Tài liệu Sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo pháp luật việt nam

  • Số trang: 115 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 47 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LÊ THỊ HUYỀN Së h÷u chung hîp nhÊt cña vî chång theo ph¸p luËt ViÖt Nam Chuyên ngành: Luật dân sự Mã số: 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN CỪ HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Lê Thị Huyền MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỞ HỮU CHUNG HỢP NHẤT CỦA VỢ CHỒNG ........................................................ 7 1.1. Một số khái niệm ................................................................................ 7 1.1.1. Khái niệm về sở hữu, quyền sở hữu ..................................................... 7 1.1.2. Khái niệm về sở hữu chung ................................................................ 10 1.1.3. Khái niệm về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng .......................... 12 1.2. Khái quát các quy định về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng trong hệ thống pháp luật Việt Nam ..................................... 13 1.2.1. Theo cổ luật ........................................................................................ 13 1.2.2. Trong thời kỳ Pháp thuộc ................................................................... 15 1.2.3. Thời kỳ miền Nam nƣớc ta trƣớc ngày thống nhất đất nƣớc (1954 -1975) ....................................................................................... 20 1.2.4. Quy định về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo hệ thống pháp luật của nhà nƣớc ta từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay .................................................................................... 25 1.3. Quy định về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng trong pháp luật của một số nước trên thế giới ......................................... 30 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 33 Chương 2:QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ SỞ HỮU CHUNG HỢP NHẤT CỦA VỢ CHỒNG............................ 35 2.1. Căn cứ xác lập sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng .................. 35 2.1.1. Dựa vào thời kỳ hôn nhân .................................................................. 36 2.1.2. Dựa vào nguồn gốc tài sản ................................................................. 46 2.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất ......................................................................... 52 2.2.1. Quyền của vợ, chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất........ 52 2.2.2. Nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung hợp nhất .................... 55 2.3. Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000 ........................................................................... 57 2.3.1. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân .................. 57 2.3.2. Chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn ...................... 60 2.3.3. Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trƣớc .................. 63 KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 67 Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ SỞ HỮU CHUNG HỢP NHẤT CỦA VỢ CHỒNG ............................................................... 69 3.1. Thực tiễn áp dụng chế độ sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng ........ 69 3.1.1. Những kết quả đạt đƣợc trong thực tiễn áp dụng chế độ sử hữu chung hợp nhất của vợ chồng ..................................................... 69 3.1.2. Những vƣớng mắc, bất cập khi áp dụng chế độ sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng ....................................................................... 72 3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện và áp dụng pháp luật về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. ..................... 91 3.2.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật ..................................... 