Tài liệu Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học văn học dân gian việt nam ở trường trung học phổ thông

  • Số trang: 160 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 2410 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ---------- Nguyễn Thị Hằng SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Thành phố Hồ Chí Minh - 2011 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH __________ Nguyễn Thị Hằng SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học môn Văn Mã số : 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP Thành phố Hồ Chí Minh – 2011 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung của luận văn này hoàn toàn được hình thành và phát triển từ những quan điểm của chính cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Ngọc Điệp. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hằng Lời cảm ơn Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Điệp, người đã dành nhiều thời gian,sự tận tâm để hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Hơn lúc nào hết,tôi muốn gửi tấm lòng thành kính tới cô Nguyễn Thị Hồng Hà, người hướng dẫn đầu tiên của tôi, người đã cho tôi nguồn động viên tinh thần sâu sắc và bài học quý báu về tinh thần lạc quan,tình yêu cuộc sống. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ, góp ý tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, đặc biệt các bạn trong lớp Cao học K19, những người đã chia sẻ nhiều thăng trầm, khó khăn trong suốt thời gian học tập tại đại học Sư phạm TP.HCM. Nhân đây, tôi cũng xin cảm ơn trường THPT Tôn Đức Thắng đã tạo điều kiện về thời gian để tôi có thể hoàn thành chương trình học của mình. Cuối cùng, tôi xin gửi lòng biết ơn tới gia đình thân yêu đã luôn bên cạnh tôi trong mọi thời điểm,cho tôi sức mạnh tinh thần to lớn để vượt qua mọi khó khăn. TPHCM, tháng 12 năm 2011 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hằng MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng, biểu Danh mục hình vẽ MỞ ĐẦU ............................................................................................................1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN................................................9 1.1.Đổi mới PPDH ở Việt Nam ...............................................................................9 1.1.1.Xu hướng đổi mới PPDH ở Việt Nam trong những năm gần đây ..........9 1.1.2. Đổi mới PPDH Ngữ văn ở trường THPT ............................................10 1.2. Lý thuyết về SĐTD.........................................................................................10 1.2.1. Khái niệm SĐTD..................................................................................10 1.2.2. Thiết kế SĐTD .....................................................................................11 1.2.3. Tác dụng của SĐTD trong việc ghi chú ...............................................22 1.3. Văn học dân gian trong trường phổ thông ......................................................26 1.3.1. Những nét khái quát về VHDG ............................................................26 1.3.2. VGDG trong trường phổ thông ............................................................28 CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC VHDG VIỆT NAM ...........................................35 2.1. Ứng dụng của SĐTD trong giảng dạy ............................................................35 2.1.1 Ứng dụng của SĐTD đối với GV..........................................................35 2.1.2. Ứng dụng của SĐTD đối với HS .........................................................37 2.1.3. Các loại SĐTD .....................................................................................39 2.2. Sử dụng SĐTD trong dạy VHDG Việt Nam ..................................................39 2.2.1. SĐTD trong dạy học tác phẩm TSDG .................................................39 2.2.2. Sử dụng SĐTD trong dạy bài “Khái quát VHDG Việt Nam”và “Ôn tập VHDG Việt Nam” ......................................................................................................60 2.3. Những chú ý khi sử dụng SĐTD trong dạy học .............................................68 2.3.1 Không xem SĐTD như phương pháp