Tài liệu Sông côn mùa lũ - nguyễn mộng giác

  • Số trang: 1244 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 371 |
  • Lượt tải: 1
vnthuquan

Đã đăng 1914 tài liệu

Mô tả:

SÔNG CÔN MÙA LŨ - Nguyễn Mộng Giác
Nguyễn Mộng Giác SÔNG CÔN MÙA LŨ Nguyễn Mộng Giác SÔNG CÔN MÙA LŨ Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động Nguồn: http://vnthuquan.net/ Tạo ebook: Nguyễn Kim Vỹ. MỤC LỤC Lời giới thiệu Chƣơng 1 Chƣơng 2 Chƣơng 3 Chƣơng 4 Chƣơng 5 Chƣơng 6 Chƣơng 7 Chƣơng 8 Chƣơng 9 Chƣơng 10 Chƣơng 11 Chƣơng 12 Chƣơng 13 Chƣơng 14 Chƣơng 15 Chƣơng 16 Chƣơng 17 Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net Nguyễn Mộng Giác SÔNG CÔN MÙA LŨ Chƣơng 18 Chƣơng 19 Chƣơng 20 Chƣơng 21 Chƣơng 22 Chƣơng 23 Chƣơng 24 Chƣơng 25 Chƣơng 26 Chƣơng 27 Chƣơng 28 Chƣơng 29 Chƣơng 30 Chƣơng 31 Chƣơng 32 Chƣơng 33 Chƣơng 34 Chƣơng 35 Chƣơng 36 Chƣơng 37 Chƣơng 38 Chƣơng 39 Chƣơng 40 Chƣơng 41 Chƣơng 42 Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net Nguyễn Mộng Giác SÔNG CÔN MÙA LŨ Chƣơng 43 Chƣơng 44 Chƣơng 45 Chƣơng 46 Chƣơng 47 Chƣơng 48 Chƣơng 49 Chƣơng 50 Chƣơng 51 Chƣơng 52 Chƣơng 53 Chƣơng 54 Chƣơng 55 Chƣơng 56 Chƣơng 57 Chƣơng 58 Chƣơng 59 Chƣơng 60 Chƣơng 61 Chƣơng 62 Chƣơng 63 Chƣơng 64 Chƣơng 65 Chƣơng 66 Chƣơng 67 Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net Nguyễn Mộng Giác SÔNG CÔN MÙA LŨ Chƣơng 68 Chƣơng 69 Chƣơng 70 Chƣơng 71 Chƣơng 72 Chƣơng 73 Chƣơng 74 Chƣơng 75 Chƣơng 76 Chƣơng 77 Chƣơng 78 Chƣơng 79 Chƣơng 80 Chƣơng 81 Chƣơng 82 Chƣơng 83 Chƣơng 84 Chƣơng 85 Chƣơng 86 Chƣơng 87 Chƣơng 88 Chƣơng 89 Chƣơng 90 Chƣơng 91 Chƣơng 92 Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net Nguyễn Mộng Giác SÔNG CÔN MÙA LŨ Chƣơng 93 Chƣơng 94 Chƣơng 95 Chƣơng 96 Chƣơng 97 Chƣơng 98 Chƣơng 99 Chƣơng 100 Chƣơng 101 Phu luc Nguyễn Mộng Giác SÔNG CÔN MÙA LŨ Lời giới thiệu Sông Côn là con sông chảy qua vùng đất Tây Sơn quê hƣơng của anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ. Anh Nguyễn Mộng Giác là ngƣời cùng quê với ngƣời anh hùng - nhân vật tiểu thuyết đó của anh. Đấy cũng là một lợi thế để anh có những tình cảm và hiểu biết đặng viết về biến cố lịch sử quan trọng nhất của thế kỷ 18 đó. Nhƣng không phải chỉ có thế. Để viết về lịch sử, dĩ nhiên là tác giả thông hiểu lịch sử. Nhƣng đây không phải là sử học ở chỗ sử học tạm ngừng bút (vì thật ra nó chƣa bao giờ thực sự ngừng bút) thì tiểu thuyết bắt đầu. Tiểu thuyết là lĩnh vực của cái có thể, của tƣởng tƣợng, tất nhiên là sự tƣởng tƣợng ở đây bị chế ƣớc bởi tình cảm và sự nhận thức về lịch sử. Sông Côn mùa lũ (1) lần đầu tiên trong văn chƣơng Việt Nam, làm một trƣờng thiên về lịch sử thế kỷ 18. Tác phẩm rất hấp dẫn, trƣớc hết là vì phẩm chất văn học của nó. Các sử sự thì ta đã biết cả rồi nhƣng những tình cảm, những thôi thúc nội tâm, những suy tƣởng, những quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trải dài qua một biến cố lớn lao thì đây là đầu ta tiếp xúc. Và sự phong phú của nó, vẻ đẹp của nó...lôi cuốn ta, lôi cuốn những ngƣời yêu lịch sử dân tộc, yêu con ngƣời Việt Nam nhân ái và quả cảm. Ở đây Nguyễn Huệ đã đƣợc mô tả thành công nhƣ đã có trong sử sách: anh hùng đến mức xuất sắc, thiên tài, nhƣng không phải anh hùng một cách đơn giản, tự nhiên nhi nhiên, mà có Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net SÔNG CÔN MÙA LŨ Nguyễn Mộng Giác những suy tƣởng, trăn trở có hàm lƣợng trí tuệ, triết học - lịch sử cao làm động cơ bên trong của những hành động. Nguyễn Huệ bình dị trong đời thƣờng, cũng có những cái bị ràng buộc bởi xã hội: anh yêu An sâu thẳm, thiết tha biết bao nhiêu, nhƣng rồi anh phải lấy ngƣời khác, và An thì cũng vậy. Thành công nhất là tuyến nhân vật hƣ tƣởng, tuyến nhân vật “đời thƣờng”, “thế sự”, cái hồn, cái nền, cái thẳm sâu... của tiểu thuyết lịch sử. Xét cho cùng, tiểu thuyết lấy đề tài lịch sử phải giải quyết một nhiệm vụ kép; nói nhƣ Chế Lan Viên có lần nói về chuyện này: “nó phải nhảy qua hai vòng lửa”: vòng lửa “lịch sử” và vòng lửa “tiểu thuyết”. Trƣớc mắt nhà văn bao giờ cũng là những con ngƣời với những ràng buộc qua những biến cố lịch sử và qua chính mình. Về tuyến nhân vật này, thành công lớn nhất của tác giả là An. Tôi ít đọc đƣợc trong tiểu thuyết mình một nhân vật nữ nào quyến rũ, thƣơng mến, Việt Nam nhƣ An. An là ngƣời phụ nữ Việt Nam của mọi thời biến động, nhẫn nại, yêu thƣơng, đi hết số phận mình và phong phú, đẹp đẽ biết bao trong nội tâm.Có thể nói, tác giả đã gởi vào An rất nhiều những thể nghiệm, những suy tƣởng... về ngƣời phụ nữ Việt Nam ngƣời gánh lịch sử, đất nƣớc, chồng con... trên đôi vai bé nhỏ, yếu đuối của mình. Có thể nói An là cái “nguyên lý thi học”, cái thƣớc đo thử nghiệm của tác phẩm. Điều thú vị là An đã làm say mê bao bạn gái của nàng thời nay: sau khi Sông Côn mùa lũ in lần thứ nhất, đã có nhiều bạn đặt tên con mình là An (Khánh An, Bình An,...) nhƣ một kỷ niệm. Tiểu thuyết đã đi đƣợc vào ngƣời đọc, vào cuộc đời. Bên cạnh đó, là những nhân vật nhƣ Lợi, Lãng, Kiên, Chinh... Họ cũng đƣợc tác giả xây dựng thành công với những nét tính cách khác biệt, những gởi gắm về triết lý cuộc đời, triết lý lịch sử: ngƣời thì trung thực, vô tƣ, “nghệ sĩ”, ngƣời thì chịu đựng nhẫn nại... Thông qua các nhân vật, hành động và suy tƣởng của họ mà cuộc đời - lịch sử đƣợc hiển hiện với bao hấp dẫn, say mê, nghĩ ngợi... Toàn bộ tuyến nhân vật “hƣ tƣởng” này (thực ra thì các nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết này cũng là “hƣ tƣởng” của tác giả), quả đã là một sáng tạo mới góp phần làm cho cuốn tiểu thuyết đáng mặt là tiểu thuyết theo cái nghĩa cổ điển của từ này. Ngoài những thành công về nhân vật, về ngôn ngữ, về dựng cảnh, về phát triển tình tiết...tác phẩm bao quát một cái nhìn đúng và sâu về dòng chảy của lịch sử về sự phát triển của dân tộc - một cái nhìn đáng yêu và rất dễ chia sẻ. Nguyễn Mộng Giác đã viết tác phẩm này lúc còn ở trong nƣớc vào những năm 1978-1981 với những cố gắng rất cao (2). Chúng tôi thấy vui khi thấy có một nhà văn đã dám bỏ nhiều công phu, tâm huyết và tài năng để dựng một bộ tiểu thuyết trƣờng thiên về một ngƣời anh hùng dân tộc, về một thời đại lịch sử mà chúng ta mãi yêu mến, tự hào và luôn luôn muốn hiểu biết sâu thêm. Và có thể nói rằng tác giả đã thành công. Với sự giúp đỡ của nhiều bạn bè và tổ chức, cuối cùng Trung tâm nghiên cứu Quốc học và Nhà xuất bản Văn học đã làm đƣợc điều chúng tôi mong mỏi: đƣa đƣợc tới tay bạn đọc một bộ sách hay, bổ ích, có nhiều ý nghĩa, một tác phẩm rất cần có trong hành trang văn hóa của mỗi ngƣời Việt Nam chúng ta trong lúc này. “Mỗi một cuốn sách có số phận riêng của Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net SÔNG CÔN MÙA LŨ Nguyễn Mộng Giác mình”, câu châm ngôn Latinh đó thực đúng với tác phẩm này. Từ quê hƣơng Việt Nam ra đi, nó lại trở về quê hƣơng, nơi chắc chắn nó sẽ đƣợc yêu mến và trân trọng. Vì nó chính là những tình cảm cội nguồn với quê hƣơng, đất nƣớc, tổ tiên không dễ gì phai nhạt. Hy vọng rằng trong bộ sách này dù dài trên 2000 trang sẽ đƣợc bạn đọc sẵn lòng dành thì giờ cho nó, và, chúng tôi tin chắc rằng các bạn sẽ không có điều gì ân hận khi phải “mất công” đọc nó. *** Tôi đã tìm đọc cuốn Sông Côn mùa lũ trong chuyến thăm Hoa Kỳ năm 1996. Khi đó tôi đang ở thăm trƣờng Đại học Wisconsin-Point, một Đại học nằm ở cực Bắc Hoa Kỳ, trong một thành phố nhỏ hết sức tĩnh lặng. Ngoài việc đi thăm các khoa, tiếp xúc với một số thầy giáo, đi thăm các nông trại và ngôi nhà bên hồ của vợ chồng GS Eagan, ngƣời đã tổ chức chuyến đi...tôi không có việc gì làm trong gần 10 ngày ở đó. Cuối xuân trời se lạnh và buồn, tôi nhớ nhà. Thế là tôi lôi bộ Sông Côn ra đọc, và càng đọc tôi càng bị cuốn hút, cứ ngỡ nhƣ gặp lại một cái gì vừa quen vừa lạ, thú vị vô cùng. Tôi là ngƣời để tâm tìm hiểu nhiều về thời Quang Trung, về sử sự Tây Sơn, tôi đã dịch nhiều thơ văn Ngô Thì Nhậm. Nhƣng thực ra sử sự rất ít. Rất cần có một cuốn Lịch sử Tây Sơn - Quang Trung cho ra trò, một cuốn nhƣ thế phải là một công trình sƣu tầm, nghiên cứu công phu... từ “điền dã” đến sử liệu và một ngọn bút sâu sắc, thông minh. Hình nhƣ ta chƣa có một cuốn sách nhƣ thế. Còn về tiểu thuyết, kịch bản... thì chƣa có cái nào thật xứng tầm với thời đại đó, nó mới là một cái gì nhất thời, làm vội, ngẫu nhiên. Sông Côn mùa lũ là một nỗ lực tổng hợp với một quan niệm mới cả về tiểu thuyết và cả về lịch sử. Tôi rất quí cuốn tiểu thuyết này. Tôi nghĩ nó là một “ngƣời đẹp” khó gặp lần thứ hai (“giai nhân nan tái đắc”) trong đời một ngƣời viết nhƣ anh Nguyễn Mộng Giác. Tôi mong nó sẽ đƣợc dựng thành phim. Để ngƣời xem cứ suốt ngày đêm xem phim lịch sử Trung Quốc, thuộc và yêu lịch sử Trung Hoa hơn Việt Nam nhiều, thì vô lý quá, và bất tiện quá. Khó là vì tiền là một nhẽ, thực ra tôi nghĩ Nhà nƣớc có thể chi nếu có Dự án đáng tin cậy, nhƣng tìm ra cho đƣợc một đạo diễn hiểu và yêu lịch sử giờ này cũng khó, rồi còn diễn viên: ai là ngƣời sẽ thể hiện cô An cho thành công nhƣ mong đợi? Nhƣng tôi nghĩ, trƣớc sau gì ta cũng nên làm, phải làm; bỏ mặc lịch sử của tổ tiên nhƣ thế sao tiện, trong khi nếu làm thành công thì tác động của nó vào tâm hồn, đời sống là vô giá. Tôi cũng đã bàn việc này với anh Nguyễn Mộng Giác, nhƣng rồi cũng chỉ bàn thế thôi. Giáo sƣ Trần Văn Dĩnh ở Washington D.C, ủy viên Hội đồng Khoa học Trung tâm nghiên cứu Quốc học,ngỏ ý muốn tác phẩm đƣợc dịch ra tiếng Anh, rồi ông sẽ liên hệ với bên ấy để họ làm phim này. Tôi nghĩ: họ có thể làm lắm! Phim “Ngƣời Mỹ trầm lặng” mới vừa chiếu, ngƣời ta làm ra làm, chuyên nghiệp và tâm huyết nhƣ thế! Có đƣợc một cuốn tiểu thuyết để làm nền cho kịch bản là điều rất khó,nhƣng có ai quan tâm gì không? Sao mà im lặng, hình nhƣ mọi ngƣời đang nghĩ đâu đâu, đang bận việc gì đâu, chẳng ai chú ý đến nghệ thuật, văn chƣơng... Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net Nguyễn Mộng Giác SÔNG CÔN MÙA LŨ Cả tôi cũng vậy, tôi cũng bận bao nhiêu việc vặt, và cũng chƣa có dịp đọc lại Sông Côn mùa lũ. Gần đây Nguyễn Mộng Giác và chị Diệu Chi, vợ anh có về thăm quê nhà; tôi mới gặp lại anh - một ngƣời có chất “thầy giáo” hơn tôi nhiều - và tôi ngẫu hứng có mấy câu thơ viết tặng anh, xin ghi lại để làm kỷ niệm. Về quê, anh nhớ ghé thăm gốc me vườn Nguyễn Huệ, Cây me xanh, vòm lá chở che đời. Cây me sống cuộc đời ba thế kỷ, Những thương đau, những hùng vĩ con người. Và Sông Côn thầm lặng chảy bên trời, Mang ký ức của một thời oanh liệt. Vốn biết ai rồi cũng xong một kiếp, Nhưng phù sa ta sẽ hiến cho người. Sông Côn chảy trong đời, trong trang văn anh viết, Và hai dòng soi bóng vào nhau. Sẽ có người thiếu nữ của mai sau, Nhỏ giọt lệ thương An (3) - thương cuộc đời nhân loại. Chợt tỉnh giấc mộng dài, trời xanh chói lọi, Bao vui buồn sướng khổ đã đi qua. Tết Quí Mùi 2003 . Mai Quốc Liên, GS-TS Văn học GĐ Trung tâm nghiên cứu Quốc học. (1) Sông Côn mùa lũ - Trƣờng thiên