91 3.2.2. Chế độ tài sản theo thỏa thuận (hôn ƣớc)........................................... 99 3.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ............................ 100 KẾT LUẬN CHƢƠNG 3.............................................................................. 102 KẾT LUẬN .................................................................................................. 103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 105 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLDS Bộ luật dân sự CNXH Chủ nghĩa xã hội DLBK Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 DLGYNK Tập Dân luật giản yếu Nam Kỳ năm 1883 DLTK Dân Luật Trung Kỳ năm 1936 HĐTPTANDTC Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao HN&GĐ Hôn nhân và gia đình HVLL Hoàng Việt Luật Lệ LGĐ Luật Gia đình QTHL Quốc Triều hình luật TAND Tòa án nhân dân TANDTC Tòa án nhân dân tối cao XHCN Xã hội chủ nghĩa DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng Bảng 3.1: Tên bảng Ngƣời đứng tên giấy tờ sở hữu/quyền sử dụng một số tài sản phân theo thành thị - nông thôn Bảng 3.2: Trang 73 Quan niệm về việc chồng hay vợ đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác theo khu vực sinh sống 74 Bảng 3.3: Tỉ lệ án hôn nhân gia đình về tranh chấp tài sản chung so với tổng số án hôn nhân gia đình một số năm gần đây 86 Bảng 3.4: Số liệu về án hôn nhân gia đình có tranh chấp tài sản chung theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm 88 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dƣỡng con ngƣời, là môi trƣờng quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hôn nhân gia đình là mối quan hệ xã hội quan trọng nhất trong cuộc sống. Do đó, trong vấn đề hôn nhân gia đình nói chung và vấn đề tài sản trong gia đình nói riêng, ngƣời Việt thƣờng đề cao lợi ích của gia đình hơn lợi ích của mỗi cá nhân. Tài sản chung là thứ cần có để tạo điều kiện cho việc nhân danh lợi ích gia đình khi tham gia vào các giao dịch. Đó cũng là lý do Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 09/06/2000 quy định chế độ sở hữu của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất. Tài sản chung của vợ chồng là khối tài sản góp phần đảm bỏ nhu cầu đời sống của gia đình nhằm duy trì cuộc sống cũng nhƣ thỏa mãn các nhu cầu về tinh thần, vật chất của vợ chồng, các nghĩa vụ phát sinh trong quá trình hôn nhân tồn tại. Khối tải sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng không phải là tồn tại mãi mãi, mà cũng nhƣ quan hệ vợ chồng sẽ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng thay đổi trong một số trƣờng hợp nhƣ: chia tài sản chung của vợ chồng trong thời ký hôn nhân, chia tài sản khi ly hôn, chia tài sản khi một bên vợ hoặc chồng chết trƣớc,... Bên cạnh đó trong thực tiễn xét xử các tranh chấp tài sản khi ly hôn cho thấy vụ việc khá phức tạp, và chủ yếu phát sinh do cách áp dụng pháp luật để xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng còn thiếu chính xác. Việc xác định tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng là rất quan trọng, đặc biệt là thời điểm hiện nay khi mà xã hội luôn có sự vận động, phát triển kéo theo các mối quan hệ phức tạp và khó xác định hơn. Khi việc xác định tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng chính xác sẽ giúp cho việc giải quyết tranh chấp dễ dàng hơn, giúp giảm bớt tranh chấp tài sản phát sinh liên quan đến HN&GĐ. 1 Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn nữa cũng nhƣ muốn đƣa ra những quan điểm của bản thân về vấn đề này dựa trên cơ sở những kiến thức đã đƣợc tích lũy trong quá trình học tập và tình hình áp dụng pháp luật trên thực tiễn, tác giả đã chọn đề tài: "Sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo Pháp luật Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn thạc sĩ của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận những nội dung cơ bản của sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng trong quy định pháp luật hiện hành mà chủ yếu là Luật HN&GĐ năm 2000. Bên cạnh đó xác định những bất