Tài liệu skkn Xây dựng môi trường học tập cho trẻ 4 – 5 tuổi hoạt động một cách tích cực

  • Số trang: 26 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 2096 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1-2 1. Mục đích của sáng kiến 1 2. Đóng góp của sáng kiến 2 PHẦN 2: NỘI DUNG 2 - 18 Chương 1: Cơ sở khoa học của sáng kiến 2-4 1. Cơ sở lý luận của sáng kiến 2-4 2. Cơ sở thực tiễn của sáng kiến 3-4 Chương 2: Thực trạng vấn đề 4–6 1. Đặc điểm tình hình 4 2. Khảo sát về mức độ nhận thức và hứng thú của trẻ 4–5 3. Nguyên nhân của thực trạng 5–6 Chương 3: Những giải pháp mang tính khả thi 6 - 14 1. Lập kế hoạch 6–8 2. Nội dung biện pháp thực hiện 6 - 14 2.1 Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ 8 2.2 Phối hợp với phụ huynh 8-9 2.3 Tạo môi trường trong và ngoài lớp học 9 -13 2.4 Hướng dẫn trẻ hoạt động 13 – 14 Chương 4: Kiểm trứng các giải pháp đã triển khai 14 – 18 1. Đối với lớp 14 – 15 2. Đối với cô 15 3. Đối với trẻ 15 – 18 PHẦN 3: KẾT LUẬN 18 – 20 1. Những vấn đề quan trọng nhất được đề cập đến của 18 - 19 sáng kiến 2. Hiệu quả của bản sáng kiến kinh nghiệm 19 – 20 3. Kiến nghị 20 1 PHẦN 4: PHỤ LỤC 20 – 28 1. Tài liệu tham khải 20 2. Tư liệu, hình ảnh minh họa 21 - 28 QUY ƯỚC VIẾT TẮT 1.Ban giám hiệu: BGH 2. 2 PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1. Mục đích, tính mới của sáng kiến. * Mục đích: Tôi chọn đề tài “Xây dựng môi trường học tập cho trẻ 4 – 5 tuổi hoạt động một cách tích cực”. Điều đó nhằm mục đích giúp trẻ có một môi trường học tập, vui chơi thoải mái, an toàn, lành mạnh để phát triển mọi mặt: Đức – trí – thể - mỹ - lao. 3 Qua đó, hình thành cho trẻ thói quen, nề nếp, cách sống tốt, hình thành cho trẻ những hiểu biết ban đầu về môi trường sống xung quanh, có kỹ năng, hành vi, thái độ tốt với môi trường, phát triển nhân cách trẻ và hơn nữa giúp trẻ hứng thú tham gia vào giờ học đạt kết quả cao. Góp phần nâng cao chất lượng, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho trẻ giai đoạn 4 – 5 tuổi. Hơn thế nữa tạo điều kiện cho giáo viên trong trường học tập cách tạo môi trường học tập cho trẻ học tập, vui chơi tại lớp, tận dụng nguyên vật liệu sẵn có của địa phương, tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn trẻ tích cực tới trường, tới lớp, tạo cơ hội cho trẻ được học tập, trải nghiệm, sáng tạo và cùng cô giáo tạo ra những sản phẩm nhằm cải thiện môi trường lớp học mọi lúc, mọi nơi góp phần xây dựng môi trường học tập trong nhà trường trở nên khang trang, thân thiện hơn *Tính mới của sáng kiến. Xuất phát từ thực tiễn năm học 2014 – 2015, xuất phát từ trong chương trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục lứa tuổi 4 -5 tuổi thực nghiệm ở đơn vị trường mầm non mà bản thân tôi đang dạy và các buổi tham dự chuyên đề, tiết mẫu, tham quan cảnh quan sự phạm, môi trường dạy học cho trẻ ở trường, bản thân tôi nhận thấy trong những năm gần đây phần lớn các giáo viên còn hạn chế về việc xây dựng môi trường học tập cho trẻ, giáo viên còn thụ động chưa tích cực, chưa biết tận dụng nguồn nguyên vật liệu sẵn có từ địa phương, cách trang trí còn vụn vặt, chưa làm nổi bật được chuyên đề trọng tâm, cách sắp xếp môi trường học tập trong và ngoài lớp còn theo cảm tính chưa khoa học dẫn đến môi trường chưa gọn gàng, ngăn nắp, chưa tạo cơ hội cho trẻ được học tập, trải nghiệm, sáng tạo và cùng cô giáo tạo ra những sản phẩm nhằm cải thiện môi trường lớp học mọi lúc, mọi nơi, chưa kích thích được sự hứng thú của trẻ tham gia vào các hoạt động, trẻ trở nên nhàm chán khi chơi và học. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, bản thân tôi luôn băn khoăn trăn trở làm thế nào để xây dựng môi trường học tập phong phú và gây hứng thú cho trẻ hoạt động tích cực, vì vậy tôi nhận thấy việc nghiên cứu đề tài “Xây dựng môi trường học tập cho trẻ 4 – 5 tuổi hoạt động một cách tích cực” rất quan trọng. Điều đó sẽ mở ra 4 một hướng đi mới trong việc xây dựng môi trường học tập cho trẻ 4 - 5tuổi . Một môi trường an toàn, thân thiện, phát huy được phương pháp dạy học: “ Lấy trẻ làm trung tâm” và phát huy được tính sáng tạo của cô và trẻ tạo ra nhiều sản phẩm làm phong phú thêm môi trường lớp học đáp ứng được yêu cầu của giáo duc mầm non hiện nay. * Ưu điểm nổi bật của sáng kiến. - Dễ thực hiện dễ áp dụng đối với cô và trẻ trong trường mầm non . - Khi áp dụng vào trong quá trình dạy trẻ thì luôn thu hút được trẻ hứng thú , thu hút được sự quan tâm từ phía phụ huynh trong việc kết hợp với giáo viên xây dựng môi trường học tập cho trẻ. - Học sinh nhanh nhẹn, mạnh dạn , tự tin, tích cực tham gia vào hoạt động, yêu thích trường lớp, biết yêu quý cái đẹp, trân trọng sản phẩm do mình làm ra, được trau rồi về đạo đức. Tạo cơ hội cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ. - Giúp cho giáo viên có sự am hiểu về việc xây dựng môi trường học tập cho trẻ, có cơ hội phát huy năng lực của bản thân, tự tin chủ động mỗi khi “Xây dựng môi trường học tập cho trẻ 4 – 5 tuổi hoạt động một cách tích cực” 2. Đóng góp của sáng kiên - Đóng góp về mặt khoa học: Thực hiện và ứng dụng bản sáng kiến này sẽ góp phần tạo môi trường học tập cho trẻ học tập và vui chơi lành mạnh, trang bị cung cấp đầy đủ đồ dùng, đồ chơi, các góc chơi, các chuyên đề phát triển trọng tâm cần giáo dục tới trẻ, thu hút sự chú ý của trẻ tham gia vào các hoạt động, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ. Tạo cơ hội cho cô và trẻ phát triển óc sáng tạo, năng khiếu của bản thân. - Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội: Giảm tải nguồn kinh phí hàng năm cho việc mua sắm đồ dùng, đồ chơi, tranh ảnh, trang thiết bị đắt tiền bằng việc tận dụng, sử dụng các nguyên vật liệu sẵn có của địa phương, các nguyên vật liệu phế thải góp phần bảo vệ môi trường trong lành hơn. 5 PHẦN 2: NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở khoa học và sáng kiến 1. Cơ sở lý luận của sáng kiến Giáo dục mầm non là một khoa học và là một nghệ thuật. Khoa học này dạy trẻ không ngừng phát triển. Do vậy đòi hỏi làm công tác chăm sóc giáo dục trẻ phải có năng lực toàn diện, có những phẩm chất cần thiết mới hoàn thành được nhiệm vụ giao phó, nhiệm vụ đó là đào tạo cho thế hệ trẻ dưới 06 tuổi phát triển một cách toàn diện. Trong những năm gần đây, nền kinh tế - xã hội của đất nước ta có sự phát triển không ngừng, xã hội có nhiều cái mới, cơ sở vật chất đội ngũ mới, nguồn nhân lực phát triển. Điều đó ảnh hưởng rất lớn làm cho ngành giáo dục nói chung và ngành 6 học mầm non nói riêng cũng từng bước củng cố và phát triển để đáp ứng với nhu cầu hiện nay. Để chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào thời đại của nền văn minh trí tuệ, thời đại của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mục đích của của Giáo dục mần non là phát triển tất cả các khả năng của trẻ, hình thành cho trẻ nhưng cơ sở ban đầu của nhân cách con người, một