tiểu thuyết của Nguyễn Mộng Giác. Nhà xuất bản Văn học và Trung tâm nghiên cứu Quốc Học, xuất bản tháng 2-2003 (In lần II). (2) Hiện nay tác giả đang sống ở Hoa Kỳ. (3) Nhân vật nữ trong Sông Côn mùa lũ, ngƣời yêu Nguyễn Huệ. Nguyễn Mộng Giác SÔNG CÔN MÙA LŨ Phần I: Về An Thái Chương 1 Họ lặng lẽ bƣớc nhƣ vậy từ nhà cho đến bờ sông. Cơn mƣa dầm kéo dài từ đầu hôm, vẫn đến lúc đó Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net SÔNG CÔN MÙA LŨ Nguyễn Mộng Giác vẫn chƣa dứt; gió thổi từng trận tạt nghiêng những giọt mƣa lạnh khiến những thân tre nghiến vào nhau kẽo kẹt, lá cây xào xạc át mất tiếng bƣớc chân bì bõm trên đƣờng lầy và tiếng trẻ con khóc. Bà giáo cố xoay cái áo tơi lá ra phía trƣớc để che mƣa cho con, nhƣng gió dữ lâu lâu thổi thốc, làm cho đứa bé nín khóc còn bà mẹ thì cuống quít đƣa tay trái giữ chặt lấy chóp lá, cố cƣỡng lại sức gió. Mƣa đã làm ƣớt mái tóc bà, dán chặt từng mảng lên khuôn mặt xám xanh. Mƣa cũng chảy thành dòng xuống má bà giáo, rỏ giọt xuống vai áo. Bà vừa đi vừa khóc lặng lẽ, lâu lâu vài giọt nƣớc ấm lăn theo sống mũi, chảy xuống môi. Không cầm đƣợc xúc cảm, bà khóc thành tiếng. Đứa con gái đi phía sau mẹ vội bƣớc nhanh tới trƣớc, giọng lo âu: - Mẹ! Bà giáo quay lại, thấy đôi mắt con gái long lanh nhƣ sắp khóc. Đứa con gái bắt kịp mẹ, tay phải xốc lại cái tay nải nặng trĩu sau lƣng còn tay trái tìm nắm lấy tay mẹ. Tiếng nói cô bé mong manh giữa mƣa gió và bóng tối, nên bà giáo chỉ nghe thấy con bảo: -... lấy cái bọc quần áo này, để em con bồng cho. Bà giáo vội ngăn: - Không, con bồng em không nổi đâu. Coi chừng nghe An! Nhìn kỹ đƣờng cái, không lại ngã. Con rán đi nhanh tới trƣớc cho kịp anh Chinh, vịn vào anh mà bƣớc. Đừng lo cho mẹ. Cô bé chƣa muốn vâng lời ngay, giọng ngập ngừng: - Nhƣng con sợ em bị ƣớc. Còn mẹ thì... Bà giáo cắt lời con: - Mẹ thì có cha lo. Con lên trƣớc với anh Chinh đi. An ngoái lại phía sau, thấy cha dìu em Lãng bƣớc chậm theo hàng tre, cẩn thận tránh các vũng nƣớc trắng bất trắc rải rác trên mặt đƣờng. Từ lúc bị đánh thức cho đến bây giờ, cô bé hiểu lờ mờ rằng một tai biến ghê gớm nào đó đang xảy ra cho gia đình mình, An biết chắc nhƣ vậy qua những lời xì xầm trao đổi giữa cha và mẹ, nhất là tiếng khóc ấm ức của mẹ khác hẳn những tiếng khóc vì đời sống thiếu thốn và buồn phiền của bà,từ khi cô bé bắt đầu thấy đƣợc sự phức tạp của mọi sự chung quanh mình. Trong lúc các anh lặng lẽ thu góp đồ đạc, cột chặt các tay nải thì mẹ bối rối hết nhặt nhạnh mớ quần áo này nhét vào một tay nải đã quá nặng, suy tính đến ngơ ngẩn thất thần, lại quyết định bỏ lại để đi nhặt nhạnh thứ khác. Thằng Lãng bị dựng dậy, nhƣng buồn ngủ quá, nằm ngay trên nền đất nện, dựa lƣng vào đống đồ đạc bừa bộn mà ngủ tiếp. Cha thì không còn đủ tâm trí quán xuyến công việc dọn dẹp nữa. Hết ra ngõ chờ đợi cái gì An chƣa hiểu, ông giáo lại quay vào, đứng ở ngạch cửa, lơ đãng nhìn cả nhà xào xáo dọn dẹp, không góp ý mà cũng không hối thúc. Nếu không có anh Kiên và anh Chinh lặng lẽ, lặng lẽ, chậm chạp nhƣng giữ đƣợc đủ bình tĩnh để dọn dẹp, chuẩn bị, An nghĩ có lẽ còn lâu lắm họ mới ra khỏi nhà. Cho đến cuối cùng, hình nhƣ ông giáo vẫn còn mong chờ ai đến. Tiếng trống sang canh vọng từ bên kia bức tƣờng cũ, tuy rời rạc ngái ngủ và khuất lấp trong Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net SÔNG CÔN MÙA LŨ Nguyễn Mộng Giác tiếng mƣa gió, vẫn còn đủ sức mạnh thôi thúc ông giáo. Ông cuống lên, mất hết chút bình tĩnh còn lại, lần đầu tiên An thấy cha không giữ đƣợc vẻ chững chạc, trầm tĩnh thƣờng ngày. Giọng nói của cha gắt gỏng và lo âu. Cô bé nghe cha phân giải gì đó với mẹ. Mẹ trả lời ngập ngừng, tiếng nói đứt quãng vì tiếng nấc.Hình nhƣ cha cố thuyết phục mẹ, và đến lúc không còn nhỏ nhẹ đƣợc nữa, An nghe cha quát lên: - Thật tiếc không phải lúc. Mình không thấy cảnh gia đình quan nội hữu hay sao! Không chần chờ đƣợc nữa đâu! Phải đi ngay! *** Họ đi men theo con đƣờng tối tăm, lầy lội, khó nhọc nhƣng kín đáo giấu mình dƣới những lũy tre. Trời thì thấp xuống, gió vẫn thổi dữ. Đến chỗ dốc dẫn lên điếm canh, Kiên và Chinh dừng lại chờ cha. Ông giáo đi chậm, vì vừa phải dìu thằng Lãng, vừa đỡ lấy lƣng bà giáo. Nỗi sợ hãi cứ ngày càng tăng, bà giáo hoảng hốt cảm thấy chân mình cóng lại, bủn rủn không bƣớc nổi nữa. Bà đã hết khóc, nhƣng toàn thân cứ run lên từng chặp. May thay ông giáo đến kịp lúc; bàn tay chồng chỉ đỡ nhẹ lấy lƣng, bà giáo vẫn cảm thấy ở phía sau, có một hơi ấm quen thuộc mơn trớn lan dần khắp thân thể mình. Bà yên tâm hơn, ôm chặt thằng Út vào ngực. Chiếc áo tơi lá sột soạt lay động.Ông giáo nhắc: - Mình cố đừng cho nó thức dậy. Sắp đến điếm canh! Thấy cha đã đến, Kiên xốc lại cái tay nải bƣớc lên dốc. Đƣờng đất sét trơn trợt, nên hai anh em phải bƣớc chậm, ngón chân cái cong lại bấm xuống mặt đƣờng. Nhờ vác nặng, bƣớc chân trở nên đằm và vững. Vả lại ở đây không còn bóng tre phủ, nên họ thấy rõ đƣợc những dấu chân trâu bò, những vũng lầy, những chỗ đƣờng sụp lở vì nƣớc xoáy. Lên khỏi dốc hai anh em giật mình đứng sững lại vì có tiếng quát: - Ai đó? Kiên chƣa biết phải trả lời thế nào, thì Chinh đã nói: - Chúng tôi là con ông giáo. Từ điếm canh, tấm phên nhỏ mở hé. Một con cúi rơm đang cháy ngún, soi lờ mờ một bóng ngƣời hiện lên trên khung cửa điếm. Nghe lẫn trong mƣa gió, tiếng thì thào trao đổi ngắn. Rồi vẫn giọng quát lúc nãy: - Có lệnh quan quốc phó (1) cấm đƣờng. Giáo với mác gì! Ông bà giáo vừa lên khỏi dốc. Kiên và Chinh im lặng nhƣờng cho cha trả lời. Ông giáo hơi mệt, hơi thở gấp chƣa trả lời ngay đƣợc. Giọng ngƣời lính canh điếm trở nên giận dữ khác thƣờng: - Bọn trộm cắp ăn đêm phỏng? Sao không thƣa? Thằng Út bị mẹ trong cơn sợ hãi ôm quá chặt, ngộp thở nên vùng vẫy khóc to lên. Ông giáo nhanh trí đáp: - Chúng tôi vừa nhận đƣợc tin buồn, nên đem cả gia đình về phủ Thăng hoa chịu tang. Các bác thấy Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net SÔNG CÔN MÙA LŨ Nguyễn Mộng Giác đấy, mƣa gió thế này mà phải bồng bế lũ nhỏ đi gấp cho kịp chuyến thuyền sớm. Trong điếm canh lại có tiếng bàn luận. Rồi cửa điếm mở, một cây đuốc bằng hai dầu chai đƣợc đốt sáng lên. Hai ngƣời lính bƣớc ra khỏi điếm, một ngƣời cầm đuốc, một ngƣời lăm lăm ngọn mác dài. Họ hăm hở tiến về phía gia đình ông giáo, giọt chai từ đầu ngọn đuốc rỏ xuống mặt đất ƣớt kêu lèo xèo. Đến cách gia đình ông giáo độ con sào, họ dừng lại. Ngƣời lính cầm mác nhắc bạn: - Phải khám xét cẩn thận. Luật quan quốc phó nghiêm ngặt lắm! Ngƣời cầm đuốc bảo: - Không cần. Bọn trộm cắp đem theo con nít làm gì. Ông giáo nhận ra tiếng nói ngƣời lính vừa cật vấn mình. Ông đã bớt lo ngại, mạnh dạn tiến về phía hai ngƣời lính. Thằng Lãng không chịu rời tay ông giáo, bíu lấy vạt tơi lá của cha tò mò nhìn ánh đuốc bập bùng khi mờ khi tỏ cũng quên cả sợ. Khuôn mặt thơ dại ấy, cùng với cái áo tơi lá nhỏ nhắn, có lẽ đã làm rung động tấm lòng ngƣời lính cầm đuốc. Ngƣời lính ngồi hẳn xuống, đƣa đuốc lên soi gần khuôn mặt Lãng. Ông giáo kịp nhìn thấy một khuôn mặt vuông, đôi mắt lóng lánh hiền hậu dƣới hàng lông mày rậm, và một mái tóc dày đẫm nƣớc. Ngƣời lính hỏi: - Cháu có lạnh không? Ông giáo nói: - Chúng tôi gấp quá, không kể gì gió mƣa nữa. Các cháu còn bé, sợ phải ốm mất! Các bác cho chúng tôi đi nhé! Ngƣời lính cầm mác lại nhắc: - Phải khám kỹ mấy cái tay nải. Lệnh của quan quốc phó! Ngƣời lính cầm đuốc đứng dậy, xua tay nói với ông giáo: - Thôi khỏi cần. Việc đó trên bến thuyền họ lo. Ông bà đi nhanh lên, cho kịp chuyến đầu. Hôm nay sóng dữ, lũ nhỏ có chịu nổi không? Ông giáo chỉ chờ có thế, không kịp cảm ơn ngƣời lính tốt bụng, ông đƣa mắt nhắc vợ con đi nhanh qua khỏi điếm canh. *** Đến ngã ba, nơi có một cây sầu đông vừa bị bão thổi gẫy nhánh lớn, cành lá còn vƣơng vãi ngổn ngang trên lối đi, Kiên và Chinh ngƣng lại chờ cha. Ngƣời anh cả chừng đã ê vai, đặt cái tay nải cồng kềnh lên một cành sầu đông, lại cần thận bẻ gãy những cành lá ƣớt cho nƣớc mƣa khỏi thấm vào quần áo trong tay nải. Chinh thì cẩu thả đặt ngay bọc quần áo lên mặt đƣờng. May mắn là chỗ Chinh đứng khá khô ráo, nên Kiên định quay lại rầy em, thấy thế chỉ ậm ừ rồi ngồi im bên đƣờng. Con đƣờng đất trƣớc mặt hai anh em tuy khá rộng và có trải đá dăm, nhƣng mùa mƣa miên man ở đây đã biến con đƣờng quan dẫn đến phủ chúa trở thành lồi lõm, lầy lội. Một nhánh nhỏ hơn từ ngã ba xuôi xuống bờ sông, hai bên vƣờn nhà ai um tùm những cau và chuối. Chinh nghịch lấy mấy chùm trái Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net SÔNG CÔN MÙA LŨ Nguyễn Mộng Giác sầu đông ném mạnh vào các tàu lá chuối, mỗi lần trái sầu đông ném mạnh vào các tàu lá chuối, mỗi lần trái sầu đông tròn xanh lao đi là mỗi lần tiếng lá rách ngắn và dẹp vang lại. Chinh thích thú cƣời to, tiếng cƣời vang rộng trong đêm khuya rồi bị vùi dập trong những trận gió thổi. Kiên khó chịu trƣớc sự vô tâm của em, định lên tiếng trách móc. Vừa lúc đó, ông bà giáo đến chỗ ngã ba đƣờng. Ông giáo bảo: - Đi xuống phía bờ sông. Đứa nào cƣời vậy? Hai anh em không ai trả lời. Ông giáo không hỏi tiếp, dìu bà giáo và các con tránh những cành sầu đông ngả nghiêng chắn mất lối đi. Thằng Lãng đã tỉnh ngủ hẳn, bỏ tay cha chạy đến trƣớc với anh Chinh. Bà giáo vốn thể chất gầy yếu, hỏi trong hơi thở mệt nhọc: - Đã tới chƣa mình? Ông giáo trả lời: - Ráng lên tí nữa. Đi khỏi mấy cái vƣờn chuối này, rồi rẽ sang tay phải. Tôi đã hẹn họ chỗ cây đa dại. Tuy cách xa, nhƣng Kiên lắng nghe đƣợc hết lời cha. Qua khỏi những khoảng đƣờng tối vì những tàu lá chuối che lấp, anh rẽ sang tay phải. Cây da đứng đơn độc giữa một vùng thảo mộc hoang dại, mọc lan ra đến tận bờ sông. Tàn lá da xum xuê nhuộm thẫm một vùng đục ngầu ví nƣớc lũ. Ông giáo đến chỗ hai con đang đứng chờ, và không khỏi ngạc nhiên hoang mang khi thấy không có chiếc thuyền nào đang cắm sào chờ tại chỗ hẹn. Bà giáo cũng lo âu, quên cả mệt nhƣng không dám lên tiếng hỏi chồng. Gió thổi từ bờ sông thổi lên, mang thêm cái lạnh nhức buốt cuồng nộ của sóng dữ. Lãng bắt đầu húng hắng ho. Bà giáo đƣa bé út cho An bồng, lục tìm cái áo bông trong tay nải của Chinh mặc thêm cho Lãng. Cậu bé bớt ho, đứng lặng nhìn bầu trời thấp, mặt sông đục và bờ sông lau lách hoang dại, không hiểu nghĩ gì tự nhiên thút thít khóc. Tuy không thể giải thích rõ ràng bằng lời nói, ngƣời mẹ hiểu Lãng cũng nhƣ mình vừa cùng xúc động mãnh liệt trƣớc một nỗi ám ảnh chƣa định hình, không thể tả ra, không thể nhìn thấy bằng lối thông thƣờng, nhƣng sự mẫn cảm của họ đã báo cho họ biết trƣớc thế nào một cái gì đó sẽ bất chợt đến, phủ chụp bao vây lấy cuộc đời mọi ngƣời trong gia đình. Cổ bà giáo nghẹn lại, hai tay ôm chặt Lãng đến nỗi hai lớp tơi lá cọ vào nhau ban đầu còn kêu sột soạt về sau không còn phát ra âm thanh nào nữa. Đã quá hiểu tính em, Chinh bĩu môi bảo: - Cái thằng! Nhƣ con nít! Ông giáo vẫn bực mình vì chuyện thất hẹn, giận quá quát lên: - Có câm mồm không, thằng quỉ! Tụi