Tài liệu So sánh đối chiếu đặc trưng ngôn ngữ văn hóa giữa các yếu tố chỉ đồ vật trong thành ngữ tiếng hán và tiếng việt

  • Số trang: 200 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 3408 |
  • Lượt tải: 3
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -----------***----------- MẠC DIỄN ĐIỀN (MO YAN TIAN) SO SÁNH ĐỐI CHIẾU ĐẶC TRƢNG NGÔN NGỮ VĂN HÓA CÁC YẾU TỐ CHỈ ĐỒ VẬT TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Hà Nội- 2013 Lời cảm ơn Trong quá trình học tập ở Khoa Ngôn ngữ học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội, em đã được các thầy cô trong khoa dạy dỗ tận tình. Trong quá trình học tập, lựa chọn đề tài và làm luận văn, em hết sức cảm ơn thầy Nguyễn Văn Hiệu, một thầy giáo kính mến đã dạy em từ những tiết học tiếng Việt đầu tiên khi em còn là sinh viên năm thứ nhất ở trường Đại học Dân tộc Vân Nam, Trung Quốc. Và em xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo của khoa Ngôn ngữ học, trong quá trình làm bài chính những thành quả nghiên cứu của các thầy cô khiến em được mở mang hơn. Đề tài em khảo sát là một đề tài khá rộng, nên trong quá trình làm luận văn do hạn chế về kiến thức và thời gian, những nội dung nghiên cứu không tránh thiếu sót và bất cập. Em hy vọng các thầy cô có thể chỉ bảo thêm để em có thể tiếp tục đi sâu nghiên cứu theo hướng này trong tương lai. Học viên cao học: Mạc Diễn Điền MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1 2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................. 3 3. Mục đích nghiên cứu của luận văn ............................................................. 3 4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................. 3 5. Cấu trúc luận văn ........................................................................................ 5 CHƢƠNG 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT ............ 7 1.1 . Tình hình nghiên cứu thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt .................. 7 1.2. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt ...................... 8 1.2.1. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Hán............................................... 8 1.2.2. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt ............................................. 10 1.2.3. Đặc điểm của thành ngữ ....................................................................... 11 1.2.4. Phân loại thành ngữ .............................................................................. 15 1.3. Khái niệm, đặc trƣng, ý nghĩa của đồ vật ............................................ 16 1.3.1. Khái niệm về đồ vật ............................................................................... 16 1.3.2. Đặc trưng, ý nghĩa của đồ vật............................................................... 20 1.4. Thành ngữ có yếu tố chỉ đồ vật ............................................................. 22 1.5. Quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và văn hóa ......................................... 23 1.6. Tiểu kết .................................................................................................... 26 CHƢƠNG 2 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA THÀNH NGỮ TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT CÓ YẾU TỐ CHỈ ĐỒ VẬT .................. 29 2.1. Khái quát................................................................................................. 29 2.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Hán có yếu tố chỉ đồ vật...... 31 2.2.1. Đặc điểm sắc thái phong phú của ngữ nghĩa yếu tố chỉ đồ vật trong thành ngữ tiếng Hán........................................................................................ 33 2.2.2. Đặc điểm ngữ nghĩa hoàn chỉnh và cô đọng ........................................ 37 2.2.3. Đặc điểm ngữ nghĩa lấy con người làm trung tâm ............................... 39 2.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ đồ vật ...... 