mặt đáp ứng các nhu cầu phát triển tổng thể hài hòa của về các mặt: thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, thẩm mỹ, tình cảm – xã hội. 2. Cơ sở thực tiễn của sáng kiến: Năm học 2014 – 2015 thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam, thực hiện chủ đề năm học là “Đổi mới phương pháp dạy học và cảnh quan sư phạm trường học”. Việc tạo môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, tạo dựng cảnh quan môi trường sư phạm trường học đó cũng là nhiệm vụ trọng tâm nổi trội có tính đột phá của đơn vị trường mầm non tôi đang dạy trong giai đoạn hiện nay. Căn cứ vào nhu cầu và khả năng phát triển của trẻ: Tuổi 4– 5 tuổi, đây là lứa tuổi kỳ diệu, trẻ rất hiếu động, tò mò, muốn học hỏi, tìm hiểu thế giới tự nhiên và xã hội. Trong các hoạt động của tuổi mẫu giáo: Chơi giữ vai trò hoạt động chủ đạo, giữa hoạt động vui chơi và hoạt động học tập chưa có ranh giới rõ ràng. Khác với người lớn, trẻ em thật sự học trong khi chơi, trẻ lĩnh hội các tri thức tiền khoa học trong trường mầm non theo phương châm “Học mà chơi, chơi mà học”. Trẻ là chủ thể tích cực, giáo viên là người tạo cơ hội, hướng dẫn, gợi mở các hoạt động tìm tòi khám phá của trẻ. Trẻ chủ động tham gia các hoạt động đó để phát triển khả năng, năng lực của mình. Trước những vấn đề trên, không chỉ cho trẻ hoạt động tích cực ở giờ chơi và mọi lúc mọi nơi. Là giáo viên mầm non trực tiếp chăm sóc và nuôi dạy trẻ tôi nhận thấy việc tạo môi trường học tập xung quanh lớp cho trẻ là rất cần thiết, nhằm tạo điều kiện cho trẻ hoạt động cá nhận nhiều hơn, được tự do khám phá theo ý thích, theo khả năng của mình giúp trẻ phát hiện nhiều điều mới lạ, hấp dẫn trong cuộc sống, các kiến thức và kỹ năng của trẻ được củng cố và bổ sung. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Xây dựng môi trường học tập cho trẻ 4 – 5 tuổi 7 hoạt động một cách tích cực” góp phần thực hiện tốt phương pháp đổi mới giáo dục mầm non của trường mầm non của tôi nói riêng và ngành học nói chung. Chương 2: Thực trạng vấn đề 1. Đặc điểm tình hình a. Thuận lợi: - Được sự quan tâm của BGH nhà trường, các cấp lãnh đạo, ban ngành và hội phụ huynh nên cơ sở vật chất có nhiều thay đổi lớn. Lớp tôi là cụm trung tâm của trường, lớp học khang trang, sạch sẽ, phòng học kiến cố, diện tích đủ rộng, có phòng ngủ, khu vệ sinh riêng tại lớp. - Bản thân đã tốt nghiệp Đại học sư phạm Mầm non. - Phụ huynh luôn quan tâm, thường xuyên kết hợp với nhà trường, lớp trong việc ủng hộ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và nguyên vật liệu sẵn có của địa phương. 8 - Bản thân có năng khiếu hội họa tạo điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng môi trường học tập cho trẻ. b. Khó khăn: - Trường chia làm nhiều khu lẻ, chưa có tường bao. - Trường mới, lớp mới nên môi trường học tập và vui chơi của trẻ còn gặp nhiều hạn chế, trẻ thường xuyên phải học tập tại lớp do chưa có phòng chức năng riêng. * Về phía các cháu: - Một số cháu chưa qua trường lớp mẫu giáo nên nền nếp chưa đồng đều, trẻ còn nhút nhát, chưa chủ động tham gia các hoạt động. 2. Khảo sát về mức độ nhận thức và hứng thú của trẻ: Kết quả tham gia vào các hoạt động trong lớp một cách tích cực còn hạn chế, chưa hứng thú vào môi trường trong lớp. Cụ thể qua khảo sát đầu vào khi còn ở cụm cũ như sau: ST T TIÊU CHÍ THỈNH THƯỜN THOẢN G G XUYÊN 16/44 18/44 10/44 16/44 20/44 8/44 16/17 21/44 9/44 CHƯA CÓ GHI CHÚ - Trẻ hoạt động tích cực vào 1 2 3 môi trường đã tạo trong lớp (kiến thức được bổ sung và củng cố phong phú). - Kỹ năng sử dụng môi trường trong lớp. - Hứng thú tham gia các hoạt động. 3. Nguyên nhân của thực trạng: * Về việc trẻ hoạt động tích cực vào môi trường đã tạo trong lớp (kiến thực được bổ sung và củng cố phong phú). 