cập trong thực tiễn và đề xuất những giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật trong thời gian tới và nâng cao hiệu quả việc thực hiện, bảo vệ quyền sở hữu chung nói chung, sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng nói riêng ở nƣớc ta hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu, cần phải thực hiện các nhiệm vụ nhƣ sau: - Tìm hiểu một số vấn đề lý luận chung về sở hữu, sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, về các căn cứ xác lập, chấm dứt sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. - Làm sáng tỏ bản chất pháp lý của chế định sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo quy định pháp luật Việt Nam. - Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật ở nƣớc ta hiện nay về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. - Phân tích đƣợc những hạn chế và những vƣớng mắc của việc áp dụng pháp luật liên quan đến sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. - Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng; tạo sự nhận thức và áp dụng pháp luật đƣợc thống nhất. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo quy định 2 của pháp luật Việt Nam. Cụ thể là nghiên cứu các vấn đề: Khái niệm sở hữu chung, sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng; căn cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng; thực hiện quyền sở hữu chung hợp nhất;…. Luận văn nghiên cứu chủ yếu các quy định về tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo Luật HN&GĐ và các luật khác liên quan (Luật Dân sự, Luật Đất Đai,...) trong hệ thống pháp luật của Nhà nƣớc ta. Nghiên cứu vấn đề sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng một cách có hệ thống và làm rõ hơn sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo quy định của pháp luật Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Luận văn nghiên cứu quy định pháp luật từ khi Luật HN&GĐ năm 2000 đƣợc ban hành cho đến nay, việc áp dụng các quy định của pháp luật về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, những vấn đề liên quan chƣa đƣợc đề cập trong Luật HN&GĐ năm 2000. Đồng thời, luận văn nêu một số vấn đề trong thực tiễn áp dụng các quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Bên cạnh đó, luận văn còn có sự phân tích, đối chiếu, so sánh với quy định về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng trong pháp luật một số nƣớc khác để tham khảo trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng trong Luật HN&GĐ của nƣớc ta. Mặt khác, luận văn cũng hệ thống sơ lƣợc những quy định về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo pháp luật của nhà nƣớc ta từ năm 1945 đến khi Luật HN&GĐ năm 2000 đƣợc ban hành. 4. Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở khoa học - Cơ sở lý luận: Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên phƣơng pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc về HN&GĐ. Đồng thời luận văn còn kế thừa các công trình nghiên cứu của tập thể và các cá nhân liên quan đến đề tài. - Cơ sở pháp lý: Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên các văn bản luật hiện 3 hành có liên quan đến quy định về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng: Luật HN&GĐ năm 2000, Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Đất Đai năm 2003,… và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Để hoàn thành luận văn này tác giả đã sử dụng nhiều phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó đặc biệt coi trọng các phƣơng pháp sau: + Phƣơng pháp lịch sử đƣợc sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu chế độ sở hữu chung của vợ chồng qua các thời kỳ ở Việt Nam; + Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp đƣợc sử dụng khi phân tích các vấn đề liên quan đến chế độ sở hữu chung của vợ chồng và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề đƣợc nghiên cứu trong luận văn; + Phƣơng pháp so sánh đƣợc thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành với hệ thống pháp luật trƣớc đây ở Việt Nam cũng nhƣ pháp luật của một số nƣớc khác quy định về chế độ tài