sắc màu và có được chỗ đứng vững trãi trong sự sàng lọc của thời gian. 1.1.5. P â tíc t từ ọc Phong cách học, như đã biết, là khoa học về các nguyên tắc, các quy luật nói và quy luật viết có quy luật cao. Muốn chỉ ra được nguyên tắc và quy luật như thế, phong cách học phải bắt đầu từ việc phân tích mức độ hiệu lực của từng sự biểu đạt cụ thể. Sự phân tích này thực chất là sự phân tích ngôn ngữ trong khía cạnh tu từ học. Nét khu biệt của văn bản nghệ thuật là ở chỗ nó không chỉ chứa đựng nghĩa đen, sự vật lôgic mà còn bao hàm nghĩa nghệ thuật thẩm mĩ. Nghĩa nghệ thuật thẩm mĩ này không thể quan niệm được về mặt ngữ nghĩa độc lập với hình thức ngôn ngữ đã cho. Bởi sự thay đổi hình thức ngôn ngữ bao giờ cũng kéo theo sự phá hủy cái nghĩa nghệ thuật cụ thể hoặc tạo lập ra một nghĩa nghệ thuật mới. Quan niệm như trên về nghĩa nghệ thuật – thẩm mĩ của văn bản nghệ thuật có thể đi đến một cách hiểu về sự phân tích tu từ học như sau: Phân tích tu từ học là phân tích quá trình lựa chọn và kết hợp và các phương tiện ngôn ngữ, chỉ ra ý nghĩa tu từ học của sự lựa chọn và kết hợp với sự biểu đạt. Song, sự phân tích tu từ của các phương tiện tu từ, mà còn tiến lên tìm hiểu sự tác động của các giá trị ngôn ngữ lên giá trị văn học. Chỉ ra được mối liên quan giữa hệ thống tu từ và hệ thống hình tượng phân tích được giá trị nghệ thuật thẩm mĩ của các sự kiện tu từ. Phương pháp cơ bản trong phân tích tu từ học là phép đối chiếu, so sánh thay thế những phương pháp đồng nghĩa khác nhau tương đương với sự biểu đạt trong văn bản (nghệ thuật chính luận), trên cơ sở đó rút ra sự giống nhau giữa chúng để xác định đúng đắn nghĩa tu từ, giá trị thẩm mĩ cho mỗi hình thức đồng nghĩa. Ví dụ: Trong văn bản chính luận Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi. 17
- Xem thêm -