9 + Số cháu chưa có hoạt động tích cực là 16 cháu, chiếm 36%. + Số cháu thỉnh thoảng hoạt động tích cực là 18 cháu, chiếm 41%. + Số cháu thường xuyên hoạt động tích cực là 10 cháu, chiếm 23%. - Nguyên nhân do: + Diện tích chật hẹp. + Các góc chơi bố trí chưa hợp lý do kiến trúc của phòng học. + Đồ dùng, đồ chơi hạn chế, chưa đầy đủ. * Về kỹ năng sử dụng mội trường trong lớp: + Số cháu chưa có kỹ năng sử dụng môi trường trong lớp là 16 cháu, chiếm 36%. + Số cháu thỉnh thoảng có kỹ năng sử dụng môi trường trong lớp là 20 cháu, chiếm 40%. + Số cháu thường xuyên có kỹ năng sử dụng môi trường trong lớp là 8 cháu, chiếm 19%. - Nguyên nhân do: + Nhận thức của trẻ không đều + Kỹ năng, vốn kinh nghiệm sống của trẻ hạn chế. * Về hứng thú tham gia hoạt động: + Số cháu chưa có hứng thú tham gia hoạt động là 16 cháu, chiếm 36%. + Số cháu thỉnh thoảng có hứng thú tham gia hoạt động là 21 cháu, chiếm 48%. + Số cháu thường xuyên có hứng thú tham gia hoạt động là 9 cháu, chiếm 16%. - Nguyên nhân do: + Đồ dùng phục vụ các hoạt động còn hạn chế. Môi trường hoạt động còn hạn chế, chưa có phòng học chức năng nên việc tổ chức cho trẻ học tập, phát triển còn gặp khó khăn. 10 Từ thực trạng trên, bản thân tôi luôn suy nghĩ, tìm ra những biện pháp triển khai để trẻ được hoạt động cá nhân một cách tích cực, kiến thức của trẻ được bổ sung và củng cố phong phú, giúp trẻ phát hiện ra những điều mới lạ hơn. Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP MANG TÍNH KHẢ THI Muốn tạo môi trường học tập cho trẻ hoạt động một cách tích cực phải đảm bảo thực hiện theo mục tiêu giáo dục, mang tính thẩm mỹ, phải giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, kích thích cho trẻ tính độc lập, sáng tạo, đồng thời phải phù hợp với từng lứa tuổi và đảm bảo được sự an toàn cho trẻ. Muốn làm được điều này bản thân tôi đã tìm ra những giải pháp mang lại tính khả thi như sau: 1. Giải pháp 1: Lập kế hoạch: Môi trường cho trẻ hoạt động là nơi có các nguồn thông tin phong phú, khuyến khích tính độc lập và hoạt động tích cực của trẻ. Muốn thực hiện các hoạt động một cách có khoa học và có hiệu quả bản thân tôi trước hết lập ra những kế hoạch cho mình gồm có: Kế hoạch năm, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần và kế hoạch ngày. 11 Ví dụ: Chủ đề: “Gia đình thân yêu của bé – Ngày nhà giáo Việt Nam”. TUẦN Tuần 1 NỘI DUNG - Trang trí nhánh 1 “ Gia đình bé yêu” KẾT QUẢ - Trang trí các mảng tường ở các góc chơi theo chủ đề nhánh. - Chuẩn bị đồ chơi ở các góc theo chủ đề nhánh. Tuần 2 - Vệ sinh lớp học. - Trang trí nhánh 2 “Ngôi nhà gia đình ở” - Trang trí các mảng tường ở các góc chơi theo chủ đề nhánh. - Chuẩn bị đồ chơi ở các góc theo chủ đề nhánh. Tuần 3 - Vệ sinh lớp học. - Trang trí nhánh 3 “Nhu cầu của gia đình” - Trang trí các mảng tường ở các góc chơi theo chủ đề nhánh. - Chuẩn bị đồ chơi ở các góc theo chủ đề nhánh. Tuần 4 - Vệ sinh lớp học. - Trang trí nhánh 4 “Ngày nhà giáo Việt Nam” - Trang trí các mảng tường ở các góc chơi theo chủ đề nhánh. - Chuẩn bị đồ chơi ở các góc theo chủ đề nhánh. - Vệ sinh lớp học. Những công việc nào chưa thực hiện được bản thân