duy nhất trong dạy học .............68 2.3.2. Kết hợp sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học ...........................71 2.3.3.Tránh tính hình thức trong việc lập và sử dụng SĐTD .........................71 2.3.4. Cần có sự thống nhất giữa hoạt động dạy của GV ...............................72 và hoạt động học của HS ................................................................................72 CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ..........................................................73 3.1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm ...................................................................73 3.1.1. Mục đích thực nghiệm..........................................................................73 3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm .........................................................................73 3.2. Lập kế hoạch thực nghiệm..............................................................................73 3.2.1.Hoạch định trường THPT và GV thực nghiệm sư phạm ......................73 3.2.2. Trao đổi với GV dạy thực nghiệm sư phạm.........................................74 3.2.3.Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ...............................................74 3.2.4. Chọn bài lên lớp thực nghiệm sư phạm ...............................................74 3.3. Thiết kế bài học thực nghiệm .........................................................................75 3.3.1. Bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam” .......................................75 3.3.2. Truyện cổ tích “ Tấm Cám” .................................................................79 3.4. Đánh giá thực tiễn giờ dạy học thực nghiệm ..................................................84 3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm ........................................................................89 3.5.1. Biện pháp đánh giá ...............................................................................89 3.5.2. Kết quả thực nghiệm – nhận xét đánh giá ............................................89 KẾT LUẬN ..........................................................................................................95 TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................99 PHỤ LỤC ........................................................................................................103 DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN VHDG : văn học dân gian SĐTD : sơ đồ tư duy PPDH: : phương pháp dạy học GV : giáo viên HS : học sinh THPT : trung học phổ thông TSDG : tự sự dân gian TN : thực nghiệm ĐC : đối chứng SGK : sách giáo khoa DANH MỤC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN 1 Bảng 1.1 2 Bảng 3.1 3 Bảng 3.2 Thống kê đơn vị bài học VHDG trong SGK Ngữ văn 34 10 Kết quả khảo sát ý kiến HS sau khi dạy xong bài 100 “Khái quát VHDG Việt Nam” và bài “Tấm Cám” Kết quả kiểm tra 15 phút 103 4 Bảng 3.3 Tỉ lệ đạt được ở bài thực nghiệm 15 phút 5 6 7 Bảng 3.4 Bảng 3.5 Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra 45 phút 104 Tỉ lệ đạt được của thực nghiệm 45 phút 105 Bảng tổng hợp so sánh kết quả giữa hai bài thực 105 nghiệm và đối chứng 104 DANH MỤC HÌNH VẼ TRONG LUẬN VĂN 1 Hình 1.1 Mô hình SĐTD của tác giả Tony Buzan 20 2 3 Hình 1.2 Hình 1.3 SĐTD dạy “Truyện Kiều” của thầy Hoàng Đức Huy SĐTD dạy “Nhật Kí trong tù” của thầy Hoàng Đức 21 21 Huy 4 Hình 1.4 5 6 7 8 Hình 1.5 Hình 1.6 Hình 1.7 Hình 1.8 SĐTD học « Truyện dân gian » lớp 9 (HS thiết kế nguồn Internet) SĐTD môn Sinh (HS thiết kế - nguồn Internet) SĐTD môn Toán của TS. Trần Đình Châu SĐTD môn Vật lí (HS thiết kế - nguồn Internet) SĐTD môn Hóa học (Cô Nguyễn Thị Khoa trường 22 22 23 23 24 Quang Trung – Bình Phước) 9 Hình 1.9 Ví dụ về Grap dạy học ( nguồn Internet) 27 10 11 12 13 14 Hình 1.10 Hình 2.1 Hình 2.2 Hình 2.3 Hình 2.4 Một ví dụ về bản đồ khái niệm SĐTD tóm tắt sử thi “ Đăm Săn” SĐTD tóm tắt truyện “Tấm Cám” SĐTD tóm tắt truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” SĐTD dạy nhân vật An Dương Vương 28 52 53 54 58 15 Hình 2.5 SĐTD “ Cuộc chiến giữa Đăm Săn và Mtao Mxây” 60 16 Hình 2.6 64 17 18 19 Hình 2.7 Hình 2.8 Hình 2.9 