41 2.3.1. Tính biểu trưng của nguồn biểu trưng trong thành ngữ có vật biểu trưng . 43 2.3.2. Tính dân tộc của ngữ nghĩa thành ngữ có yếu tố chỉ đồ vật................. 45 2.3.3. Đặc điểm biểu cảm của ngữ nghĩa........................................................ 47 2.3.4. Đặc điểm diễn biến của ngữ nghĩa thành ngữ tiếng Việt theo chiều mở rộng ........................................................................................................... 47 2.4. Tiểu kết .................................................................................................... 48 CHƢƠNG 3 SO SÁNH ĐẶC TRƢNG NGÔN NGỮ VĂN HÓA THÀNH NGỮ TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT CÓ YẾU TỐ CHỈ ĐỒ VẬT ......... 50 3.1. Văn hóa nhận thức ................................................................................. 51 3.2. Văn hóa tổ chức cộng đồng ................................................................... 55 3.2.1. Tổ chức tập thể ...................................................................................... 56 3.2.2. Tín ngưỡng, phong tục .......................................................................... 58 3.2.3. Nghệ thuật dân gian .............................................................................. 60 3.3. Văn hóa ứng xử với môi trƣờng tự nhiên ............................................ 63 3.3.1. Ăn uống ................................................................................................. 63 3.3.2. Mặc, làm đẹp ......................................................................................... 65 3.3.3. Định cư, đi lại........................................................................................ 69 3.3.4. Lao động, sản xuất ................................................................................ 73 3.4. Văn hóa ứng xử với môi trƣờng xã hội ................................................ 76 3.5 Tiểu kết ..................................................................................................... 79 KẾT LUẬN .................................................................................................... 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 83 PHỤ LỤC MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngôn ngữ sinh ra do nhu cầu của xã hội, nó phục vụ các lợi ích xã hội và phát triển trong sự tương tác với xã hội. Ngôn ngữ là một động lực phát triển xã hội và cũng tìm thấy động lực phát triển của chính mình trong môi trường xã hội, ngôn ngữ là phương tiện truyền tải thông tin và tư tưởng của con người, ngôn ngữ khi có bản chất ký hiệu thì cũng đồng thời thực hiện hai chức năng cơ bản là chức năng giao tiếp và chức năng làm công cụ tư duy. Ngôn ngữ là đặc trưng được các nhà khoa học trên thế giới sử dụng như một đối tượng khai thác các trầm tích văn hóa biểu đạt thông qua hệ thống ngôn ngữ mỗi quốc gia. Tính chất định lượng ấy ngày càng phát triển trong quy luật nghiên cứu, khi mà những bảo tồn về mặt vật thể đang bị đe dọa vì tự nhiên. Vai trò của ngôn ngữ không chỉ được đặt dưới lớp vỏ ngôn ngữ bề ngoài thông dụng. Đó còn là cơ tầng, trầm tích văn hóa sống được mã hóa dưới dạng thông tin ngôn ngữ. Xu hướng nghiên cứu liên ngôn ngữ, xuyên văn hóa ngày càng trở nên phát triển và đạt được những hiệu quả bước đầu. Ý thức về sự bảo tồn văn hóa, giải nguyên cấu trúc văn hóa các khu vực tạo điều kiện cho việc nghiên cứu. Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia có mối quan hệ khăng khít về văn hóa cũng như lịch sử. Hai quốc gia có những điểm tương đồng về điều kiện địa lý, môi trường phát triển, lịch sử song hành trong suốt chuỗi hệ thống tồn tại. Nghiên cứu về văn hóa hai quốc gia trong quá trình giao lưu, vận động giữa các hình thái cấu trúc khác nhau tạo điều kiện cho việc tạo lập sự tương liên, đẩy mạnh mối quan hệ hai quốc gia, dân tộc. Phát huy những yếu tố cơ bản trong quỹ đạo chung của nền văn hóa hai quốc gia. Tạo tiền đề trong việc kiểm chứng và tái tạo những lớp văn hóa đang tồn tại tách biệt. Phục dựng những giá trị văn hóa đưa