sản chung của vợ chồng. Qua đó, phân tích nét tƣơng đồng và đặc thù của pháp luật Việt Nam quy định về chế độ tài sản chung của vợ chồng, phù hợp với điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội và tập quán của gia đình truyền thống Việt Nam; + Phƣơng pháp thống kê đƣợc thực hiện trong quá trình khảo sát thực tiễn hoạt động xét xử của ngành Tòa án, với các số liệu cụ thể giải quyết các tranh chấp từ quan hệ HN&GĐ liên quan đến tài sản giữa vợ và chồng. Tìm ra mối liên hệ giữa các quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng đã phù hợp hay chƣa? Các lý do? Từ đó xem xét nội dung quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng, với thực tiễn của đời sống xã hội nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này. 5. Những điểm mới của luận văn Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu và phân tích một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về chế độ sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam. Ngoài những điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về chế độ tài sản 4 của vợ chồng, với đề tài này, luận văn đƣợc trình bày với những điểm mới sau đây: - Xây dựng và phân tích khái niệm sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Hệ thống quy định của pháp luật về: căn cứ, nguồn gốc xác lập tài sản chung; quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với loại tài sản này; các trƣờng hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng theo luật định. - So sánh chế độ sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nƣớc khác để thấy rõ nét tƣơng đồng và đặc thù. - Luận văn làm rõ việc xác định "thời kỳ hôn nhân" là căn cứ chung để xác lập tài sản chung của vợ chồng trong các trƣờng hợp cụ thể: + Khi một bên vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích; + Khi một bên vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà trở về; + Khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: chế độ tài sản của vợ chồng đƣợc hiểu và áp dụng nhƣ thế nào, sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng; + Xác lập tài sản chung của vợ chồng với trƣờng hợp nam nữ sống chung với nhau nhƣ vợ chồng mà không đăng ký kết hôn mà đƣợc công nhận là vợ chồng (trƣớc đây còn gọi là “hôn nhân thực tế”) theo pháp luật hiện hành. - Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. - Qua việc phân tích thực tiễn áp dụng luật về chế độ tài sản chung của vợ chồng, luận văn chỉ rõ những vấn đề bất cập, không hợp lý, chƣa bảo đảm đƣợc tính khoa học về những quy định của luật thực định khi điều chỉnh chế độ tài sản chung của vợ chồng; từ đó, nêu các kiến nghị hoàn thiện các quy định về chế độ tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật hiện hành. - Với những kết quả nghiên cứu trong luận văn đã là căn cứ khoa học, đáp ứng đƣợc những yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn để giúp cơ quan lập pháp sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật quy định về tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ, chồng. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn Hoàn thành luận văn này, tác giả hy vọng rằng, những kiến thức khoa học 5 trong luận văn đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy luật học tại các cơ sở đào tạo luật ở nƣớc ta; đặc biệt, đối với chuyên ngành luật HN&GĐ và pháp luật Dân sự. Nội dung của luận văn có ý nghĩa thiết thực cho mọi cá nhân, đặc biệt là cho các cặp vợ chồng tìm hiểu các quy định về chế độ sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng; biết đƣợc cơ sở pháp lý tạo lập các loại tài sản chung của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ cụ thể của vợ, chồng đối với tài sản chung này; các trƣờng hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng. Từ đó, góp phần thực hiện pháp luật, xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc, bền vững. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số kiến nghị hoàn thiện quy định về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. 