20 Hình 2.10 21 Hình 2.11 22 23 24 Hình 2.12 Hình 2.13 Hinh 2.14 SĐTD “Diễn biến mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám” SĐTD bài “Nhưng nó phải bằng hai mày” SĐTD khái quát bài học “Chiến thắng Mtao Mxây” SĐTD khái quát bài “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ” SĐTD lập dàn ý đề bài “Phân tích nhân vật Đăm Săn qua đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây” SĐTD bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam”( HS vẽ) SĐTD bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam” SĐTD khái quát truyện dân gian (tác phẩm tự sự) SĐTD lập kế hoạch hoạt động ngoại khóa VHDG 25 Hình 3.1 SĐTD khái quát đặc trưng truyện cổ tích thần kì 96 63 64 65 68 70 71 75 76 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) đang là vấn đề mà ngành Giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung đặc biệt quan tâm và đang được thực hiện ở nước ta trong những năm gần đây. Một trong những yêu cầu của đổi mới phương pháp như Luật giáo dục 2005, chương I, điều 24 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh (HS); phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho mỗi HS”. Việc dạy học Ngữ văn nói chung và dạy văn học dân gian (VHDG) nói riêng không nằm ngoài yêu cầu đổi mới đó. Trong thực tế hiện nay, đối với các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng, mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới PPDH song tình trạng đọc chép trong giờ học vẫn còn khá phổ biến. Giáo viên (GV) trong giờ dạy vẫn còn truyền thụ một chiều, chưa thực sự phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS. Bản thân HS vẫn còn thụ động, vẫn còn “nói theo thầy”, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kỹ năng tư duy. GV chưa mang đến cho HS phương pháp học tập hiệu quả, đặc biệt chưa gúp HS phát triển khả năng tự học. 1.2. VHDG là bộ phận quan trọng trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông, đóng vai trò to lớn trong việc bồi dưỡng tâm hồn HS, cung cấp cho các em kiến thức rộng lớn về đời sống các dân tộc…Tuy vậy VHDG là những sáng tác có khoảng cách xa so với thực tại, chứa đựng những tư duy, những quan niệm thẩm mĩ của người xưa,… là những khó khăn lớn đối với người học nội dung văn học này. Hơn nữa, với dung lượng kiến thức lớn, khả năng phủ rộng tới nhiều lĩnh vực cuộc sống, nhưng lại bị hạn chế trong thời gian 1 – 2 tiết học trong nhà trường phổ thông phần nào khiến GV khi dạy nội dung này vẫn chưa đạt được tới đích của việc dạy bài học VHDG. Mặt khác, việc dạy VHDG trong trường phổ thông chưa thật sự khơi gợi được hứng thú cho HS, GV dạy trên tinh thần “cho xong bài”, HS vẫn xem nhẹ việc học VHDG. Từ thực tế này đòi hỏi GV Ngữ văn cần lựa chọn phương pháp – phương tiện dạy học phù hợp với nội dung VHDG, nhằm tổ chức, định hướng cho HS thu thập thông tin, chinh phục kho tàng tri thức một cách hiệu quả. 1.3. Như vậy việc phát triển tư duy cho HS, hướng các em đến một phương pháp học tập tích cực, chủ động và sáng tạo là chuyện nên làm. GV không chỉ cung cấp cho các em kiến thức mà quan trọng hơn phải giúp các em “học cách học”, không chỉ giúp HS khám phá các kiến thức mới mà còn phải giúp các em hệ thống được những kiến thức đó. Việc xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” là Sơ đồ tư duy hay còn gọi là Bản đồ tư duy (Mind map). Sơ đồ tư duy (SĐTD) là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trường phổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp GV và HS trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới, vv… Trên cơ sở tổng kết những vấn đề cơ bản của lý thuyết SĐTD mà Tony Buzan đã tạo dựng, hệ thống hóa đặc điểm nội dung phần VHDG trong chương trình Ngữ văn lớp 10, tập 1, ban cơ bản, với mong muốn sử dụng thành thạo, hiệu quả SĐTD trong dạy học môn Ngữ văn nói chung và VHDG nói riêng để mang lại kết quả tốt trong phương thức học tập của HS, phương pháp giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp, chúng tôi tập trung nghiên cứu đề tài “SỬ DỤNG SĐTD TRONG DẠY VÀ HỌC VHDG VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THPT”. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2.1. Đề tài nghiên cứu về vấn đề sử dụng SĐTD vào dạy và học VHDG Việt Nam ở trường THPT. 2.2. VHDG là một bộ phận cùng với văn học viết cấu thành văn học Việt Nam, chính vì vậy VHDG là một mảnh đất rộng lớn khơi gợi nhiều vấn đề nghiên cứu rất lý thú và giàu ý nghĩa. Việc sử dụng SĐTD vào VHDG là rất cần thiết, tuy vậy trong phạm vi luận văn chúng tôi không thể khảo sát được việc sử dụng SĐTD ở tất cả các thể loại, các tác phẩm trong chương trình VHDG mà chỉ khảo sát trên nhóm tác phẩm tự sự dân gian (TPTSDG) và dạng bài khái quát, ôn tập VHDG trong chương trình Ngữ văn 10 ban cơ bản, tập 1. Mặt khác chúng tôi chỉ chọn những phần kiến thức này vì SĐTD không phải lúc nào cũng sử dụng phù hợp cho tất cả bài học, nhóm TPTSDG và dạng bài khái quát, tổng kết VHDG là những bài học đòi hỏi tính khái quát, hệ thống vấn đề khá cao và việc sử dụng SĐTD vào dạy học những bài này là phù hợp. Chúng tôi tiến hành khảo sát thực nghiệm ở khối 10 thuộc hai trường là: Trường THPT Tôn Đức Thắng và trường THPT Đoàn kết, đây là hai trường thuộc huyện Tân Phú – Đồng Nai. Trường THPT Tôn Đức Thắng điểm tuyển đầu vào thấp, trường THPT Đoàn Kết điểm tuyển đầu vào khá cao đồng thời cũng là một trong những trường có chất lượng cao của tỉnh Đồng Nai, việc thực nghiệm ở hai trường này sẽ thuận lợi cho việc đánh giá kết quả. 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3.1. Trên thế giới Tony Buzan là người sáng tạo ra phương pháp tư duy Mind Map (Sơ đồ tư duy) từ những năm 70 của thế kỉ XX. Tony Buzan từng nhận bằng Danh dự về tâm lý học, văn chương Anh, toán học và nhiều môn khoa học tự nhiên của trường ĐH British Columbia năm 1964. Tony Buzan là tác giả hàng đầu thế giới về não bộ. Ông đã viết 92 đầu sách và được dịch ra trên 30 thứ tiếng, với hơn 3 triệu bản, tại 125 quốc gia trên thế giới. Tony Buzan được biết đến nhiều nhất qua cuốn “Use your head”. Trong đó, ông trình bày cách thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng với các phương pháp SĐTD. Những cuốn sách nổi tiếng của Tony Buzan về SĐTD đã được dịch sang tiếng Việt là: Tony & Barry Buzan (2008), Bản đồ Tư duy, (Lê Huy Lâm dịch), NXB Tổng hợp TPHCM. Tony BuZan (2008), Lập bản đồ tư duy, NXB Alphabooks & NXB Trí Thức. Tony Buzan (2008), Sử dụng trí tuệ của bạn, (Lê Huy Lâm dịch), NXB Tổng hợp TPHCM. Tony Buzan ( 2008), Sách dạy đọc nhanh, (Lê Huy Lâm dịch), NXB Tổng hợp TPHCM. Tony Buzan (2008), Sử dụng trí nhớ cuả bạn, (Lê Huy Lâm dịch), NXB tổng hợp TPHCM. Năm 1975, Joyce Wycoff đã kết hợp chặt chẽ với Buzan để phát triển SĐTD thành công cụ tư duy hiệu quả, và bà đã viết cuốn sách “Ứng dụng Bản đồ tư duy để khám phá tính sáng tạo và giải quyết vấn đề”. Cuốn sách nhằm phổ biến phương pháp SĐTD, chứng minh tính ứng dụng thực tiễn của nó trong cuộc sống. Bốn tác giả Jean – Luc Deladriere; Frederic Le Bihan; Pierre Mongin; Dennis Rebaud cũng đã viết cuốn “Sắp xếp ý tưởng với Sơ đồ tư duy” (Trần Chánh Nguyên dịch), NXB Tổng hợp TPHCM, đã chỉ ra rất rõ thế mạnh của SĐTD trong cuộc sống cũng như học tập. Năm 2007, cuốn “Tôi tài giỏi bạn cũng thế” của Adam khoo đã được Trần Đăng Khoa và Uông Xuân Vy dịch sang tiếng Viêt. Adam khoo đã từng là một cậu bé học hành kém cỏi với kết quả thi cử thảm hại, nhưng với phương pháp học bằng SĐTD, không những anh đã vươn lên để đạt đuợc kết quả xuất sắc trong các kỳ thi cuối cấp hai và cấp ba, anh còn được xếp hạng trong số 1% sinh viên tài năng nhất của trường Đại học Quốc gia Singapore và trở thành tỷ phú của Singapore khi còn rất trẻ. “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế” tổng hợp những kỹ năng và phương pháp đã mang tới thành công vượt bậc cho cậu bé Adam kém cỏi. Một trong những phương pháp mang lại thành công cho Adam khoo chính là áp dụng công cụ học bằng SĐTD, chương 7 của cuốn sách trình bày khá rõ về SĐTD. 3.2. Ở Việt Nam Việc nghiên cứu về SĐTD cũng như những ứng dụng của SĐTD trong giảng dạy và học tập trong những năm gần đây đã có sự phát triển. Đã có những ứng dụng trong thực tế của các GV và HS, đồng thời cũng có những nghiên cứu thành dự án của Bộ Giáo dục – Đào tạo. Tuy vậy việc sử dụng SĐTD trong giảng dạy và học tập vẫn chưa trở thành hệ thống rộng khắp trong cả nước. Tháng 3 năm 2006, chương trình Thời sự Đài Truyền hình Việt Nam đã thực hiện một phóng sự về hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phổ biến SĐTD của nhóm Tư duy mới (New Thinking Group - NTG) khi nhóm đang thực hiện dự án “Ứng dụng công cụ hỗ trợ tư duy – Bản đồ tư duy” cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội. Dự án đã nhận được sự ủng hộ sâu rộng từ lãnh đạo Đại học Quốc gia Hà Nội, lãnh đạo Viện Nghiên cứu Con người, các thầy cô giáo và đông đảo học sinh sinh viên. Những đề tài nghiên cứu khoa học về ứng dụng SĐTD trong làm viêc theo nhóm, trong học ngoại ngữ, học các môn xã hội khác đã đạt giải cao tại các trường thành viên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong chuyến thăm Việt Nam của Tony Buzan năm 2007 và cuộc trò chuyện cùng nhà báo Tạ Bích Loan trong chương trình “Người đương thời” vào tháng 4 năm đó trên VTV1, có lẽ hình ảnh của Tony Buzan cùng với SĐTD nay đã không còn quá xa lạ với nhiều người Việt Nam. Trần Đăng Khoa và Uông Xuân Vy là dịch giả của cuốn sách “Tôi tài giỏi bạn cũng thế”, đã cùng một số thành viên khác sáng lập ra công ty Thế giới mới (TGM), với những hoạt động khá sôi nổi có liên quan tới SĐTD, mọi người người có thể tham gia trao đổi về SĐTD cũng như tham dự cuộc thi vẽ SĐTD theo chủ đề một cách thoải mái trên Website www.vuontoithanhcong.com. Đồng thời khóa học “Tôi tài giỏi” của công ty TGM có giảng dạy về SĐTD thu hút rất đông các bạn trẻ tham dự trên địa bàn TPHCM. Ngành Giáo dục đã có ứng dụng SĐTD vào dạy học, cụ thể: “Dự án phát triển Giáo dục – Bộ Giáo dục – Đào tạo THCS 2” do tiến sĩ Trần Đình Châu làm Giám đốc đã triển khai chương trình “Sử dụng Bản đồ tư duy góp phần dạy học tích cực và hỗ trợ công tác quản lí nhà trường”. Từ năm 2006 đến 2009 nhóm nghiên cứu của Dự án THCS 2 và Viện Khoa học Giáo dục đã ấp ủ, nghiên cứu, thử nghiệm thành công thiết kế BĐTD trong dạy học ở một số trường ở Hà Nội, Bắc Giang. Sau đó nhóm nghiên cứu đã “trình làng” kết quả nghiên cứu bằng một đề tài khoa học. Nhiều bài báo khoa học của nhóm nghiên cứu này được công bố ở một số Tạp chí Khoa học và tờ báo chuyên ngành có uy tín đã thu hút sự quan tâm và áp dụng vào dạy học của nhiều GV và cán bộ quản lí giáo dục khắp cả nước như: - Trần Đình Châu, “Sử dụng Bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả hỗ trợ HS học tập môn Toán”, Tạp chí Giáo dục kì 2, tháng 9 – 2009. - Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, “Sử dụng bản đồ tư duy góp phần tích cực hóa hoạt động của HS”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số chuyên đề Thiết bị dạy học năm 2009. - Đặng Thị Thu Thủy, “Hướng dẫn sử dụng phần mềm bản đồ tư duy”, Tạp chí Thiết bị giáo dục, tháng 11/ 2009. - Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, “Tổ chức hoạt động dạy học với Bản đồ tư duy”, Giáo dục & thời đại, số 184, 185, ngày 18,19/ 11/2010. - Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, “Thiết kế Bản đồ tư duy dạy học kiến thức mới trong môn Toán”, Tạp chí Giáo dục, kì 2, tháng 12/ 2010. - Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, “Thiết kế Bản đồ tư duy dạy – học môn Toán dùng cho GV và HS THPT”, NXB Giáo dục Việt Nam, tháng 4/ 2011. Nói về SĐTD trong dạy và học, kết quả thu về từ những GV tham gia dạy thử nghiệm mà Dự án THCSII triển khai ở trường THCS Đống Đa, THCS Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai (Hà Nội), nhiều trường ở huyện Lạng Giang (Bắc Giang), huyện Hương sơn (Hà Tĩnh), 35 trường THCS tham gia Dự án ở Bắc Kạn, Lào Cai, Lai Châu cho rằng PPDH mới này sẽ trợ giúp cho HS sử dụng sức mạnh của bộ não để học và ghi nhớ những gì đã học. Quan trọng hơn, phương pháp học này làm cho bài học được trình bày một cách sáng tạo, khiến cho cả thầy và trò đều thấy lý thú. Trong Hội thảo khoa học: “Ứng dụng công nghệ thông tin vào đào tạo GV tiểu học” khoa Giáo dục tiểu học – Đại học Sư phạm TPHCM, ngày 5 tháng 10 năm 2007, Thạc sĩ Trương Tinh Hà – khoa Vật lý của trường trình bày chuyên đề “Giảng dạy và học tập với công cụ Bản đồ tư duy”. Năm 2009, thầy Bùi Phương Thanh Huấn, giảng viên trường Đại học Cần Thơ đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài “Đổi mới phương pháp dạy học Hóa học ở trường trung học phổ thông vùng đồng bằng sông Cửu Long”. Đây là luận án tiến sĩ Giáo dục học nghiên cứu về lý luận và PPDH bộ môn Hóa học bằng SĐTD của Tony Buzan nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Hóa học ở trường THPT vùng ĐBSCL. Luận án đã chỉ ra những ứng dụng cụ thể của SĐTD để sơ đồ hóa giáo án Hóa học của GV bằng phần mềm Mindjet MindManager Pro7, kết hợp tổ chức dạy học SĐTD với phương pháp grap và algorit và vận dụng SĐTD để sơ đồ hóa phương pháp tự học tập hóa học của HS. Luận án đã khẳng định việc sử dụng SĐTD vào dạy học Hóa học rất phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất hiện nay ở các trường THPT, đáp ứng được chủ trương tin học hóa nhà trường phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đối với môn Văn, điển hình áp dụng SĐTD là ông Hoàng Đức Huy. Ông Huy đã áp dụng rất thành công ở trung tâm Giáo dục thường xuyên (GDTX) quận 4 và trường THPT Tư thục Nguyễn Khuyến - TP.HCM năm học 2008-2009. Ông đã thành lập website www.hoangduchuy.com để HS cùng lên học, trao đổi kinh nghiệm về SĐTD, đồng thời xuất bản cuốn sách “Bản đồ tư duy đổi mới dạy học”. Cuốn sách đã hướng dẫn chi tiết cách vẽ SĐTD và ứng dụng của SĐTD ở các cấp học từ bậc mầm non tới trung học, đặc biệt chú trọng nhiều tới việc sử dụng SĐTD trong dạy văn ở bậc trung học cơ sở. Cuốn sách đưa ra những đề tài có thể sử dụng SĐTD phù hợp như: tác phẩm tự sự (VD: bài “Bánh chưng bánh giầy” ở lớp 6; “Cô bé bán diêm” lớp 8,…); tác phẩm trữ tình (VD: bài “Đêm nay Bác không ngủ” lớp 6; “Bánh trôi nước” lớp 7, “Nhật kí trong tù” lớp 8,…). Đồng thời cũng cho những ví dụ về SĐTD ở thể loại VGDG bậc trung học cơ sở đó là: truyền thuyết (VD: Thánh Gióng; Sơn Tinh Thủy Tinh; Sự tích Hồ Gươm); truyện cổ tích (VD: Sọ Dừa, Thạch Sanh, Em bé thông minh); truyện ngụ ngôn (Thầy bói xem voi),… SĐTD cũng được sử dụng phù hợp trong các kiểu văn bản như: văn bản nghị luận; văn bản thuyết minh. Nhìn chung, ông Hoàng Đức Huy đã chỉ ra những ứng dụng rộng rãi của SĐTD trong mọi cấp học, việc sử dụng SĐTD đối với môn Văn cũng khá đa dạng ở các thể loại. Tuy nhiên, ở mỗi thể loại ông mới đưa ra các ví dụ, chưa cụ thể hóa một cách chi tiết bằng hệ thống lí thuyết. Báo Tuổi trẻ ngày 4 tháng 11 năm 2008 đăng bài viết “Dạy Văn bằng Bản đồ tư duy” nói về việc ứng dụng SĐTD trong dạy học của ông Hoàng Đức Huy. Tháng 11 năm 2008, Đài truyền hình Việt Nam VTV9 đã ghi hình hai tiết học Văn có sử dụng SĐTD của ông. Theo ông Phạm Chí Dũng – Phòng Giáo dục thường xuyên – Sở GDĐT TP.HCM: “SĐTD rất phù hợp khi áp dụng vào giảng dạy vì giúp giảm tải chương trình, HS dễ hiểu, dễ nhớ, dễ học. Sở Giáo dục Đào tạo không chỉ nhân rộng trong hệ Giáo dục thường xuyên mà cả hệ phổ thông”. Như trên đã nói việc nghiên cứu và ứng dụng SĐTD ở Việt Nam nhìn chung bước đầu phát triển tuy vậy vẫn chưa thật sự phổ biến, hi vọng trong tương lai không xa, SĐTD sẽ được áp dụng rộng rãi ở mọi cấp học như một phương pháp mới, hiệu quả. 4. Phương pháp nghiên cứu Để giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn, chúng tôi đã kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong việc nghiên cứu, xử lý các tài liệu liên quan đến SĐTD, VHDG, việc đổi mới PPDH. Từ chỗ đọc, phân tích, rồi tổng hợp để đi đến xác lập những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài. Phương pháp điều tra, khảo sát: Phương pháp này được sử dụng khi thu thập thông tin, nắm bắt thực tế nhằm đánh giá về phương pháp học tập, khả năng tiếp nhận tác phẩm văn chương của HS trong quá trình tiếp cận tác phẩm. Từ đó, xác lập những thông số về thực tiễn dạy học ở trường phổ thông và năng lực của HS. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình thực hiện đề tài như thiết kế giáo án, tổ chức dạy học thực nghiệm. Phương pháp này giúp cho việc kiểm tra tính đúng đắn, hợp lý, tính khả thi của đề tài khi áp dụng vào thực tiễn. Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp này để thống kê kết quả khảo sát và và kết quả thực nghiệm, từ đó đưa ra những kết luận chính xác nhất. Phương pháp so sánh đối chiếu: Phương pháp này nhằm so sánh đối chiếu việc dạy sử dụng SĐTD có mang lại hiệu quả so với các cách dạy học khác, đồng thời so sánh hiệu quả đạt được khi vận dụng SĐTD với những đối tượng HS khác nhau. Từ đó rút ra những mặt mạnh và hạn chế khi sử dụng SĐTD trong trường phổ thông. 