trên lớp trầm tích ngôn 1 ngữ cần được đánh giá đúng và hiệu quả giữa nền phát triển vừa tương liên vừa khác biệt của văn hóa hai dân tộc. Thành ngữ là một kết tinh văn hóa trong tiếng Việt và tiếng Hán, chứa đựng kinh nghiệm lao động sản xuất, cuộc sống của nhân dân, kế thừa tư duy và văn hóa của thế hệ trước, phản ánh trí tuệ loài người, góp phần không nhỏ trong quá trình phát triển văn hóa xã hội. Yếu tố ấy ngày càng được phong phú, phát triển thêm trong bước phát triển văn hóa mỗi dân tộc. Chính vì đó là một của cải vô giá trong kho tàng tri thức loài người, và có tính đúc kết trí tuệ loài người nên việc nghiên cứu thành ngữ cũng đã thu hút nhiều học giả. Chúng tôi muốn xuất phát từ khía cạnh phân loại sự vật, chứ không phải là góc độ nghĩa hay cấu trúc của thành ngữ, thống kê, so sánh đặc trưng ngôn ngữ văn hóa giữa những thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt có yếu tố chỉ đồ vật. Văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc trong quá trình phát triển đan xen nhau, có nhiều nét tương đồng, tư duy, logic, bối cảnh văn hóa, vì thế nhiều sự thể hiện cái tương đồng, tương tự được thông qua nhiều hình thức. Trong đó, thành ngữ là một phương tiện thể hiện rất sâu sắc của hai nền văn hóa Trung Hoa và Việt Nam. Việc so sánh đặc trưng ngôn ngữ văn hóa giữa những thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt có yếu tố chỉ đồ vật, sẽ một phần nào đó giúp chúng ta hiểu sâu thêm mối liên hệ về văn hóa lịch sử, phong tục tập quán, kinh nghiệm lao động, thế giới quan, nhân sinh quan của nhân dân hai nước. Quan trọng hơn nữa, chúng tôi cho rằng sự đúc kết những tinh hoa trong thành ngữ, là sự thể thiện tinh thần nội tại của hai dân tộc, việc hiểu sâu thêm về vấn đề này, có thể giúp chúng ta hiểu biết nhau nhiều hơn, góp phần tăng cường tình hữu nghị của hai nước, góp phần cho sự nghiệp hòa bình của hai nước. 2 2. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu Luận văn của chúng tôi tập trung vào đối tượng nghiên cứu là thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt có yếu tố chỉ đồ vật, phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu căn cứ vào những thành ngữ đã được thu thập trong các từ điển thành ngữ đang lưu hành rộng rãi trong nhà trường của Trung Quốc và Việt Nam. 3. Mục đích nghiên cứu của luận văn Trong đề tài này, mục đích nghiên cứu trước hết là nhìn nhận vốn thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt có yếu tố đồ vật về mặt ngữ nghĩa. Trên cơ sở phân tích thống kê, khảo sát, và phân tích những đặc điểm nội tại trong văn hóa thành ngữ của hai dân tộc Hán và Việt, so sánh những đặc điểm tương đồng và dị biệt của ngữ nghĩa thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt có yếu tố đồ vật. Giúp chúng ta hiểu sâu thêm mối liên hệ về văn hóa lịch sử, phong tục tập quán, kinh nghiệm lao động, thế giới quan, nhân sinh quan của nhân dân hai nước. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chủ yếu kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp thống kê: Mỗi hiện tượng ngôn ngữ đều có những đặc trưng nhất định cả về chất và lượng. Sự quy đồng ấy được trao đổi thường xuyên thông qua hệ thống sắp xếp ngôn từ và đặc điểm văn hóa. Nghiên cứu tính chất văn hóa là người nghiên cứu đang trực tiếp đóng vai trò tìm hiểu thành ngữ chỉ đồ vật theo tính đa hệ về chất. Đồng hành với vai trò ấy, tính chất định lượng trong hệ thống cấu trúc cũng được người nghiên cứu tham vấn với yếu tố gián tiếp quyết định tính chất tiền đề cho văn hóa. Việc áp dụng 3 phương pháp thống kê trong nghiên cứu ngôn ngữ đã được áp dụng trong nhiều thập kỉ trở lại đây. Trong luận văn thạc sĩ của chúng tôi, các phương pháp thống kê được áp dụng như những mô thức khảo sát tính chất đặc điểm sử dụng thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt chỉ đồ vật. Chúng tôi đã sử dụng phương pháp thống kê số liệu, tần xuất, phương pháp nghiên cứu thống kê từ vựng với hai đối tượng thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt. - Phương pháp miêu tả