tôi rút kinh nghiệm cho tháng sau thực hiện tốt hơn. 2. Giải pháp 2: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ: - Phải nói rằng việc tự học hỏi, nâng cáo trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân là điều đặt lên hàng đầu đối với mỗi giáo viên. Muốn thực hiện được điều đó 12 mỗi giáo viên phải tự tìm tòi sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng để trau dồi bản thân. - Luôn nắm vững tâm sinh lý của trẻ để có phương pháp tổ chức các hoạt động cho trẻ, không để trẻ nhàm chán, im lặng, phải giúp trẻ hoạt động tích cực và các hoạt động, gây hứng thú và sự chú ý cho trẻ. - Thực hiện đầy đủ các đợt chuyên đề do Phòng GD & ĐT tổ chức, các buổi họp chuyên môn, bồi dưỡng của nhà trường. - Ngoài ra tôi còn tranh thủ nghiên cứu sách báo, sưu tầm các loại tranh ảnh, nguyên vật liệu mở, xem các kênh truyền hình, truy cập mạng để thực hành làm một số đồ dùng, đồ chơi tự tạo, tranh ảnh sáng tạo để có vốn kiến thức phong phú, có đồ dùng để phục vụ cho việc dạy của cô, việc hộc và vui chơi của trẻ được đầy đủ và phong phú hơn. - Luôn có ý thức học hỏi những người đi trước, dự giờ, tham quan các lớp, trường bạn nhằm trau dồi kiến thức, học những điều hay, điều mới lạ để thực hiện dạy trẻ có hiệu quả nhất. - Tham gia vào các hội thi do Phòng GD & ĐT, nhà trường tổ chức. - Tham gia học Đại học để nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân, đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay. 3. Giải pháp 3: Phối hợp với phụ huynh: - Để phụ huynh giúp đỡ, hỗ trợ, hợp tác một cách tự giác và có hiệu quả, tôi đã thông qua chương trình giảng dạy đổi mới cho phụ huynh nắm bắt về mục đích yêu cầu của phương pháp dạy mới, về chương trình ứng dụng côn nghệ thông tin, sức khỏe của trẻ, cách chăm sóc trẻ khoa học, phòng tránh các bệnh thường gặp theo mùa…..qua bảng tuyên truyền của lớp, của trường, qua các cuộc họp phụ huynh định kỳ, để phụ huynh hiểu được tác dụng của việc dạy đổi mới hình thức tổ chức giáo dục trẻ 4 - 5 tuổi như thế nào. - Tôi thông báo với phụ huynh về thời gian biểu của lớp, tuyên truyền nội dung giảng dạy đến phụ huynh, mời phụ huynh tham quan lớp, dự giờ một số tiết dạy, tham 13 quan triển lãm đồ dùng để phụ huynh hiểu từ những khó khăn hạn chế về cơ sở vật chất, trang thiết bị để đáp ứng kịp thời cho nhu cầu dạy và học hiện nay. Qua đó vận động phụ huynh tham gia đóng góp ủng hộ thêm các nguồn sách báo truyện tranh, cây xanh cho trường nhằm thực hiện việc chăm sóc giáo dục các cháu. 4. Giải pháp 4: Tạo môi trường trong và ngoài lớp: 4.1. Trang trí các hình ảnh xung quanh lớp: - Trang trí hình ảnh phù hợp với chủ đề. Ví dụ: Chủ đề “Thế giới động vật” thì phải dán hình các loài vật lên. - Phải trang trí theo hình thức cuốn chiếu theo các chủ đề nhánh của từng tuần. Ví dụ: Chủ đề: “ Thế giới thực vật xung quanh bé – Bé vui đén tết Nguyên Đán” thì có các chủ đề nhánh là: + Nhánh 1: Ngày tết vui vẻ. + Nhánh 2: Một số loại cây bé thích. + Nhánh 3: Một số loại rau bé thích. + Nhánh 4: Hoa đẹp xung quanh bé. + Nhánh 5: Một số loại quả bé thích. - Mỗi tuần phải trang trí theo 1 nhánh với hình ảnh phù hợp (Đó là sản phẩm của cô và trẻ cùng làm). Khi trang trí 5 nhánh xong qua chủ đề khác thì bỏ hết phần tráng trí chủ đề và chủ đề nhánh đi và lưu vào túi sản phẩm chủ đề sau đó lại tiếp tục trang trí những chủ đề kế tiếp. - Hình ảnh sưu tầm phải rõ ràng, màu sắc đẹp, được làm từ nhiều nguyên vật liệu