5. Đóng góp của luận văn Việc nghiên cứu về SĐTD trên thế giới không phải là mới lạ, ngay từ những năm 70 của thế kỉ XX Tony Buzan đã có hàng loạt công trình về SĐTD, tuy nhiên ở Việt Nam, SĐTD vẫn còn là khái niệm mới mẻ với nhiều người. Sử dụng SĐTD trong giảng dạy và học tập đã có tại Việt Nam trong những năm gần đây, nhưng vẫn chưa thật sự phổ biến. Với đề tài “Sử dụng SĐTD trong dạy và học VHDG trong nhà trường THPT”, dù mới bước đầu thử nghiệm, chúng tôi cũng mong muốn góp phần đưa SĐTD vào sử dụng rộng rãi và có hệ thống hơn trong trường học nói chung, môn Ngữ văn nói riêng và đặc biệt là VHDG. Trước hết, đối với công tác nghiên cứu khoa học, chúng tôi mong muốn sẽ góp phần nhỏ bé thúc đẩy sự phát triển của các PPDH tích cực đang được sử dụng trong những năm gần đây. Cụ thể là hệ thống hóa lý thuyết về SĐTD, chỉ ra những ứng dụng của SĐTD trong giảng dạy VHDG, xây dựng quy trình bài giảng VHDG có sử dụng SĐTD. Thứ hai, đối với công tác giảng dạy, VHDG là bộ phận quan trọng trong bộ môn Ngữ văn. Việc sử dụng SĐTD trong dạy và học VHDG sẽ giúp GV có một phương pháp giảng dạy mới tránh tình trạng đọc chép, phát huy cao khả năng sáng tạo của GV. Mặt khác việc sử dụng SĐTD trong giảng dạy sẽ giúp HS “học cách học”, HS có thể tự học với SĐTD, tăng cường khả năng sáng tạo và tư duy logic, phát huy tính chủ động tích cực của riêng mình. 6. Bố cục luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương. Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Thiết kế và sử dụng SĐTD vào dạy học VHDG Việt Nam Chương 3: Thực nghiệm sư phạm Ngoài ra, luận văn còn có phần Phụ lục giới thiệu thêm hai giáo án thực nghiệm; phiếu tham khảo ý kiến GV và HS và một số SĐTD do HS thiết kế trong quá trình thực nghiệm sư phạm. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1.Đổi mới PPDH ở Việt Nam 1.1.1.Xu hướng đổi mới PPDH ở Việt Nam trong những năm gần đây Giáo dục Việt Nam đã phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử, đặc biệt từ Cách mạng tháng Tám đến nay, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo đã đạt được nhiều thành tựu: nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào quá trình đấu tranh, giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Giáo dục của chúng ta đã qua ba lần cải cách (năm 1950, 1956, 1980), những lần cải cách đó chỉ tập trung vào thay đổi mục tiêu, chương trình, nội dung mà chưa đề cập trực diện đến đổi mới phương pháp giáo dục. Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông năm 2002 là một chủ trương lớn đã thực sự được chuẩn bị từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, đặc biệt là từ sau khi ban hành nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội khóa X. Lần đổi mới này là một quá trình đổi mới toàn diện mà một trong những trọng tâm của nó là tập trung đổi mới PPDH, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động của HS với sự tổ chức hướng dẫn đúng mực của GV. Tiếp tục tận dụng các ưu điểm của PPDH truyền thống, dần dần làm quen với những PPDH mới và hiện đại đang được áp dụng ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới. Trong sự nghiệp phát triển đất nước, nền Giáo dục quốc dân cần phải có những đổi mới phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội, Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về việc tiếp tục đổi mới sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học, kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường và xã hội, áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực sáng tạo, năng lực giải quết vấn đề…”, từ đó đặt ra nhiệm vụ cấp thiết cho ngành Giáo dục cần phải đổi mới PPDH để đào tạo con người mới có đủ khả năng sống và làm việc theo yêu cầu của cuộc cách mạng lớn hiện nay: cách mạng truyền thông và công nghệ thông tin, cách mạng khoa học và công nghệ. Một trong những đổi mới ngành Giáo dục cần phải thực hiện đó là đổi mới PPDH bằng hoạt động hoá người học, hay hướng vào người học trong việc tổ chức quá trình lĩnh hội tri thức theo quan điểm “lấy HS làm trung tâm”, theo hướng này GV chỉ đóng vai trò là người tổ chức và điều khiển, hướng dẫn HS chiếm lĩnh tri thức khoa học, tự lực hoạt động, tìm tòi và sáng tạo để giành lấy kiến thức mới. 1.1.2. Đổi mới PPDH Ngữ văn ở trường THPT Xu hướng dạy văn hiện nay là phát huy tính chủ động, tích cực ở