để miêu tả ngữ nghĩa khi phân tích dữ liệu. - Phương pháp đối chiếu trường từ vựng, ngữ nghĩa, một phương tiện so sánh đặc trưng văn hóa dân tộc của thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt có yếu tố chỉ đồ vật. Phương pháp đối chiếu là thủ pháp nghiên cứu, so sánh nhằm vạch ra cho đối tượng cái chung nhất, đi tìm cái đặc thù của ngôn ngữ được so sánh. Những thập kỉ gần đây, phương pháp này đã tìm được tiếng nói chung trong giới nghiên cứu và được sử dụng rộng rãi. Phương pháp là sự phân mảng đối tượng theo những hệ thống chung nhất, được tìm hiểu trong nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng, xác lập mối quan hệ tương đồng các dân tộc trong ngôn ngữ và văn hóa. Phụ thuộc vào từng thuộc tính, người nghiên cứu có thể phân tầng các ngôn ngữ trong thế đối chiếu, so sánh. Trong giới nghiên cứu ngôn ngữ học, nghiên cứu các trường từ vựng, các nhóm từ vựng – ngữ nghĩa tương đồng là biện pháp chính để tìm hiểu nét đặc thù của các nền văn hóa mỗi dân tộc. Mỗi dân tộc sẽ có một hình ảnh gắn chặt với tư duy liên tưởng về văn hóa, xã hội. Nhiệm vụ của người nghiên cứu là tìm ra mối tương quan nhưng không đồng nhất trong tư duy tập thể. - Phương pháp phân tích thành tố và ngữ nghĩa. 4 Nghiên cứu ngôn ngữ, dù ở cấp độ nào, việc phân tích thành tố đều mang vai trò quan trọng dựa trên lý thuyết ngôn ngữ học cơ bản. Phân tích thành tố là phương pháp có giá trị thực nghiệm và cơ sở nền đối với đối tượng phân tích. Nó được xây dựng dựa trên cơ sở cho phân tích từ vựng – ngữ nghĩa trên phương diện tương phản. Phương pháp phân tích thành tố có ưu điểm là dựa trên tính chất không bắt buộc của tư liệu ngôn ngữ đơn lẻ. Phương pháp đươc áp dụng để phân tích ở nhiều ngôn ngữ, tìm ra quy luật ngữ nghĩa riêng biệt nhưng thống nhất. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ luôn khai thác tính chất phổ quát của phương pháp này để phân tích, đối chiếu. Trong giới hạn luận văn, chúng tôi áp dụng phương pháp nghiên cứu thành tố như là phương pháp nghiên cứu mặt nội dung các đơn vị có ý nghĩa. Chú ý việc phân tách thành các thành phần ngữ nghĩa tối giản có nghĩa. Giai đoạn đầu của phương pháp này là việc xử lý tài liệu về những đối tượng được chọn lọc nghiên cứu theo quy tắc đồng đẳng (đồ vật theo vai trò sử dụng: vũ khí, sinh hoạt, thờ cúng, lao động sản xuất...). Tiếp theo là quá trình phân tích số liệu và phân tích ngữ nghĩa các tên gọi được phân lập có mối quan hệ tương cận hay tương khắc. Phương pháp phân tích thành tố cho phép giải quyết yêu cầu đặc trưng của việc nghiên cứu so sánh đặc trưng ngôn ngữ văn hóa của thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt có yếu tố chỉ đồ vật. 5. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận ra, luận văn bao gồm những phần sau: Chương 1. Tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết. Chương 2. Khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt có yếu tố chỉ đồ vật. 5 Chương 3. So sánh đặc trưng ngôn ngữ văn hóa giữa những thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt có yếu tố chỉ đồ vật. 6 CHƢƠNG 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1. Tình hình nghiên cứu thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt Có thể nói thành ngữ là một tiêu điểm được nhiều người Trung Quốc học tiếng Việt Nam và nhiều người Việt Nam học tiếng Trung Quốc quan tâm, liên quan đến nghiên cứu thành ngữ, có thể chia thành nhiều loại như nghiên cứu tính chỉnh thể của thành ngữ, nghiên cứu ngữ âm thành ngữ, nghiên cứu kết cấu của thành ngữ, nghiên cứu ngữ nghĩa của thành ngữ, nghiên cứu ngữ nguyên của thành ngữ, nghiên cứu sử dụng thành ngữ, nghiên cứu văn hóa của thành ngữ, nghiên cứu so sánh thành ngữ đa ngôn ngữ chẳng hạn thành ngữ tiêng Hán và tiếng Việt. Theo thống kê, các bài luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, báo cáo khoa học riêng về nghiên cứu so sánh thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt đã có hơn 30 bài được công bố tại Trung Quốc, trong đó bao gồm những bài viết của