6 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỞ HỮU CHUNG HỢP NHẤT CỦA VỢ CHỒNG 1.1. Một số khái niệm 1.1.1. Khái niệm về sở hữu, quyền sở hữu * Khái niệm sở hữu Theo Giáo trình Luật dân sự Việt Nam của trƣờng Đại học Luật Hà Nội thì sở hữu là việc chiếm giữ những sản vật tự nhiên, những thành quả lao động (ngày nay còn gồm cả những tƣ liệu sản xuất) của xã hội loài ngƣời [62, tr.173]. Sở hữu là một phạm trù kinh tế mang yếu tố khách quan xuất hiện và phát triển song song cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội loài ngƣời. Mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong sự chiếm hữu và sản xuất ra của cải vật chất trong xã hội là quan hệ sở hữu [62, tr.174]. Ở đây, quan hệ sở hữu không phản ánh mối quan hệ giữa ngƣời với vật mà nó phản ánh quan hệ giữa ngƣời với ngƣời đối với vật. Nội dung của quan hệ sở hữu đƣợc xét trên hai mặt: - Thứ nhất: Xét về mặt pháp lý, sở hữu đƣợc luật pháp hoá thành các quyền, bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đạt... và cơ chế để thực hiện các quyền đó gọi là chế độ sở hữu. - Thứ hai: Xét về mặt kinh tế, khi sở hữu đƣợc thực hiện về mặt kinh tế, nó gắn liền với lợi ích và thu nhập của chủ sở hữu đối với của cải, mang lại thu nhập cho chủ sở hữu. Mỗi hình thức sở hữu mang lại hình thức thu nhập khác nhau cho chủ sở hữu: - Sở hữu cổ phần thu nhập là cổ tức; - Sở hữu ruộng đất thu nhập là địa tô. Khi quan hệ sở hữu đƣợc luật pháp hoá thành các quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt... và cơ chế để thực hiện các quyền phát sinh gọi là chế độ sở hữu. Ở bất kỳ xã hội nào, chế độ sở hữu đều là vấn đề căn bản nhất của chế độ kinh tế xã hội đó. Bởi vì nó là nội dung quan trọng nhất trong quan hệ sản xuất, quyết định đến tính phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ 7 phát triển của lực lƣợng sản xuất. Chỉ có trên cơ sở giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu mới có căn cứ để giải quyết các vấn đề về động lực, vấn đề lợi ích kinh tế, vấn đề chính trị, vấn đề pháp quyền và các vấn đề xã hội. Theo từ điển Tiếng Việt thì sở hữu đƣợc hiểu là: “Chiếm hữu, sử dụng và hưởng thụ của cải vật chất trong xã hội” [39, tr.899]. Nhƣ vậy, qua các khái niệm trên ta có thể đƣa ra một khái niệm chung nhất về sở hữu: Sở hữu là sự thừa nhận về mặt pháp lý cũng nhƣ xã hội về một tài sản nào đó thuộc chủ sở hữu và chủ sở hữu có toàn quyền đối với tài sản của mình sở hữu. * Khái niệm quyền sở hữu Trong bất cứ một chế độ xã hội nào cũng tồn tại những cách thức nhất định về việc chiếm hữu, làm chủ của cải vật chất của con ngƣời. Mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong quá trình chiếm hữu của cải vật chất đó làm phát sinh các quan hệ sở hữu. Các quan hệ sở hữu này tồn tại một cách khách quan cùng với sự phát triển của xã hội. Khi Nhà nƣớc và pháp luật ra đời, địa vị của giai cấp thống trị trong việc phân phối của cải vật chất trong xã hội đƣợc ghi nhận bằng những quyền năng hạn chế mà Nhà nƣớc trao cho ngƣời đang chiếm giữ của cải vật chất đó. Lúc này, các quan hệ sở hữu đã đƣợc điều chỉnh bằng pháp luật và hình thành nên quyền sở hữu của các chủ thể có tài sản. Với tƣ cách là một chế định pháp luật, quyền sở hữu có từ khi xuất hiện Nhà nƣớc và chỉ mất đi khi xã hội không còn sự phân chia giai cấp và không còn sự tồn tại của Nhà nƣớc. Theo từ điển Tiếng Việt, quyền sở hữu đƣợc hiểu là “Quyền chiếm giữ, sử dụng và định đoạt đối với tài sản của mình” [39, tr.843]. Dƣới góc độ pháp lý, quyền sở hữu là “phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong chế độ sở hữu nhất định bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ về sở hữu trong xã hội” [62, tr.177]. Khái niệm quyền sở hữu có thể hiểu theo nghĩa rộng là pháp luật về sở hữu trong một hệ thống pháp luật nhất định. Vì vậy, quyền sở hữu là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nƣớc ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh 8 trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tƣ liệu sản xuất, tƣ liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005. Theo nghĩa hẹp, quyền sở hữu đƣợc hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể đƣợc thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện nhất định. Theo nghĩa này, có thể nói quyền sở hữu chính là những quyền năng dân sự chủ quan của từng loại chủ sở hữu nhất định đối với một tài sản cụ thể, đƣợc xuất hiện trên cơ sở nội dung của quy phạm pháp luật về sở hữu. Theo phƣơng diện quyền sở hữu đƣợc hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu. Theo nghĩa này quyền sở hữu bao gồm đầy đủ ba yếu tố của quan hệ pháp luật dân sự: chủ thể, khách thể, nội dung nhƣ mọi quan hệ pháp luật dân sự bất kì [62, tr.179]. BLDS năm 2005 không nêu trực tiếp khái niệm về quyền sở hữu, nhƣng có quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật” [49, Điều 164]. Nhƣ vậy trong BLDS năm 2005, khái niệm quyền sở hữu đƣợc đƣa ra dƣới dạng liệt kê những nội dung của quyền sở hữu và chủ thể của quyền này. Đây có thể xem là một phƣơng pháp lập pháp rất riêng của Việt Nam, vì qua nghiên cứu luật dân sự của các nƣớc trên thế giới, chúng ta thấy họ không đƣa ra khái niệm về quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự, mà khái niệm này chỉ tồn tại trong khoa học luật. Quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng cơ bản: - Quyền chiếm hữu: là quyền nắm giữ, quản lý tài sản tức là việc ngƣời chiếm hữu giữ vật trong phạm vi kiểm soát của mình, ví dụ cất tiền bạc, tƣ trang trong tủ,...Quản lý tài sản: đƣợc hiểu là việc ngƣời chiếm hữu, kiểm soát sự tồn tại của tài sản và việc sử dụng tài sản; - Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản; - Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản. Từ nội dung trên cho thấy chủ sở hữu một tài sản có toàn quyền đối với tài sản thuộc sở hữu của mình. 9 Nhƣ vậy, qua những khái niệm trên có thể đƣa ra định nghĩa về quyền sở hữu: Quyền sở hữu là toàn bộ quyền năng của chủ tài sản đối với tài sản mà mình sở hữu, những quyền năng này gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theo quy định của pháp luật. 1.1.2. Khái niệm về sở hữu chung Trong các hình thức sở hữu đƣợc quy định tại BLDS năm 2005 thì hình thức sở hữu chung đƣợc quy định với nhiều điều luật nhất (13 Điều, từ Điều 214 đến Điều 226). Trong BLDS năm 2005 đã nêu ra khái niệm sở hữu chung: “Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản... Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung” [49, Điều 214]. Cơ sở xác lập sở hữu chung là sự thỏa thuận giữa các chủ sở hữu đối với tài sản đƣợc gọi là đồng chủ sở hữu. Các đồng chủ sở hữu có quyền chung nhau chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung. Nhƣng khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, mỗi đồng chủ sở hữu lại có tƣ cách là một chủ sở hữu độc lập. Các đặc điểm của sở hữu chung trong pháp luật dân sự: - Khách thể của sở hữu chung là thống nhất, đó là một tài sản hoặc một tập hợp tài sản mà nếu đem chia tách về mặt vật lý, tức là chia ra các phần khác nhau... thì sẽ không còn giá trị sử dụng nhƣ ban đầu; các chủ sở hữu sẽ không khai thác đƣợc công dụng vốn có của nó. - Về chủ thể, mỗi đồng chủ sở hữu chung khi thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản chung sẽ liên quan đến quyền lợi của tất cả các đồng chủ sở hữu khác. Tuy nhiên, mỗi đồng chủ sở hữu trong sở hữu chung có vị trí độc lập và tham gia quan hệ pháp luật dân sự với tƣ cách là một chủ sở hữu độc lập. - Việc thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản chung của các đồng chủ sở hữu cũng có những đặc điểm riêng. Tuy rằng, địa vị mỗi đồng chủ sở hữu cũng có tính chất độc lập nhƣng quyền năng của mỗi chủ sở hữu lại thống nhất đối với toàn bộ khối tài sản chung mà không phải chỉ riêng với phần giá trị tài sản mà họ có. 10 Các hình thức sở hữu chung + Sở hữu chung theo phần: Là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu đƣợc xác định đối với tài sản chung [49, Điều 216, khoản 1]. Điều này có thể hiểu rằng mỗi chủ sở hữu đƣợc xác định phần sở hữu của mình. BLDS năm 2005 quy định “Các chủ sở hữu chung cùng quản lý tài sản chung theo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” [49, Điều 221]. Điều này