lính trên trạm canh mà nghe đƣợc thì chết cả đám! Bà giáo lấy ông tay lau nƣớc mắt con, áp má vào trán con, nhỏ nhẹ dỗ dành: - Con nín đi. Đừng khóc lớn cha rầy! Mẹ thƣơng con. Mẹ hiểu con hơn tất cả các con của mẹ. Đã bảo! Đừng khóc nữa. Lãng có nghe mẹ không? Kiên không góp gì vào câu chuyện, lẳng lặng thu góp tất cả đồ đạc, dồn lại giấu sau một bụi dứa gai, Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net SÔNG CÔN MÙA LŨ Nguyễn Mộng Giác dƣới tàn cây da rậm. Qua khỏi cơn bồn chồn thái quá ban đầu, ông giáo đủ bình tĩnh nhận thấy Kiên cẩn thận và lo xa, thầm cảm phục đức tính hiếm có của đứa con cả. Ông bảo bà giáo và các con đến núp dƣới bóng cây da. Hơn thế nữa, mọi ngƣời phải ngồi xuống giấu mình sau các bụi cây tối, và không đƣợc nói chuyện lớn. Họ chờ. Họ chờ. Mãi đến lúc gà gáy thuyền mới đến. Thực ra không thể gọi là thuyền đƣợc, vì đây chỉ là một chiếc đò nhỏ bề ngang không quá một sải tay. Cái mui đan bằng tre phết phân trâu chỉ vừa đủ che cái bếp nhỏ và hai cái hũ sành đựng gạo và nƣớc. Thấy chiếc đò mỏng manh chòng chành trên mặt sông cuộn sóng, bà giáo bàng hoàng, sợ hãi cho các con đến nỗi cảm thấy lành lạnh trên sống lƣng. Ông giáo càu nhàu trách: - Sao bây giờ mới đến! Ngƣời chèo đò thở dài đáp: - Tôi phải chèo đi trốn từ mờ sáng hôm qua. Ông giáo lo sợ hỏi: - Chuyện lộ rồi à? Ngƣời chèo đò không trả lời ngay, chậm chạp cột chặt đò vào gốc cây da, cởi cái áo tơi lá xếp gọn vào lòng đò, trƣớc khi cởi còn cẩn thận giũ cho nƣớc mƣa rơi xuống mặt sông. Chỉ có cái nón mê rách là bác ta không giở ra nên ông giáo không thấy đƣợc nụ cƣời lém lỉnh của bác. Bƣớc hẳn lên bờ sông, ngƣời chèo đò mới nói: - Không. Tôi đi trốn thuế. Rồi giọng nói trở nên thân mật, ề à phân trần: - Thầy tính, vạn đò Canh Thành Vĩ Dã chúng tôi chỉ có ba chiếc. Từ ngày thuế chợ lên cao, đò chúng tôi cũng ế lắm. Trƣớc mụ nhà tôi còn ở nhà nấu cơm, lo chăm sóc lũ nhỏ. Từ hai tháng nay, tôi phải cho mụ buôn mắm vãnh dƣới cửa Tƣ khách lên bán kiếm thêm chút hồ qua ngày. Thế mà đã yên đâu. Hôm kia con mụ bƣng cái liễn mắm con lên ngồi ngay phía cuối chợ. Đột nhiên thiên hạ xôn xao, ngƣời ù té chạy, kẻ kêu khóc van nài. Con mụ biết ngƣời nhà quan tả ngoại đi chợ. Nhƣng mụ cứ ngồi thản nhiên, bụng nghĩ:”nhà quan thì cần những sơn hào hải vị, không nem công chả phƣợng thì ít ra cũng phải thịt ngon cá ngọt. Thèm vào ba cái thứ mắm vãnh!” Bác lái đò ngƣng lại, giở nón ra vuốt lại tóc. Bà giáo và các con tò mò quan sát gƣơng mặt bác. Một khuôn mặt xƣơng xƣơng, hai gò má nhô lên cùng với cái trán dồ và cái mũi thẳng che khuất hai con mắt sâu khó lƣờng. Thái độ nhẩn nha, trầm tĩnh trong hoàn cảnh đặc biệt này khiến ông giáo khó chịu. Ông giục: - Nhƣng cuối cùng mọi việc êm xuôi cả chứ! Nào, bác cho chúng tôi xuống thuyền. Bác lái đò ngăn lại: - Ấy, ấy, thầy lầm. Mà cả tôi cũng lầm. Đâu có em xuôi đƣợc. Con mụ tƣởng quí gì ba cái thứ mắm Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net SÔNG CÔN MÙA LŨ Nguyễn Mộng Giác vãnh. Nhƣng thầy có biết không, con mụ lầm. Lũ đầu bếp nhà quan tả ngoại chỉ dọa cho mấy chị hàng thịt sợ, để cƣời rũ ra. Rồi đến lúc bất ngờ nhất, thầy biết không, chúng nó đến thẳng chỗ con mụ nhà tôi ngồi. Con mụ nhà tôi nói đùa:”Các thầy mua giùm cháu ít mắm!” Mời xong còn cƣời hỉ hả. Lũ đầu bếp quan tả ngoại cũng cƣời hô hố. Cả chợ cũng cƣời ha ha. Chờ cho mọi ngƣời cƣời xong, chúng bảo con mụ nhà tôi bƣng liễn mắm vãnh lên. Con mụ nhà tôi vâng lời. Chúng chụp ngay liễn mắm. Cả chợ lại cƣời, nghĩ các ngài hầu cận quan tả ngoại đùa dai. Mãi đến lúc chúng đi rồi, con mụ nhà tôi mới phát hoảng. Thầy tính bao nhiêu vốn liếng dồn cả vào liễn mắm. Mà có ai ngờ đâu đƣợc là quan tả ngoại chỉ ăn đƣợc có món mắm vãnh hở trời! Bà giáo không nhịn đƣợc nữa, chen vào hỏi: - Bác có nói ngoa không đáy? Làm gì có chuyện lạ lùng! Ngƣời lái đò đấm ngực thề: - Tôi có nói dối thì trời tru đất diệt tôi đi! Mà thầy cô đây không tin cũng phải. Có ai ngờ quan tả ngoại lại không ăn đƣợc nem công chả phƣợng, lại chỉ ăn đƣợc món mắm vãnh. Mà trời lại xui khiến chi cho mẹ con nhà tôi đi buôn mắm! Thầy thấy không, vốn liếng hết, chƣa xong phần con mụ thì phần tôi, quan đến thúc thuế. Chợ nhƣ thế thì đò còn khách đâu mà nộp thuế. Mà thuế đò Canh Thành Vỹ Dã một năm đến 114 quan, phải, thầy không nhầm đâu, 114 quan đúng, bán cả vợ, đợ cả con cũng không đủ nộp nữa. Chỉ còn cách trốn đi làm dân xiêu tán mà thôi! Có tiếng gà gáy sáng ở khu vƣờn bên bờ sông, phía tay phải ông giáo. Sốt ruột quá, ông nhìn ngƣời lái đò: - Sẵn sàng rồi. Chuyện nhà của bác, chúng tôi hiểu lắm. Chuyện quan tả ngoại, ai mà chẳng biết ở cái kinh thành này. Nhƣng bác cho chúng tôi xuống đò thôi. Đi sớm chắc thoát đƣợc trạm thuế đò ở ngã ba. Bác lái đò do dự, ngón tay trỏ cứ đƣa lên quệt nhiều lần trên đầu mũi. Mãi một lúc, bác hạ thấp giọng: - Thầy đã hiểu rõ hoàn cảnh tôi. Vợ con thất nghiệp. Vốn liếng mất đứt. Nợ đòi, thuế thúc. Tôi đến chết mất! Thầy có lòng thƣơng ngƣời khó, cho thêm chút ít tôi mới dám đi. Ông giáo bây giờ mới hiểu vì sao ngƣời lái đò kể lể dài dòng từ tiếng gà gáy sáng đầu tiên đến lúc này nhƣ vậy. Ông giận dữ hỏi: - Thêm bao nhiêu? Ngƣời lái đò làm ra vẻ cuống quít lo sợ: - Dạ chỉ xin thêm chút ít cho đủ nộp thuế mà thôi. Túng quá tôi phải liều vậy. Con mụ nhà tôi cứ bảo đi đêm hôm lén lút thế này, nếu nhỡ ra... nhƣng tôi gạt đi, bảo gia đình thầy là gia đình tử tế... Ông giáo không để cho lão lải nhải thêm, gắn giọng bảo bà giáo: - Mình đƣa cái ruột tƣợng cho tôi. Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net SÔNG CÔN MÙA LŨ Nguyễn Mộng Giác Bà giáo tháo cái ruột tƣợng đụng tiền vẫn đeo bên hông đƣa cho chồng. Ông giáo lấy năm xâu tiền đƣa cho ngƣời lái đò và nói: - Vạn đò của bác có 6 chiếc, nộp một năm 114 quan. Đây tôi trả cho bác thêm năm quan nữa, vị chi là 20 quan. Bấy nhiêu đã quá đủ để bù cả tiền thuế đò lẫn tiền liễn mắm vãnh của bác. Ông trời thật oái oăm, mới bắt tôi trả triền mắm cho quan ngoại tả! Lão lái đò cảm ơn rối rít, nhƣng trƣớc khi đƣa nón nhận tiền vẫn còn nài thêm: - Thầy đừng trả cho tôi tiền “Thiên Minh thông bảo” nhé! Rồi hình nhƣ lão bắt đầu sợ hãi cái nhìn phẫn nộ của cả ông giáo lẫn Kiên và Chinh, ngƣời lái đò phân trần: - Thầy cô và các cậu hiểu cho. Thứ tiền đó pha nhiều chì, lại mỏng dính. Bẻ mạnh một chút là gãy. Tôi có lấy cũng chỉ vứt xuống sông thôi, không mua bán gì đƣợc. Con đò nhỏ nên tuy gia đình ông giáo không đem đồ đạc gì nặng, đò vẫn cứ khẳm. Bà giáo và An ban đầu chƣa quen, mỗi lần thấy sóng đục mấp mé ngang mạn đò, sợ hãi đến trân ngƣời. An nín thở ôm chặt lấy thằng Út, tƣởng chỉ cần thở mạnh lên một chút là đò nghiêng ngả. May cho An, từ lúc mẹ giao cho phận sự bồng em, thằng bé ngủ say không cựa quậy. Hơn nữa, ông giáo sợ cánh đàn bà con nít không chịu nổi sƣơng lạnh và gió dữ, thƣơng lƣợng mãi mới đƣợc ngƣời lái đò thuận cho đẩy tấm mui ra giữa, che ba mẹ con và đống đồ đạc. Cánh đàn ông chia nhau ngồi ở trƣớc mũi và sau lái. Chinh giành ngồi phía trƣớc với thằng Lãng. Sợ không chịu nổi những cơn nƣớc xoáy, bác lái đò men theo bờ sông; ở những chỗ có trạm canh, gần nhƣ chiếc đò vạch lau lách mà tiến. Trời càng lúc càng sáng, đò trôi chậm, ông giáo lo sợ không qua khỏi trạm gác Ngã Ba trƣớc lúc rạng đông. Ở đó, ông giáo biết rõ lắm, trạm canh cất ngay ở đầu dải đất bồi kiểm soát ghe thuyền đi lại trên cả hai nhánh sông. Thuế má thu đƣợc của trạm này thuộc nguồn lợi chúa ban cho quan tả ngoại, nên việc kiểm soát hàng hóa, thẻ bài, hết sức nghiêm ngặt. Bọn lính buộc mọi ghe thuyền không phân lớn nhỏ trƣớc khi xuôi sang nhánh tả hay nhánh hữu, đều phải ghé vào bến trạm. Mọi ngƣời đi trên thuyền phải mang đồ đạc hàng hóa của mình lên bờ. Từng ngƣời một phải để cho lính quan tả ngoại lục xét, cân nhắc giá trị từng thứ mà định thuế. Ai không đủ tiền thì phải để hàng lại, và giá cả hàng thƣờng bị qui định thật thấp chẳng bõ bèn với mức thuế cao. Cuối cùng ngƣời lƣơng thiện chẳng dám mang theo thứ gì ngoài bộ quần áo rách và mo cơm mắm, còn bọn con buôn thì nhởn nhơ làm giầu vì đã mau chóng ăn ý với bọn lính. Ngọn đuốc đêm đêm lập lòe ở trạm Ngã Ba từ lâu trở thành ánh mắt hung dữ của ma quỉ, khi sáng lên xoi mói đến tận chân tơ kẽ tóc của ngƣời đi thuyền, khi tắt ngấm âm thầm toan tính cho một trận vơ vét khác. Đò đã rẽ hẳn qua nhánh hữu; lau lách, những bụi dứa dại, ốc mèo, những dãy bìm bìm leo trên đám cây hoang vô danh đã che lấp mất mái nghiêng lợp tranh của trạm gác, ông giáo vẫn lâu lâu quay lại nhìn ngọn đuốc leo lét nhợt nhạt giữa bầu trời xanh xám trƣớc lúc rạng đông. Nhất là cái vọng canh, Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net SÔNG CÔN MÙA LŨ Nguyễn Mộng Giác hình nhƣ cứ cố vƣơn lên, vƣơn lên cao hơn tầm cây cỏ sau con đò để nhìn vào ót ông. Nỗi ám ảnh đó chỉ tan hẳn khi mặt trời lên và con đò tiến vào một khúc sông sâu hơn, hai bên cây cối cao lớn và um tùm. Không gian thu hẹp lại, và ông giáo yên lòng trong vòm trời nhỏ. Mặc cho Chinh thích thú đƣa tay ra trƣớc mũi thuyền vọc nƣớc, và Kiên ngồi trầm ngâm bên tay lái, ông giáo dựa lƣng vào thành đò chớp mắt đƣợc một lúc. Ông choàng tỉnh dậy vì con đò chòng chành dữ, đến nỗi vợ con ông la lên hốt hoảng. Lúc ấy đò đang đi trên một đoạn sông rộng, nhƣng bác lái phải ép đò sát vào bờ để tránh một đoàn thuyền quan đang lao tới. Trời đã yên, sóng đã lặng, nhƣng chính đoàn thuyền đang hấp tấp này đã làm cho mặt sông nổi sóng và đánh thức ông giáo dậy. Bác lái không dám chèo, cho đò dừng lại giữa một đám cỏ cao. Một mạn đò dựa vào bờ đất lầy, mạn bên kia đƣợc con sào rắn chắc ghìm cứng. Nhờ thế ông bà giáo và lũ con mới hết sợ. Đoàn thuyền quan gồm có 8 chiếc. Thuyền dài mà hẹp nhƣ hình long chu, mũi thuyền cất cao nhƣ đầu con cá lớn phóng mình lên khỏi mặt nƣớc, đuôi thuyền thấp xuống, sơn màu đỏ chói. Ngƣời đứng ở đuôi thuyền vận áo thanh cát, đầu để trần, hai chân dạng ra vững chãi để nắm lấy thanh gỗ đen bóng gắn liền bánh lái. Giữa thuyền có mấy ngƣời ở trần, trên thân chỉ mặc có cái quần vải màu đen ống ngắn đến đầu gối, sắp hai hàng đều đặn, cử động thân thể tay chạn đều theo nhịp chèo. Giữa khoang thuyền có bốn cây cọc nạn sơn son trên bắc ngang một cây mõ gỗ. Một ngƣời lính mặc đủ quần áo, đầu đội nón chóp, ngồi trên ghế gõ mõ làm nhịp. Ngƣời lính chỉ huy hô “cạy” thì ngƣời lái bẻ thuyền sanh phía tả, hô “bát” thì qua hữu. Theo nhịp mõ, hai hàng lính chèo thuyền miệng hò lơ, chân dậm ván, gồng vai đƣa cao cán chèo đều đặn răm rắp khi lên khi xuống. Mặt trời vừa lên chiếu rõ những khuôn mặt phờ phạc mệt nhọc và những thân thể mồ hôi nhễ nhại. Ông giáo biết đấy là đoàn thuyền chở của cải hàng hóa quí giá từ các phủ Thăng Hoa, Quãng Ngãi, Qui Nhơn về dâng nộp cho phủ chúa. Thuyền từ những vùng đất xa xôi vƣợt biển mà đến, nhƣng trên thuyền không thấy có bếp núc gì cả. Gần chỗ đặt giá mõ, chỉ có một vò nƣớc, bên cạnh treo