lưu học sinh Việt Nam du học tại Trung Quốc. Những bài văn này toàn mang tính chất so sánh thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt đã đề cập đến vấn đề hình thức tu từ, những trường từ vựng – ngữ nghĩa như cơ thể con người, động thực vật, trang phục, nguồn gốc xuất xứ của thành ngữ như thành ngữ phật giáo, và nghiên cứu những lỗi thường mắc của lưu học sinh Việt Nam trong quá trình học thành ngữ tiếng Hán. Thành ngữ là một tinh hoa kho tàng từ vựng tiếng Việt, thu hút nhiều người quan tâm, và đến bây giờ cũng đã có rất nhiều sách vở, báo cáo khoa học, luận văn viết về thành ngữ. Phạm vi nghiên cứu của họ rất rộng rãi, từ vấn đề sưu tập, phân loại, nghiên cứu nguồn gốc xuất xứ đến vấn đề so sánh với các ngôn ngữ khác, nhằm mục đích phổ biến thành ngữ trong sử dụng hàng ngày và giúp cho giới ngôn ngữ 7 hiểu sâu thêm về ngôn ngữ và văn hóa. Đồng thời giúp cho giáo viên và học sinh trong quá trình học tập hiểu về bản chất thành ngữ và văn hóa dân tộc và nước ngoài. 1.2. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt Xét về bình diện ngôn ngữ, thành ngữ là phương tiện có giá trị diễn đạt rất độc đáo. Nó tham gia vào việc tạo ra các phát ngôn, các văn bản súc tích, sinh động, giàu hình tượng, có tính gợi tả. Do đó thành ngữ luôn có sức hấp dẫn và có sức thuyết phục cao, từ xưa đến nay được mọi người sử dụng trong giao tiếp hàng ngày cũng như tác phẩm chữ viết. tuy nhiên về khái niệm thành ngữ vẫn chưa có một định nghĩa cố định được giới nghiên cứu áp dụng, mà khi trong quá trình phát trình ngôn ngữ cũng như theo sự phát triển của xã hội, kho tàng thành ngữ dần dần được phong phú thêm. 1.2.1. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Hán Có thể nói rằng thành ngữ là một tinh hoa ngôn ngữ và tinh hoa văn hóa của dân tộc Trung Hoa, nó đúc kết những trí tuệ của dân tộc Trung Quốc và trong suốt chiều dài lịch sử mà không ngừng được phát triển. Sự xuất hiện của thành ngữ có thể tận đến thời xuân thu chiến quốc. Theo Từ Diệu Dân, trước khi hai chữ thành ngữ xuất hiện thì người ta thường gặp khái niệm thành ngôn. Hai chữ này xuất hiện sớm nhất trong Kinh Dịch, Tả Truyện, Sử Ký và một số thư tịch cổ khác. Học giả, nhà văn học thời Kim Vương Nhược Hư (王若虚) quan niệm rằng thành ngôn là câu nói của một tổ chức phi lâm thời không thể thay đổi, nội hàm của nó đại thể tương đương với thành ngữ mà ngày nay vẫn nói, những xét các ví dụ được dẫn thì đều thuộc tục ngữ. 8 Trong cuốn 汉语语汇 (Hán ngữ ngữ hội (ngữ vựng) học), Ôn Đoan Chính ( 温端政) có dẫn theo cuốn 陈书.姚宰传 (Trần thư. Trần Tể Truyện) của tác giả Diêu Tư Liêm 姚思廉 thời nhà Đường chép “言为心使, 心爱言铨, 和合根尘, 鼓 动风气,故成语也”. Nghĩa là“ngôn ngữ từ trong tư duy, muốn diễn đạt tư duy thì phải nhờ vào ngôn ngữ, sống hòa hợp phải bắt đầu từ việc nhỏ, tiếng trống vang lên thì khí thế nổi trời, đó chính là thành ngữ”.[56;284]. Đến thời cận đại, khái niệm thành ngữ đã được xác định chính thức qua một số từ điển như sau: - Từ Nguyên (biên soạn năm 1908, năm 34 Quang Tự thời Thanh, xuất bản năm 1915) coi thành ngữ là cổ ngữ, phàm những gì lưu hành trong xã hội, có thể dẫn đến biểu thị ý nghĩa của mình đều là thành ngữ.[47;653] - Từ Hải (biên soạn năm 1915, xuất bản năm 1936) coi những cổ ngữ mà được người ngày nay dẫn dụng là thành ngữ. Thành ngữ có nguồn gốc hoặc từ kinh truyện, từ ngạn ngữ ca dao được người dân quen biết truyền miệng.[52;768] Trong quyển Từ Hải xuất bản năm 1979 được sửa đổi, định nghĩa đối với thành ngữ được mở rộng là thành ngữ thuộc một loại của thục ngữ, là những từ cố định hoặc đoản cú có kết cấu ngắn gọn, ý nghĩa súc tích, lâu nay được xã hội quen dùng. [38;690] Đến những năm thập kỷ 80, trong cuốn Hán ngữ hiện đại 现代汉语, Hồ Dục Thụ có viết: “Thành ngữ là một loại từ tổ nhất định, tính chất của nó gần với quán ngữ, thường được sử dụng như một đơn vị với ý nghĩa hoàn chỉnh, nhưng so với quán ngữ thì thành ngữ có tính cố định hơn. Thông thường thì thành ngữ có kết cấu chặt 9 Ket-noi.com Ket-noi.com kho kho tai tai lieu lieu mien mien phi phi chẽ, không thể tùy ý thay đổi các thành phần, cũng không như quán ngữ có thể tách rời hoặc chen vào một số thành phần khác.” [42;175]. Cũng trong thời kỳ này, các tác giả Hoàng Bá Vinh, Liêu Tự Đông (1981), Trương Tĩnh (1980) cũng cho rằng thành ngữ là “những từ cố định đặc biệt, được mọi người quen dùng xưa nay”, nhìn về nội dung và hình thức, thành ngữ có hai đặc điểm cơ bản là tình hoàn chỉnh về nghĩa và tính cố định về kêt cấu. [43;221] Thập kỳ 90, trong cuốn Thành ngữ cửu chương, tác giả Nhi Bảo Nguyên và Nhiêu Bằng Từ hiểu về khái niệm như sau: Thành ngữ là những từ tổ cố định, được mọi người lâu nay quen dùng, có ý nghĩa hoàn chỉnh, kết cấu ổn định, hình thúc ngắn gọn, được sử dụng như một chỉnh thể. Tác giả còn cho rằng đặc điểm của thành ngữ là tính quen dùng về mặt lịch sử, tính hoàn chỉnh về mặt ý nghĩa, tính ổn định về mặt kết cấu, tính ngắn gọn về mặt hình thức và tính chỉnh thể về mặt sử dụng.[51;6] Cuốn Từ điển Hán ngữ hiện đại 现代汉语词典 đưa ra khái niệm: “ Thành ngữ là những tổ từ hay đoản cú cố định, hình thức ngắn gọn, ý nghĩa sâu sắc, mà được mọi người lâu nay quen dùng. Thành ngữ Hán đại đa số do bốn chữ tạo nên, và thường có nguồn gốc xuất xứ” .[49;236] Có thể thấy rằng, trong suốt lịch sử phát triển, cách hiểu về thành ngữ khác nhau ở từng giai đoạn lịch sử, dựa trên những thành quả nghiên cứu của những người đi trước. Trong bài luận văn, chúng tôi kết hợp những quan niệm và khái niệm trên có thể tập hợp những đặc điểm của thành ngữ tiếng Hán như sau: - Thành ngữ là những cụm từ cố định, - Có ý nghĩa sâu sắc, được mọi người lâu nay quen dùng, có nguồn gốc xuất xứ về nghĩa, 10 - Có tính cố định về kết cấu và tính hoàn chỉnh về nghĩa, - Đa số là bốn âm tiết - Mang phong cách văn viết, khác với các thục ngữ khác như tục ngữ, yết hậu ngữ, ngạn ngữ 1.2.2. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt Thành ngữ trong tiếng Việt được các nhà nghiên cứu định danh dựa trên những đặc điểm như sau: Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê viết “Thành ngữ là một tập hợp từ cố định đã quen dùng, mà nghĩa thường không được giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa các từ tạo nên nó” [16; 915]. Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt” chỉ rõ: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm [9; 77]. “Đại từ điển Tiếng Việt” của Nguyễn Như Ý viết: “Thành ngữ là tập hợp từ cố định quen dùng có ý nghĩa định danh gọi tên sự vật, thường không kể suy ra từ nghĩa của từng yếu tố cấu tạo thành và được lưu truyền trong dân gian và văn chương” [25; 1530]. 1.2.3. Đặc điểm của thành ngữ Dựa trên những khái niệm thành ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt, đặc điểm đa dạng trong cách định danh thành ngữ là những nghi vấn cần được xác thực. Những khái niệm chưa thống nhất trên cũng là đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu một phương thức dân gian nào đó. Dựa trên phương thức tổng hợp khái niệm, cơ sở của quá trình nghiên cứu ngôn ngữ học, chúng tôi nhận dạng những đặc điểm chung của thành ngữ hai nước như sau: 11 Ket-noi.com Ket-noi.com kho kho tai tai lieu lieu mien mien phi phi Thứ nhất: Thành ngữ là tập hợp tổ từ cố định quen dùng, chặt chẽ, hoàn chỉnh về hình thái cấu trúc. Tính cố định và bền vững của hình thái cấu trúc của thành ngữ thể hiện ở các thành tố trong thành ngữ nói chung là ổn định, không được tùy tiện thay thế bằng các yếu tố khác, hoặc không được thay đổi trật tự các thành tố tạo nên thành ngữ, khác với các tổ hợp từ khác như tục ngữ, quán ngữ, ca dao..., thành ngữ tạo lập cho mình một kết cấu ổn định. Trong thành ngữ “xếp bút nghiên” hay “笔底春风( bǐ dǐ chūn fēng/bút đề xuân phong), chúng ta không thể bẻ gẫy kết cấu để đọc chệch đi so với văn bản gốc. Người ta không thể viết “nghiên xếp bút” hay “xuân bút đề phong”. Nếu như vậy, cấu trúc câu sẽ bị phá vỡ về mặt nghĩa. Tất nhiên, không phải tất cả các thành ngữ đều theo quy tắc này. Chúng ta có thể thấy sự xuất hiện song song của các cặp thành ngữ “môi son má phấn”- “má phấn môi