thể hiện ở việc các đồng chủ sở hữu phải cùng nhau bàn bạc để thống nhất về cách bảo quản, sử dụng tài sản trên cơ sở của nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Khi tài sản thuộc sở hữu chung đƣợc sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh mà sinh lợi thì số lợi đó sẽ đƣợc chia cho các đồng chủ sở hữu theo tỷ lệ phần quyền tƣơng ứng với mỗi ngƣời. BLDS năm 2005 quy định: “Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi túc từ tài sản chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình...” [49, Điều 222, Khoản 1]. Việc định đoạt tài sản chung của mỗi đồng chủ sở hữu là việc định đoạt phần quyền của họ trong khối tài sản chung. Mỗi đồng chủ sở hữu có toàn quyền trong việc định đoạt phần quyền của mình đối với tài sản thuộc sở hữu chung mà không ai có quyền ngăn cản. Việc chuyển phần quyền của một đồng chủ sở hữu thông qua việc mua, bán, trao đổi, tặng cho, thừa kế,... cho ngƣời khác hoàn toàn không phải là việc trao cho ngƣời khác đủ một phần cụ thể của tài sản. Sở hữu chung theo phần là hình thức cộng hợp phần tài sản của các đồng chủ sở hữu để cùng sản xuất, sử dụng, góp phần khai thác, tận dụng đƣợc mức tối đa giá trị sử dụng của tài sản. Sở hữu chung theo phần là cơ sở pháp lý để các chủ sở hữu liên doanh, liên kết, chung vốn mua sắm các tài sản hoặc xây dựng các công trình mà nếu một chủ thể riêng biệt thì không đủ khả năng để thực hiện. Sở hữu chung theo phần là một quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu nên nó cũng chấm dứt khi có những sự kiện pháp lý quy định tại Điều 226 BLDS năm 2005. Việc chia tài sản thuộc sở hữu chung đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 224 BLDS 2005 [62, tr.268-269]. 11 + Sở hữu chung hợp nhất: là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không đƣợc xác định đối với tài sản chung. Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia [49, Điều 217]. + Sở hữu chung cộng đồng: Là hình thức sở hữu của dòng họ theo huyết thống, theo cộng đồng tôn giáo hoặc cộng đồng dân cƣ đối với tài sản hình thành theo tập quán hoặc do các thành viên của cộng đồng quyên góp tạo dựng nên, Ví dụ: Nhà thờ, từ đƣờng, thánh thất tôn giáo, hoặc kết cấu hạ tầng phục vụ cho cộng đồng dân cƣ nhƣ đƣờng đi, giếng nƣớc công cộng,... [62, tr.271]. Do mục đích của sở hữu chung cộng đồng là thỏa mãn chung lợi ích hợp pháp của cả cộng đồng nên tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia. + Sở hữu chung hỗn hợp: là phạm trù kinh tế để chỉ hình thức sở hữu đối với tài sản do các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận [49, Điều 218]. Trong sở hữu chung hỗn hợp, các chủ sở hữu thộc các thành phần kinh tế khác nhau thỏa thuận theo nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện về tài sản và số lƣợng vốn góp để tiến hành sản xuất, kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Sở hữu chung hỗn hợp thƣờng tồn tại dƣới mô hình tài sản của một doanh nghiệp cho nên hội đồng quản trị với tƣ cách là ngƣời quản lý tài sản, vốn có các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản và vốn đó, quyết định hƣớng sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật [62, tr.274]. 1.1.3. Khái niệm về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng Sở hữu chung hợp nhất thông thƣờng chỉ phát sinh trong quan hệ HN&GĐ. Khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất là khối tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân bằng công sức của mỗi ngƣời hoặc do đƣợc tặng cho chung, thừa kế chung. Tài sản chung của vợ chồng đƣợc dùng vào việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh của cả gia đình. Vợ chồng đều có quyền ngang nhau đối với khối tài sản chung. Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy 12 quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Khi một trong hai ngƣời thực hiện giao dịch mà tài sản có giá trị lớn phải đƣợc sự đồng ý của bên kia. Ngoài ra vợ, chồng có thể tự nguyện nhập khối tài sản riêng vào khối tài sản chung của gia đình. Khối tài sản chung của vợ chồng mặc dù là khối tài sản chung hợp nhất nhƣng có thể đƣợc phân chia trong một số trƣờng hợp: chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, chia tài sản chung khi ly hôn và chia tài sản chung khi một bên chết trƣớc. Nhƣ vậy, sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng là hình thức sở hữu mà trong đó phần quyền, nghĩa vụ của vợ và chồng là ngang nhau đối với tài sản chung không phân biệt công sức đóng góp của mỗi bên trong khối tài sản. Và tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng là có thể phân chia đƣợc. 1.2. Khái quát các quy định về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng trong hệ thống pháp luật Việt Nam Sau khi kết hôn, nhu cầu phải có một khối tài sản để duy trì cuộc sống chung của vợ chồng, cũng nhƣ các nhu cầu chi tiêu gia đình, chăm sóc con cái,... Điều này dẫn đến phải có chế độ pháp lý điều chỉnh khối tài sản này: căn cứ xác lập, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung,.... Với ý nghĩa đó, pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ đã có quy định về sở hữu chung tài sản của vợ chồng. 1.2.1. Theo cổ luật Trong xã hội phong kiến Việt Nam, các quy định về HN&GĐ chiếm một vị trí quan trọng trong các văn bản luật. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định của pháp luật về tài sản chung của vợ chồng trong cổ luật Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cổ luật Việt Nam không dự liệu về chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và về tài sản chung của vợ chồng nói riêng. Quốc Triều Hình Luật (QTHL) đƣợc ban hành dƣới triều Lê trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470 -1497). QTHL không có điều khoản nào đề cập đến vấn đề tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, mà chỉ dự liệu một số trƣờng hợp chia tài sản của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trƣớc [36, Điều 374, 375, 376]. Do pháp luật 13 dƣới triều Lê là công cụ quyền lực chính trị của vua chúa, và đƣợc dựa theo hệ tƣ tƣởng nho giáo. Các quy định về vấn đề tài sản của vợ chồng không rõ ràng. Toàn bộ tài sản mà vợ, chồng có đƣợc từ trƣớc khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Tất cả các tài sản này đều do ngƣời chồng – chủ gia đình quản lý, khối tài sản chung của vợ chồng chỉ đƣợc chia khi một bên vợ, chồng chết trƣớc mà giữa họ không có con... Tuy nhiên, QTHL, theo tục lệ cũng đã giành cho ngƣời vợ đƣợc tham gia vào việc quản trị tài sản chung của vợ chồng và đƣợc tự do quyết định những vấn đề sinh hoạt hằng ngày nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình. Đặc biệt đối với các giao dịch liên quan đến ruộng đất: mua bán, cầm cố, chuyển đổi đều phải có chồng vợ cùng điểm chỉ [3]. Thực tế trong các văn tự bán ruộng đất làm dƣới triều Lê còn di lƣu lại, ta thƣờng thấy hai vợ chồng cùng đứng tên bán; “Trong thời gian giá thú, tất cả tài sản, không phân biệt nguồn gốc và bản chất đều hợp thành một khối do người chồng quản trị và sử dụng theo nhu cầu của gia đình và trong thực tế với sự cộng tác của người vợ” [32, tr.257- 258]. Những quy định trên thể hiện trong chừng mực nhất định ngƣời vợ cũng đƣợc “bình đẳng” với ngƣời chồng trong việc định đoạt tài sản chung, hoàn toàn không phải là “vô năng cách”. Quy định này của pháp luật nhà Lê tiến bộ hơn hẳn so với pháp luật của Trung Quốc cùng thời - coi ngƣời vợ hoàn toàn vô năng lực, phụ thuộc ngƣời chồng một cách tuyệt đối. Nhƣng thật đáng tiếc, điều này lại đƣợc ghi nhận lại trong HVLL. Hoàng Việt Luật Lệ (HVLL) ban hành dƣới triều Nguyễn (1812) đều có các quy định về vấn đề HN&GĐ, nhƣng về chế độ tài sản của vợ chồng không quy định nhƣ một chế định riêng rẽ và cụ thể. HVLL sao chép nguyên văn của luật nhà Thanh nên không có một điều khoản nào về vấn đề tài sản của vợ chồng. Nhƣ vậy, từ những quy định trên ta nhận thấy rằng pháp luật thời kỳ này đã không dự liệu cụ thể chế độ tài sản chung của vợ chồng. Pháp luật quy định tất cả của cải của vợ chồng dù có trƣớc hay sau khi kết hôn đều là tài sản chung của vợ chồng. Do theo tƣ tƣởng nho giáo nên các quy định trong pháp luật thời kỳ này thể 14
- Xem thêm -