mở, có thể dán tên gọi ở mỗi bức tranh để tích hợp chữ viết vào đó. Khuyến khích sản phẩm của bé tự làm. - Hình ảnh dán phải vừa tầm mắt của trẻ: Không quá cao, không quá thấp. - Hình ảnh mang tính giáo dục thẩm mỹ. * Trang trí phải linh hoạt, hấp dẫn và thay đổi nội dung theo từng chủ đề, không vẽ cố định lên tường, làm theo hình thức banh bóc dán để có thể thay đổi khi cũ, nát, rách, bạc màu. 14 Ví dụ: Góc học tập dán những ô bìa gương để gắn chữ cái, số thay đổi theo chủ đề (Chủ đề nào học đến chữ cái nào thì gắn chữ cái đó kết hợp với tranh có từ) hay ở góc sách học đến thơ nào thì dán bài thơ đó lên. - Có thể thay đổi các hình thức trang trí một cách sáng tạo. Ví dụ: Các bảng hiệu, lịch học, các lĩnh vực phát triển của trẻ có thể thay đổi từ hình thức bảng biểu cứng nhắc bằng những hình ảnh sáng tạo đẹp mắt mà vẫn thể hiện được đầy đủ các nội dung đó. - Không dán khít các mảng tường mà phải để dành khoảng trống để trẻ dán sản phẩm của mình theo chủ để. - Hình ảnh trang trí phải mang tính giao dục, phải thể hiện đặc trưng của từng góc chơi. Ví dụ: Góc phân vai trang trí tranh “ Phòng khám”; góc nghệ thuật trang trí ca hát, nhạc sỹ…. 4.2. Xây dựng các góc hoạt động khác nhau trong lớp: - Xây dựng các góc hoạt động khác nhau trong lớp nhằm tạo điều kiện cho trẻ hoạt động cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ được nhiều hơn, hình thức hoạt động phong phú, đa dạng hơn. Giúp trẻ tìm hiểu và khám phá cái mới, hoạt động với đồ vật và rèn luyện kỹ năng. - Trong lớp tôi đã bố trí các góc như sau: Góc yên tĩnh xa góc hoạt động ồn ào, mang tính động. Ví dụ: Góc xây dựng và góc phân vai xa góc học tập, góc nghệ thuật tạo hình gần nguồn nước, góc thiên nhiên ở ngoài hiên… - Các góc có khoảng rộng, cách nhau hợp lý để đảm bảo an toàn và vận động của trẻ - Tạo ranh giới giữa các góc hoạt động Ví dụ: Sử dụng giá dựng đồ chơi quay lại thành ranh giới cho góc chơi. Ranh giới ở các góc không che tầm nhìn của trẻ và không cản việc quan sát của giáo viên 15 - Thay đổi vị trí của góc sau mỗi chủ đề để tạo cảm giác mới lạ, kích thích hứng thú của trẻ - Đặt tên các góc phải đơn giản, dễ hiểu và phù họp với nội dung từng chủ đề đang thực hiện, có chữ viết để phát triển khả năng, hình thành các biểu tượng về chữ cái cho trẻ. Ví dụ: Khi thực hiện chủ đề “Gia đình thân yêu của bé” góc sách có thể đặt “Thư viện của gia đình bé” nhưng khi sang chủ đề “Thế giới thực vật” góc sách có thể đặt “Thư viện của các loại cây” - Đồ dùng đồ chơi đẹp, hấp dẫn trẻ, đảm bảo an toàn, có tính thẩm mỹ cao - Thường xuyên vệ sinh các giá và đồ dùng, đồ chơi sạch sẽ. - Các loại đồ dùng của trẻ có nhãn hoặc ký hiệu bằng hình ảnh hoặc chữ cái, chữ số nhằm phát triển ngôn ngữ, nhận thức, hình tượng cho trẻ, giúp trẻ tự lấy đồ dùng mà không cần sự trợ giúp của cô, trẻ biết giữ gìn đồ dùng, đồ chơi cá nhân của mình, không sử dụng 4.3. Đồ chơi, đồ dùng các góc - Mỗi đồ dùng đồ chơi phải phù hợp với độ tuổi và mục đích giáo dục trẻ theo từng chủ điểm, kích thích trẻ phát triển các lĩnh vực vận động, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và mối quan hệ xã hội - Đồ dùng đồ chơi, nguyên vật liệu trong từng góc đượ sắp xếp phải dễ thay, dễ lựa chọn, an toàn cho trẻ. Ví dụ: Những thiết bị đồ chơi nặng đặt ở dưới, những đồ chơi có nhiều bộ phận phải đặt theo bộ. - Màu sắc, hình dáng đồ của bạn khác. Trẻ có thể tự bảo quản đồ dùng cá nhân của mình. Ví dụ: Tôi đã chuẩn bị