HS, tránh tình trạng đọc chép. Vào đầu thế kỉ XX, thế giới đã bắt đầu đề cập đến “thị hiếu”, “công chúng” trong văn học. Khái niệm tác phẩm văn học theo quan niệm của mĩ học tiếp nhận phải là: Tác phẩm văn học = văn bản + sự tiếp nhận của độc giả. Từ thành tựu của lí luận tiếp nhận văn học hiện đại cho thấy việc tiếp nhận văn học không còn là sự tiếp nhận thụ động của chủ thể mà là sự tiếp nhận tích cực, tác động trở lại khâu sáng tác của tác giả. Chính vì vậy trong nhà trường HS là một đối tượng bạn đọc độc lập, có thể đóng vai trò người đọc tích cực để lĩnh hội, khám phá những thông tin từ tác phẩm cũng như tư tưởng, tình cảm trong thông điệp của nhà văn. Vậy nên PPDH cần phải phát huy tính chủ động, tích cực của HS. Trong những năm gần đây, với xu hướng đổi mới dạy học nói chung, việc dạy học văn đã có sự chuyển biến rõ rệt về phương pháp. Các phương pháp truyền thống không mất đi hoàn toàn mà kết hợp với các phương pháp khác để việc học văn đạt hiệu quả cao, đó là các phương pháp như: dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm, thuyết trình, ngoại khóa…Nhìn chung tất cả các phương pháp nhằm hướng đến một giờ học văn thân thiện mà ở đó cả GV lẫn HS đều là những người đọc. GV đóng vai trò là người có kinh nghiệm dẫn dắt các em tiếp nhận tác phẩm. Trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy văn như trên, việc sử dụng SĐTD vào dạy học là hoàn toàn phù hợp, phát huy tính chủ động, tích cực của HS trong học tập. 1.2. Lý thuyết về SĐTD 1.2.1. Khái niệm SĐTD SĐTD còn gọi là Bản đồ tư duy, Lược đồ tư duy,… là một trong những công cụ được dùng để trình bày thông tin một cách cụ thể, cho phép người sử dụng vừa tập trung vào chi tiết vừa có được cái nhìn tổng quát. Nhờ vậy, họ có thể nhanh chóng nắm bắt những tình huống có vấn đề. SĐTD là một phương pháp ghi chú gồm một hình ảnh hoặc một từ khóa ở trung tâm, và từ từ khóa trung tâm đó phát triển ra nhiều ý, mỗi ý sẽ là một từ khóa mới, có nhiều ý nhỏ hơn. Với đặc tính này, bất kì từ khóa hay hình ảnh chủ đạo nào bổ sung vào SĐTD đều có thể mở rộng phạm vi liên kết mới, rồi từ đó lại mở rộng phạm vi liên kết mới nữa và chu trình đó có thể lặp đi lặp lại đến vô hạn. SĐTD khai thác toàn diện chức năng của vỏ não – từ, ảnh, số, suy luận, nhịp điệu, màu sắc bằng một kĩ thuật độc đáo và sáng tạo. Nhờ vào việc tận dụng những từ khóa và hình ảnh đa dạng, một khối lượng kiến thức rất lớn sẽ được ghi chú hết sức cô đọng chỉ trong một trang giấy, mà không bỏ sót bất kì thông tin quan trọng nào. Đặc biệt, SĐTD cho phép làm nổi bật những ý tưởng trọng tâm, giúp tạo ra một bức tranh mang tính logic, liên kết chặt chẽ về những gì được học. 1.2.2. Thiết kế SĐTD 1.2.2.1.Các bước thiết kế SĐTD Bước 1: Chủ đề viết ở trung tâm, từ đó phát triển ra các ý khác. Chủ đề cần được làm nổi bật cho dễ nhớ như: thêm màu sắc, hình ảnh. Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ, tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm, được vẽ chéo góc (chứ không nằm ngang) để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng. Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, viết thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ. Bất cứ lúc nào có thể, hãy dùng biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm thời gian. Bước 4: Chúng ta có thể thêm nhiều hình ảnh, màu sắc làm nổi bật các ý trọng tâm. 1.2.2.2. Các quy tắc trong SĐTD - Nhấn mạnh: Đây là một quy tắc quan trọng vì có tác dụng tăng trí nhớ và đẩy mạnh sáng tạo. Muốn đạt hiệu quả nhấn mạnh tối ưu, chúng ta cần : + Dùng một hình ảnh trung tâm hoặc từ ngữ có màu sắc, kích cỡ thật lôi cuốn. Hình ảnh tự khắc thu hút sự tập trung của mắt và não, đồng thời giúp nhớ hiệu quả. Hơn nữa, hình ảnh luôn hấp dẫn – lôi cuốn, gây sự thích thú và thu hút quan tâm, chúng ta có thể sử dụng hình ảnh ở mọi nơi trong SĐTD. + Thay đổi kích cỡ ảnh, chữ in và dòng chữ chạy: Thay đổi kích cỡ là cách tốt nhất để chỉ tầm quan trọng tương đối giữa các thành phần trong cùng một phân cấp. Kích cỡ lớn có tác dụng nhấn mạnh và giúp ghi nhớ tốt hơn. + Cách dòng có tổ chức, thích hợp: Cách dòng có tổ chức làm nổi rõ hình ảnh, giúp tổ chức phân cấp, phân hạng hiệu quả từ đó giúp SĐTD dễ dàng khai triển và trông đẹp mắt, bố cục rõ ràng.
- Xem thêm -