son”, “không kèn không trống” – “không trống không kèn”. Sự tồn tại của những thành ngữ trên là đặc điểm phi cú pháp của thành ngữ, bộc lộ ở tính đối ứng thường có những cấu trúc xen lồng vào nhau của thành tố ngữ pháp. Nhiều cặp thành ngữ khác nhau được hình thành trên đặc trưng biến thể đồng nghĩa ấy. Nhưng sự cấu thành ấy không nhiều, và khi đặc điểm cấu trúc đã tồn tại ở một dạng thức nhất định thì những biến thể không xảy ra. Trong hình thái cấu trúc của thành ngữ, chúng ta không thể không nhắc đến một hình thức ngữ pháp của thành ngữ, đó là tứ tự cách. Tứ tự cách là một kết cấu xuất hiện nhiều nhất trong thành ngữ tiếng Hán, trong cuốn Thực Dụng Thành Ngữ Từ Điển, 常晓帆(Thường Hiểu Phàm) biên soạn, thu thập hơn 8300 thành ngữ tiếng Hán, thành ngữ Tứ Tự Cách chiếm khoảng 95%.[36;7]Thành Ngữ Lệ Thị, Nhi Bảo Nguyên biên soạn, thu thập hơn 1000 thành ngữ, toàn bộ đều là Tứ Tự Cách.[52;800] 12 Thành ngữ tiếng Hán về mặt kết cấu đều thiên về tứ tự cách. Đối với thành ngữ, ít hơn bốn chữ thì mở rộng thành bốn chữ, nhiều hơn bốn chữ thì bớt thành bốn chữ, ví dụ “弹冠而庆(tán guan ãr qìng/Đàn quán nhi khánh )” từ nguyên là “弹冠(tán guan/đàn quán )”, “如鸟兽散(rú niǎo shîu sàn/Như điểu thú tán)” từ nguyên là “鸟 兽散(niǎo shîu sàn/niăo shòu sàn/điểu thú tán)”, về sau đều phát triển thành thành ngữ bốn chữ. Từ nguyên của “乘风破浪(chãng fēng pî làng/thừa phong phá lãng)” là “乘长风破万里浪(chãng cháng feng pî wàn lǐ làng/thừa trường phong phá vạn lý lãng)”,từ nguyên của “青出于蓝(qing chu yú lán/Thanh xuất như Lam)” là “青 取之于蓝而青于蓝(qing qǔ zhi yú lán ãr qing yú lán/thanh thủ chi như lam nhi thanh như lam )”, từ nguyên của “茹毛饮血(rú máo yǐn xǜe/như mao dịch huyết)” là “饮其血, 茹其毛(yǐn qí máo/rú qí xǜe/dịch kỳ huyết, như kỳ mao)”. Có người nói, tứ tự cách chưa chắc là thành ngữ, nhưng thành ngữ chắc là tứ tự cách, cách nói hơi tuyệt đối nhưng về cơ bản cũng không sai. Đối với thành ngữ, tứ tự cách là một hình thức kết cấu mạnh mẽ. Trong thành ngữ tiếng Việt, số lượng thành ngữ của 4 âm tiết cũng đã chiếm khoảng 71% trong toàn bộ thành ngữ tiếng Việt. Thứ hai: Ngữ nghĩa hoàn chỉnh, cô đọng và bóng bảy. Cấu trúc ổn định của thành ngữ quyết định tính hoàn chỉnh về ý nghĩa của đối tượng này. Một cấu trúc cố định đồng hành với nghĩa hoàn chỉnh. Việc xác định ý nghĩa của thành ngữ dựa trên đặc điểm ngôn ngữ, hình tượng văn hóa tượng trưng. Điều kiện ấy cũng là yếu tố chủ quan để chúng ta xác định ý nghĩa của thành ngữ. Các thành ngữ có một đặc trưng riêng, mang những sắc thái nghĩa lưỡng tuyến. Chúng ta có thể xác định ngay ý nghĩa biểu đạt trên ngôn từ của tác phẩm nhưng tầng 13 Ket-noi.com Ket-noi.com kho kho tai tai lieu lieu mien mien phi phi nghĩa biểu tượng, mang sắc thái văn hóa dân tộc thì phải sử dụng linh hoạt vốn kiến thức xã hội. Thành ngữ (idiom) là những cụm từ mà trong cơ cấu cú pháp và ngữ nghĩa của chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó. Nói cách khác, thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó. Ngay cả khi biết nghĩa của tất cả các từ trong đó vẫn chưa thể đoán chắc nghĩa thành ngữ của cả cụm từ đó. Trong tiếng Việt. mẹ tròn con vuông, nước đổ lá khoai, chó ngáp phải ruồi,… là những thành ngữ, bởi vì ý nghĩa của chúng không phải là ý nghĩa của các thành tố hợp lại theo quy tắc cú pháp. Vì thế, nghĩa của các thành ngữ phải được học riêng biệt. Thành ngữ có tình hoàn chỉnh về nghĩa nhưng lại có tính chất tách biệt của các thành tố trong kết cấu, do đó nó hoạt động trong câu với tư cách tương đương với một từ cá biệt. (23, 210) Đối với thành ngữ, nghĩa bóng có tầm quan trọng đặc biệt, nghĩa bóng được tạo nên bởi nhiều phương thức tu từ như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, khoa trương,v.v… Lấy ví dụ trong thành ngữ “giận cá chém thớt”. Nếu xét trên mặt ngôn từ, câu thành ngữ chỉ một hành động “chém thớt”, trong trạng thái cảm xúc “giận cá”. Nhưng ngoài lớp nghĩa đen ấy, khi khéo léo sử dụng vốn kiến thức xã hội, chúng ta nhận thấy hai một tầng nghĩa khác ẩn sau lớp nghĩa mang tính biểu đạt ấy “giận người này mà không làm được gì, lại trút nỗi bực tức lên đầu người khác có liên quan để trả thù hoặc bõ cơn tức”. Nghĩa bóng là đặc tính của thành ngữ, mối quan hệ của nghĩa bóng và nghĩa đen thể hiện ở chỗ: nghĩa đen là gốc. là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của nghĩa bóng (nghĩa phát sinh)(24, 111). Thứ ba: Có nguồn gốc, xuất xứ, sử dụng trong lời ăn tiếng nói, văn chƣơng. 