bì đựng hồ sơ màu trong để trẻ để tất cả đồ dùng như: sách các loại, bút, sáp màu….và ghi ký hiệu ngoài bìa. Đến giờ học trẻ chỉ tự lấy tự mở bì hồ sơ lấy sách cần học và tự cất gọn gàng, sạch sẽ. 16 - Làm đồ chơi từ nguyên vật liệu thiên nhiên phù hợp với từng chủ đề nhưng có thể sử dụng cho nhiều hoạt động khác nhau Ví dụ: Làm chiếc thuyền bằng xốp có thể cho trẻ học đếm, cũng có thể cho trẻ chơi xây dựng, bán hàng, chơi trò chơi trong các môn học có chủ đích trong chủ đề “Giao thông”, cũng có thể cho trẻ chơi thả vật chìm, nổi…. - Giáo viên có thể tổ chức, hướng dẫn trẻ làm đồ dùng đồ chơi cùng cô nhằm giúp trẻ hoạt động một cách tích cực, phát huy khả năng sáng tạo, thẩm mỹ cho trẻ. Ví dụ: Cho trẻ làm đồ dùng đồ chơi cùng cô trong những giờ hoạt động góc, giờ tạo hình…. 4.4. Các hoạt động và các góc chơi khác. - Bàn ghế, đồ dùng trong lớp phải đặt vị trí hợp lý, thuận tiện cho trẻ hoạt động. Ví dụ: Các đồ dùng vệ sinh cá nhân của trẻ như bàn chải đánh răng, khăn mặt, khăn lau…phải để nơi mà thường ngày trẻ rửa mặt, rửa tay, đánh răng với độ cao vừa tầm tay trẻ. Ví dụ: máy tính được treo ở trên tường để đảm bảo an toàn cho trẻ và đảm bảo về thẩm mĩ. - Bên cạnh đó trong lớp tôi còn bố trí các màng trang trí chuyên đề trọng tâm cần giáo dục trong trường mầm non ở trong và ngoài lớp học với hình ảnh trang trí rõ, gon, đẹp mắt phù hợp với không gian lớp học, phù hợp với độ tuổi đặc biệt là chú ý đến nội dung tuyên truyền. Ví dụ: + Chuyên đề phát triển vận động + Chuyên đề giao thông + Chuyên đề bảo vệ môi trường + Chuyên đề giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả + Chuyên đề ứng phó với biến đổi khí hậu 17 - Để tạo không khí trong lành trong lớp học bản thân tôi đã tận dụng các khoảng không gia và vị trí phù hợp trong và ngoài lớp để bố trí trồng và chăm sóc các chậu cây xanh như cây vạn niên thanh. Qua đó nhằm giáo dục trẻ biết lợi ích của cây xanh, biết trồn và chăm sóc, bảo vệ cây cối, có hành vi tốt đối với môi trường ngoài ra đã tạo cho trẻ thêm hiểu biết về thế giới xuang quanh, môi trường sống của một số loài cây, khơi gợi niềm thích thú với thiên nhiên xung quanh. - Việc chăm sóc giáo dục trẻ còn phải kể đến việc chăm sóc giấc ngủ cho trẻ. Bản thân tôi đã trang trí những hình ảnh đẹp mắt về khu vườn cổ tích, bố trí rèm cửa để cho ánh sáng phù hợp với phòng ngủ của trẻ, tạo giấc ngủ ngon cho trẻ. 5. Giải pháp 5. Hướng dẫn trẻ hoạt động. - Muốn trẻ được chơi tích cực, chơi sáng tạo, nghĩ ra nhiều cách chơi trong các góc hoạt động ngày từ đầu tôi phải biết cách giới thiệu các góc chơi và quản lý tốt quá trình trẻ chơi trong các góc. Biện pháp này giúp trẻ chủ động tìm kiếm đồ chơi khi cần, triển khai trò chơi, thu dọn và cất đồ chơi đúng quy định, tạo cho trẻ có thói quen giữ gìn đồ dùng đồ chơi, có cách sống ngăn nắp, khoa học, rèn tính nền nếp cho trẻ, giúp trẻ có hành vi ứng xử đúng với đồ vật, sản phẩm của các cô chú công nhân và cô giáo làm ra, biết bảo vệ môi trường lớp học ngăn nắp, sạch sẽ. Đặc biệt hình thành cho trẻ kỹ năng sống, yêu lao động. - Việc giới thiệu cho trẻ làm quen với các góc chơi tiến hành chủ yếu vào đầu năm học, khi trẻ còn bỡ ngỡ, chưa quen với đồ dùng, đồ chơi quanh lớp, chưa biết tên đồ vật, vị trí đồ chơi và các chỗ để chơi vì vậy tôi phải giúp trẻ biết nơi để các đồ chơi, các góc chơi bát đầu từ đâu, kết thúc ở đâu. - Giới thiệu góc chơi nên tiến hành ngay từ đầu giờ chơi hoặc vào giờ sinh