cái gáo dừa cán dài. Một ngƣời chèo thuyền trên chiếc thứ ba đang cuối rạp ngƣời xuống đẩy mạnh mái chèo, bỗng ngã chuối tới trƣớc không gƣợng lại đƣợc. Nhịp chèo đột nhiên rối loạn. Nhiều tiếng la ó xôn xao. Tên lính gõ mõ quát tháo nhắc nhở mọi ngƣời nhiệm vụ và trật tự. Hai hàng lính chèo thuyền lại tiếp tục hình dịch, chỉ có ngƣời chèo cùng hàng ngang với ngƣời bị ngất đƣợc phép gài mái chèo lên, vực ngƣời bạn xấu số đến gần vò nƣớc, dùng cái gáo dừa múc nƣớc dội lên đầu bạn mình. Cho đến lúc chiếc thuyền này mất hút ra ngoài tầm nhìn, ông giáo vẫn chƣa thấy ngƣời lính ấy tỉnh lại. Đầu ông giáo tự nhiên nóng bừng, cổ ông nghẹn đến khó thở. Máu trong ngƣời ông nhộn nhạo. Nỗi hận của bao năm, nỗi hận ông đã cùng chia sẻ với Ý-đức-hầu bạn ông (1), nỗi hận ông đã cùng chia sẻ với ngƣời cày ruộng đói trên đồng lúa chín, ngƣời chài lƣới mỗi chiều về cá đầy khoang mà bụng cứ rỗng, ngƣời buôn bán hao mòn vốn liếng vì cái túi tham của các trạm thuế. Ông giáo nhìn lại vợ con Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net SÔNG CÔN MÙA LŨ Nguyễn Mộng Giác tìm thấy đôi mắt bà giáo và con gái nỗi lo âu, hớt hải. Ông nhìn Kiên. Kiên nhìn về hƣớng tám chiếc thuyền quan vừa đi khuất, tỏ dấu hiểu nỗi lòng cha, nhƣng ông giáo chờ mãi không thấy con tỏ thêm phản ứng gì. Chỉ có Chinh nét giận dữ lộ hết ra đôi mắt. *** Gần đứng bóng, họ mới đi qua chùa Hà Trung. Con đò bỏ lại đàng sau những đoạn sông hẹp rợp bóng cây, bắt đầu chao đảo giữa một vùng phá rộng. Tuy trời đã bớt gió, sóng đục ngầu vẫn cuồn cuộn quanh đò. Trừ bác lái quá quen với sông nƣớc, cả gia đình ông giáo đều nơm nớp sợ hãi, cảm thấy chờm ngợp vì mất hút giữa khoảng trời nƣớc cùng màu xám đục. Bà giáo, An, và thằng Út say sóng nằm rũ trên đống đồ đạc, giấu đầu trong mui hẹp không dám nhìn ra ngoài. Lãng ngồi bệt trên liếp tre, hai tay bấu chặt lấy hai mạn đò. Chinh vẫn ngồi trƣớc mũi, không đƣa tay nghịch nƣớc nữa. Kiên đƣa tay chỉ về phía vũng eo của biển cả, nơi có mấy cây tùng cao lớn rậm rạp đơn độc trên một vùng bùn lầy cỏ rêu san sát, hỏi cha: - Thƣa cha, có phải kia là chùa thầy Từ Huệ trụ trì? Ông giáo đáp: - Đúng đấy. Chùa Hà Trung của thầy Từ Huệ. Ngay chỗ có mấy cây tùng. Ngƣời lái đò men theo bờ cừ mọc đầy những cây dƣơng nƣớc, không dám thách đố với sóng dữ. Lâu lâu, đò vƣợt qua một cái chòi nhỏ chân ngâm xuống bùn mái lợp lá tranh sơ sài, ba mặt che kín, cửa hƣớng về phía sông. Ông giáo lo sợ nhắc ngƣời lái đò: - Bác cẩn thận. Hãy thong thả mà chèo! Ngƣời lái đò giải thích: - Không phải chòi canh đâu. Của mấy ngƣời thả lƣới đấy. Chỉ sợ có cái trạm ở ngay cửa khẩu! Mấy chiếc thuyền chài chèo ngƣợc từ phía cửa biển chèo lên. Sợ sóng dồi làm con đò chòng chành thêm, bác lái nép sát vào bờ cừ. Ngƣời lái thuyền đánh cá bỗng đƣa tay lên làm loa hú lớn, hình nhƣ muốn nhắn điều gì với ngƣời lái đò. Ban đầu bác lái còn chƣa hiểu. Khi Kiên thấy bên phía thuyền chài, nhiều ngƣời giơ nón lên vẫy và nhắc bác lái, bác ta mới chú ý. Bác nhổ con sào lên, dùng hai tay đƣa ngang lên khỏi đầu. Phía bên kia, ngƣời chống thuyền chài đƣa hai tay lên làm dấu chữ thập. Bác lái gật đầu, la lớn: - Hiểu rồi! Ông giáo lo lắng hỏi: - Họ bảo gì đấy? Ngƣời lái đò không trả lời ngay, cho đò áp sát vào một cây dƣơng nƣớc. Ông giáo hỏi dồn: - Có gì bất thƣờng không? Ngƣời lái đò nói: Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net SÔNG CÔN MÙA LŨ Nguyễn Mộng Giác - Không xong rồi. Cửa khẩu đóng, không cho ai ra khơi cả! Kiên hỏi: - Sao bác biết? - Thì họ vừa ra dấu xong! Chúng tôi dân vạn chài đã quen lắm rồi! Mỗi lần kinh thành không yên là có lệnh cấm khẩu. Ông giáo mất bình tĩnh: - Thế làm thế nào bây giờ? Ngƣời lái đò đáp gọn: - Phải trở lại thôi! Bà giáo ngồi bật dậy, làm cho thằng Út giật mình thức giấc nổi khóc lớn. An dỗ em không đƣợc, khóc theo. Ông giáo thêm bực bội, hỏi gắt: - Bác nói đùa phỏng! Tôi chịu thuê đến 20 quan, vì bác hứa sẽ đƣa chúng tôi đến tận ghe bầu. Ngƣời lái đò cũng không vừa: - Vâng, vâng. Nhƣng nếu các quan ở trạm cửa Mù U đóng gông vào cổ tôi, thì thầy có nuôi vợ con tôi không? Thầy quen lớn trong vƣơng phủ, chắc biết phép quan khe khắt. Bà giáo e dè hỏi: - Có lẽ bác nghe lầm. Ghe chài họ chỉ bảo... Bác lái cắt lời bà giáo: - Chắc chắn cửa Mù U đóng. Chúng tôi đã hiểu nhau bằng cách ra dấu. Kiên tự nãy đến giờ giữ im lặng, lên tiếng đề nghị: - Thƣa cha, hay là chúng ta về tạm đằng thầy Từ Huệ. Ông giáo ngoái nhìn lại phía mấy cây tùng, mờ khuất sau một màn sƣơng khói màu bạc ở sau lƣng, trầm ngâm, do dự khá lâu. Thằng Út vẫn chƣa nín khóc. Mƣa bắt đầu rơi, ban đầu còn lất phất nhƣng càng ngày càng nặng hạt. Không có cách nào khác, ông giáo bảo ngƣời lái đò: - Thôi đƣợc. Bác chèo trở lại, cho chúng tôi đến chỗ bờ cừ có lối lên chùa. *** - Dễ thƣờng đến năm năm rồi tôi mới trở lại đây. Năm Tân Tỵ hồi sƣ cụ mở khóa Lăng Nghiêm. Lúc đó thầy mới lên sƣ bác. Cảnh chùa ngày nay u nhã hơn nhiều. Thêm một cái ao sen vuông trƣớc điện. Hồi trƣớc đơn sơ thôi. Lau lách còn mọc ngay phía sau điện. Nhà trai chỉ là một chái tranh bề ngang không đƣợc 10 thƣớc. Sao thầy không làm một cuộc khuyến giáo để xây một vòng tƣờng ngoài? Không. Có tƣờng vẫn hơn chứ, ít ra cũng che đƣợc gió lốc. Có trồng đƣợc khóm hoa cúc hay gốc bầu cũng không ngại bị gió dữ phá đi mất. Khi chiều nhìn luống rau xơ xác quanh gốc tùng, tôi càng thất cần phải xây tƣờng... Ông giáo nói loanh quanh nhƣ vậy, từ lúc ngồi với thầy Từ Huệ trong căn phòng ở chái cây. Mùi Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net Nguyễn Mộng Giác SÔNG CÔN MÙA LŨ hƣơng lãng đãng trong văn phòng hẹp và ấm. Tách nƣớc trà đậm trƣớc mặt ông giáo bốc khói, lâu lâu gió bấc bên ngoài lọt qua đƣợc phên cửa, tạt hơi ấm vào lòng bàn tay ông. Thầy Từ Huệ im lặng ngồi xếp bằng trên sập gỗ mộc, kiên nhẫn nghe bạn nói. Mọi ngƣời trong gia đình ông giáo, và các chú tiểu đã đi ngủ. Trong đêm khuya, chỉ còn một nhà sƣ trân trọng lắng nghe lời một nhà nho. Ông giáo nói huyên thiên một hồi, đôi lần muốn nói thẳng với bạn câu chuyện mà ông biết thầy Từ Huệ đang chờ đợi ông kể, nhƣng lƣợn lờ mon men nhiều lần, ông ngại không dám vào đề. Ánh mắt thầy Từ Huệ sáng lên, đôi lông mày nhíu lại chuẩn bị hết tinh thần lắng nghe. Ông giáo dừng lại thật lâu. Mua từ các đọt tranh nhỏ giọt xuống vũng nƣớc đọng dƣới thềm chùa, nghe lóc chóc từng tiếng đều đặn, thong thả. Rồi đáng lẽ đi thẳng, ông giáo lại đi quanh: - Tiếc là chuyến này gấp quá, tôi không đem đƣợc cặp cây kiểng biếu chùa nhà. Công phu 10 năm đấy nhé. Suốt 10 năm công phu tôi mới uốn nắn cặp sơn tùng đó thành hai con rồng giống y nhƣ nhau. Những cái chân đều toàn bằng cây, nhất định tôi không chịu làm chân bằng rễ nhƣ thiên hạ. Thầy bảo sao? Thân hay rễ cũng nhƣ nhau à? Khác chứ. Làm chân bằng rễ phụ là cách phàm phu, kể làm gì. Hơn nữa cái quí là ở công phu ấy. Này nhé, phải uốn cong một nhánh xuống, đè chôn đất. Nó nứt nhánh ngoi lên mới cắt. Cắt mãi đến khi nó phải đâm rễ và bám xuống đất. Lại còn chăm chút sao cho cái thân nó uốn éo nhƣ thân rồng. Chú ý nhé, không đƣợc chọn gốc thủy tùng, vì thân không có vẩy. Chỉ có loại sơn tùng mình mới mong uốn cho giống y hình rồng. Ông giáo nói xong, ngƣng lại thật lâu, nhìn đăm đăm vào khuôn mặt bạn, cái nhìn khinh thị dò dẫm nhƣ muốn lƣờng xem câu nói của mình đã thấm tới đâu. Nhà sƣ vẫn giữ thái độ chú ý trân trọng. Ý chừng không thể im lặng lâu hơn nữa, thầy Từ Huệ hỏi: - Thế cái giống tùng ở phía sau chùa, có thể gây thành cây kiểng đƣợc không? Ông giáo vui mừng thấy bạn bắt đầu nhập vào câu chuyện, vồn vã đáp: - Đƣợc chứ. Tốt quá đi chứ. Từ hồi còn sƣ cụ, tôi đã có lần bảo loại tùng này khá lắm. Thầy có để ý không, ở xa mà nhìn, nó khác nào cây kiểng quí đâu. Cây tùng sau nhà chùa dễ thƣơng lớn đến mấy 6om, ngọn queo cành cỗi, mà lá lại rậm rạp. Trên ngọn lá xoắn thành từng nắm tròn. Thầy biết không, sách Truyện ký chép rằng hễ cây tùng nào có đọt xoắn thành nắm tròn, thì đào dƣới gốc có củ phục linh và hổ phách. Rồi không cần chuyển mạch,vào lúc bất ngờ nhất, ông giáo nói: - Nhƣng mà ôi thôi, nãy giờ chỉ nói toàn chuyện vẩn vơ. Tiếc làm chi cái công phu viển vông ấy, phải không? Vạc sắp đổ, thì sá gì ngọn cỏ dại mọc dƣới bóng vạc. Thầy Từ Huệ sửa mình ngồi ngay ngắn hơn, ngả ngƣời về phía bạn hỏi: - Có biến ở kinh thành ƣ? Thấy thầy, đem cả gia đình đi thế này, tôi đã ngờ, nhƣng không tiện hỏi thẳng. Ông giáo cảm thấy nhẹ nhõm vì đã qua khỏi giai đoạn khách sáo e dè, chậm rãi nói: Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net Nguyễn Mộng Giác SÔNG CÔN MÙA LŨ - Phải nói là đại biến. Rồi thấp giọng xuống, ông bảo bạn: - Thầy cũng phải coi chừng. Ý -đức hầu vừa bị giết hôm qua! Chén trà trên tay thầy Tƣ Huệ run run, nƣớc trà sóng sánh. Theo thói quen, ông giáo lại nhìn dò dẫm phản ứng trên mặt bạn. Đôi mắt nhà sƣ lim dim một lúc lâu, khuôn mặt bất động che giấu những xúc cảm còn lan man bất định. Đến khi ông giáo hết chờ đợi đƣợc nữa, định nói, thì nhà sƣ hỏi: - Ai giết? Ông giáo đáp: - Thầy đoán ra rồi. Lại tên Trƣơng Tần Cối (2). Rồi giọng ông giáo trở nên sôi nổi: - Thầy tƣởng xuống đây núp dƣới bóng Phật thì đƣợc yên sao? Tƣởng tàn khóm cổ tùng che đƣợc gió sao? Thầy có nhớ những gì chúng ta đã nói với nhau khi thầy còn là môn khách của Ý-đức hầu? Tại sao đột nhiên thầy bỏ hết, bỏ hết, xuống trốn đời ở cái xó biển này? Nhà sƣ đặt chén trà xuống, cái chén nghiêng về một phía vƣớng cạnh khay trà, khiến nƣớc đổ lan một khoảng nhỏ trên mặt gỗ. Ông giáo không cho bạn đáp, tiếp tục nói: - Nghe đƣợc tin, tôi phải đem gia đình đi ngay trong đêm. Mấy hôm trƣớc, tôi có trình với Hầu là nên đề phòng. Nhƣng không ngờ chúng dám làm càn đến mức đó. Chúng đã cho ngƣời mai phục sẵn. Nhà sƣ hỏi: - Bây giờ thầy định làm gì? Đi đâu? Ông giáo có vẻ ngạc nhiên, không hiểu tại sao bạn lại hỏi một câu vô nghĩa nhƣ vậy, khựng lại một lúc, do dự, hoang mang. Ông nhìn bạn lần nữa, cố tìm hiểu chủ ý của câu hỏi. Ông giáo không tìm ra cái gì khác ngoài vẻ điềm tĩnh khó hiểu, ngoài cái thản nhiên đáng ghét. Giọng ông trở nên hằn học: - Dĩ nhiên tôi không có ý định xuống trốn ở cái xó này. Thầy yên tâm. Nếu bọn Tần Cối không cấm biển, tôi đã khỏi phải ghé đây làm phiền thầy. Đất ở đây hẹp. Ở đâu cũng có tai mắt bọn Tần Cối nên nhan nhản khắp nơi toàn một lũ hèn. Tôi không chịu đựng nổi nữa. Phải qua bên kia đèo Ngãi lãnh thôi! - Để tìm thờ một chúa khác ƣ? Ông giáo tức giận nói lớn tiếng: - Thầy vừa nói gì thế? Chúa khác à? Trải tám đời khai phá mở mang bờ cõi, còn tìm dòng họ nào xứng đáng hơn nhà Nguyễn Gia Miêu. Chỉ giận tên gian tham chuyên quyền, lung lạc cả ngôi chúa. Nay chỉ còn hy vọng ở hoàng tôn mà thôi. Đất Quảng nam trù phú, dân đông, có thể cậy vào đó làm thế dựa để diệt gian thần, tôn đấng minh quân đƣợc. Thầy nghĩ sao? Nhà sƣ suy tính một lúc, rồi trả lời: Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
- Xem thêm -