14 Thành ngữ được sáng tạo ra qua những lời ăn tiếng nói, trầm tích văn chương. Nhưng cũng chính thành ngữ trở lại, làm giàu và phong phú thêm cho văn chương nhân loại. Thành ngữ mang nhiều màu sắc gợi cảm, là chất nền đầy tiềm năng cho sáng tạo nghệ thuật. Chúng ta có thể bắt gặp điển tích được chắt lọc tạo ra những thành ngữ dân gian. Thành ngữ “lá thắm chỉ hồng”, “bát cơm phiếu mẫu”, “châu về Hợp Phố”... là những thành ngữ nguyên gốc mang đặc điểm điển tích dân gian, có xuất xứ rõ ràng. Đồng thời trong thi ca, chúng ta cũng bắt gặp những công trình được xem là bảo tàng sống về thành ngữ. Trong văn chương của người Việt Nam, người ta thường nhắc tới Truyện Kiều của Nguyễn Du như một sáng tạo mang tính dân tộc thông qua cách sử dụng thành ngữ dân gian hợp lý. Thành ngữ được sử dụng trong tác phẩm: Tính chất kế thừa và bảo lưu của thành ngữ trong lời ăn tiếng nói, sáng tạo văn chương được thực hiện một cách có hệ thống và sáng tạo. Thành ngữ được gìn giữ cũng chính nhờ ưu điểm này. 1.2.4. Phân loại thành ngữ Theo các nhà nghiên cứu thành ngữ ở Trung Quốc, họ dựa trên những tiêu chí khác nhau để phân biệt thành ngữ tiếng Hán ra nhiều loại, như có nhà nghiên cứu phân loại thành ngữ theo nguồn gốc xuất xứ phân chia thành ngữ có thành ngữ của thần thoại hoặc ngụ ngôn như “画饼充饥(huà bǐng chōng jī/họa bính sung cơ)”, “掩 耳偷铃(yǎn ěr tōu lín/yểm nhĩ thâu linh)”, thành ngữ của thục ngữ tiếng lóng như “ 猢狲入布袋(hú sūn rù bù dài/hồ tôn nhập bố đại)”, “海水不可斗量(hǎi shuǐ bù kě dǒu liáng/hải thủy bất khả đẩu lượng)”, thành ngữ của sự kiện lịch sử hoặc điển cố như “完璧归赵(wán bì guī zhào/viên bích quy Triệu)”, “杯酒释兵权(bēi jǐu shì bīng quán/bôi tửu thích binh quyền)”, thành ngữ của thơ ca như “壶中日月(hú 15 Ket-noi.com Ket-noi.com kho kho tai tai lieu lieu mien mien phi phi zhōng rì yuè/hồ trung nhật nguyệt) (thơ Lý Bạch)”, “千锤百炼(qiān chuí bǎi liàn/thiên chùy bách luyện)”. Còn nhà nghiên cứu dựa trên tiêu chí cấu trúc ngữ pháp phân loại thành ngữ có thành ngữ chủ vị, thành ngữ đẳng lập, thành ngữ chính phụ, thành ngữ thuật tân, thành ngữ kiêm ngữ. tiêu chí được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến là dựa vào cách tu từ của thành ngữ như tỉ dụ, ẩn dụ, so sánh, vân vân. Trong giới nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt, các nhà nghiên cứu học phân loại thành ngữ cũng dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau phân chia thành ngữ ra nhiều loại khác nhau. Theo tác giả Hoàng Văn Hành, căn cứ vào phương thức tạo nghĩa có thể phân chia thành ngữ tiếng Việt ra thành ngữ so sánh (đắt như tôm tươi, nợ như chúa chổm) và thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng (chuột sa chĩnh gạo, lười chảy thây), và thành ngữ thường. Căn cứ vào cấu trúc thì có thế chia thành ngữ thành hai loại là thành ngữ đối xứng (gan vàng dạ sắt) và thành ngữ phi đối xứng.(11;7) Tác giả Nguyễn Thiện Giáp lấy tiêu chí cơ chế cấu tạo chia thành ngữ ra hai loại lớn: a) thành ngữ hợp kết, b) thành ngữ hòa kết. (10;157)Trịnh Đức Hiển căn cứ vào đặc điểm cấu trúc, chia thành ngữ thàn 3 kiểu: a) thành ngữ đối, b) thành ngữ so sánh, c) thành ngữ thường.(14;76) Theo nhóm tác giả Hữu Đạt – Trần Trí Dõi – Đào Thanh Lan chia thành ngữ làm hai loại lớn là thành ngữ so sánh và thành ngữ chỉ quan hệ nhân quả, hoặc theo tiêu chí thời gian phân chia thành ngữ ra thành ngữ cũ và thành ngữ mới.(6;137) 1.3. Khái niệm, đặc trƣng, ý nghĩa của đồ vật 1.3.1. Khái niệm về đồ vật Khái niệm về đồ vật là đối tượng tổng hợp và được phân định rõ ràng, nhất quán trong quá trình khu việt định nghĩa. Chúng tôi đã thực hiện khảo sát định nghĩa về 16
- Xem thêm -