hoạt chiều. - Khi trẻ đã quen dần với các góc chơi và vị trí các đồ chơi thì cứ mỗi đầu chủ đề nên giới thiệu nội dung chơi của từng chủ đề (từng nhánh chủ để) - Khi trẻ chơi cô phải bao quát trẻ, động viên, hướng dẫn những trẻ còn nhút nhát. Cô có thể nhập vai chơi cùng trẻ để hướng dẫn trẻ chơi sáng tạo hơn. 18 Ví dụ: Cô nhập vào vai người mua hàng: “Chào cô! Bán cho tôi bông hoa. Bao nhiêu vậy cô?...Cho tôi xin, tôi cảm ơn”. Trẻ thấy cô làm như vậy trẻ sẽ bắt chước cách mua hàng giống cô để giáo dục trẻ phải biết lễ phép, phải biết cách xưng hô. - Trong giờ chơi luôn giáo dục trong khi trẻ chơi và khi trẻ chơi xong, trẻ biết cất dọn đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp.Ngoài giờ hoạt động góc nên cho trẻ hoạt động mọi lúc mọi nơi để trẻ khám phá hết những điều mới lạ xung quanh trẻ. - Phải làm ký hiệu ở các góc để cho trẻ chơi tất cả các góc. Kí hiệu của trẻ bằng số hoặc bằng chữ cái. Chương 4: Kiểm trứng các giải pháp đã triển khai Sau khi nghiên cứu và ứng dụng đề tài “Xây dựng môi trường học tập cho trẻ 4 – 5 tuổi hoạt động một cách tích cực” tôi đã thu được một số kết quả như sau: 1. Đối với lớp. - Luôn được BGH nhà trường đánh giá là lớp đứng đầu trong việc tạo môi trường học tập trong lớp cho trẻ 4-5 tuổi hoạt động tích cực. - Được nhà trường đánh giá là lớp sắp xếp nội vụ ngăn nắp, gọn gàng, khoa học. - Bố trí các góc chơi, nhóm chơi hợp lý, đảm bảo môi trường giáo dục trẻ an toàn, sạch đẹp - Trong lớp các góc chơi đảm bảo về số lượng và chất lượng theo yêu cầu của nhà trường, bậc học. Số lượng góc chơi là 5 (bao gồm góc xây dựng, góc phân vai, góc học tập, góc nghệ thuật, góc thiên nhiên) - Số lượng đồ dùng, đồ chơi, tranh ảnh phục vụ việc trang trí, học tập giảng dạy theo các chủ đề được tăng lên và ngày càng có chất, đồ dùng đồ chơi phong phú, đẹp, bền, sáng tạo - Tham dự các cuộc thi làm đồ dùng, đồ chơi sáng tạo do trường tổ chức luôn xếp loại tốt và luôn là lớp đứng tốp đầu của trường. 2. Đối với cô 19 Qua một thời gian tìm tòi nghiên cứu các giải pháp thích hợp, bản thân tôi thu được một số kết quả thật tốt. Có được kết quả như vậy đó là nỗ lực phấn đấu của bản thân tôi kết hợp với đồng nghiệp, đặc biệt là Ban giám hiệu nhà trường luôn sát cánh cùng tôi chỉnh sửa những giải pháp, hình thức sao cho phù hợp với đặc điểm tình hình của trường, năng khiếu của bản thân và đặc điểm nhận thức của trẻ từ đó tôi thu được những kết quả sau: - Trình độ chuyên môn được nâng lên rõ rệt. - Có thêm kinh nghiệm trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ - Qua các tiết dự giờ đạt kết quả khá, giỏi - Các hội thi của trường đạt kết quả cao - Được nhà trường và đồng nghiệp tin tưởng, đánh giá cao, học sinh yêu quý, phụ huynh quan tâm. 3. Đối với trẻ. - Trẻ hứng thú, tích cực vào các giờ hoạt động và các góc chơi sáng tạo mà cô đã tạo ra ở trong lớp mỗi ngày. - Trẻ hứng thú đi học, yêu trường lớp. - Nâng tỷ lệ số trẻ tích cực trong các hoạt động. - Có kỹ năng, kinh nghiệm tham gia vào các hoạt động. - Bổ sung kiến thức khá phong phú, củng cố kiến thức vững vàng. - Trẻ có nề nếp học tập, biết cách quan tâm, chia sẻ, lao động tích cực cùng cô và bạn để có môi trường học tập sạch sẽ, gọn gàng trong các giờ cô tổ chức hoạt động lao động vệ sinh. - Trẻ có ý thức bảo vệ môi trường và bước đầu làm quen với phương pháp làm việc. Cụ thể qua khảo sát đầu vào khi còn ở cụm cũ, chưa áp dụng sáng kiến như sau: 20
- Xem thêm -