Tài liệu Skkn sử dụng sơ đồ tư duy để nâng cao hiệu quả giờ đọc hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 1945 trong chương trình ngữ văn lớp 11

  • Số trang: 52 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 297 |
  • Lượt tải: 0
luanvan-khoaluan

Tham gia: 30/01/2016

Mô tả:

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO KHÁNH HÒA TRƯỜNG THPT LÝ TỰ TRỌNG - NHA TRANG ------------------------------------------------------------------------- SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ ĐỌC - HIỂU MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI LÃNG MẠN GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 11 NGƯỜI THỰC HIỆN: LÊ THỊ HỒNG MINH Năm học: 2013 - 2014 Trang 1 MỤC LỤC I. ĐẶT VẤN ĐỀ …………………………………………………………....… 2 1. Lí do chọn đề tài ………………………………………………………….. 2 2. Mục đích nghiên cứu …................................................................................ 2 3. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................... 3 4. Phạm vi và thời gian nghiên cứu ................................................................. 3 5. Phương pháp nghiên cứu .………………………………………………... 3 II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .……….…………………………………….......... 4 1. Cơ sở lí luận ……………………………………………………………...…. 4 2. Thực trạng dạy và học môn Ngữ văn hiện nay tại trường THPT Lý Tự Trọng ………………………………………………………………... 5 3. Các biện pháp tiến hành …….……………………………….....……..…… 9 3.1 Trang bị cho học sinh một số kiến thức về sơ đồ tư duy …………....... 9 3.2 Giáo viên lập kế hoạch sử dụng sơ đồ tư duy trong các tiết đọc - hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn .................................... 10 3.3 Tiến hành thực nghiệm ……………………………………………...... 17 4. Kết quả thực nghiệm ................................................................................... 20 III. KẾT LUẬN ................................................................................................ 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 25 PHỤ LỤC ......................................................................................................... 26 1. Giáo án thực nghiệm. 2. Bài làm của học sinh (lớp thực nghiệm và đối chứng). 3. Phiếu khảo sát giáo viên, học sinh (trước thực nghiệm). 4. Phiếu khảo sát học sinh (sau thực nghiệm). Trang 2 I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài Dạy học là một nghề cao quý, đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức chuyên môn, có tình thương, trách nhiệm, sự tận tụy, kiên nhẫn, lấy sự tiến bộ của học sinh làm động lực giảng dạy. Để học sinh có thể tiếp cận và chiếm lĩnh những nội dung kiến thức mới theo xu thế thời đại và giải quyết phù hợp các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống đòi hỏi người giáo viên luôn phải đổi mới phương pháp dạy học. Hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh là một yêu cầu quan trọng đặt ra đối với người giáo viên đứng lớp. Sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) trong dạy học hiện đang được người dạy quan tâm vì nó giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực và tất cả học sinh đều có thể tham gia xây dựng bài. Cách học này phát triển được năng lực riêng của từng học sinh về trí tuệ (vẽ, viết gì trên SĐTD), biết hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để ghi các ý chọn lọc), khả năng hội họa (hình thức trình bày kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc)... Như vậy, nếu so sánh với thói quen đọc, chép trước đây thì dạy học bằng SĐTD khắc phục được tính thụ động, ỷ lại, tạo nên phong cách mới trong dạy học của cả thầy và trò. Ngữ văn là một môn khoa học xã hội có những đặc thù riêng so với những môn khoa học khác. Đây là môn học vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính nhân văn rất cao. Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trường THPT Lý Tự Trọng, tôi nhận thấy rằng học sinh gặp khó khăn khi phải ghi nhớ rất nhiều kiến thức về tác giả, tác phẩm. Đặc biệt trong các tiết đọc - hiểu văn học, việc phân tích, tìm hiểu tác phẩm ở nhiều phương diện, góc độ khác nhau khiến cho lượng kiến thức mà các em tiếp thu và ghi vào vở là rất lớn. Các em chủ yếu dựa vào cách học vẹt để ghi nhớ các kiến thức đó. Chính điều này đã làm cho việc học tập môn Ngữ văn trở nên nhàm chán, máy móc, thụ động, không sáng tạo, khả năng phân tích, so sánh, tư duy vận dụng còn hạn chế. Bởi thế, để nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn, tôi đã mạnh dạn vận dụng SĐTD trong các tiết dạy học của mình nhằm đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện sự nhàm chán và gây hứng thú học tập cho học sinh đồng thời vẫn đảm bảo được tính khoa học và nghệ thuật trong dạy học môn Ngữ văn. Tôi nhận thấy phương pháp này là thực sự cần thiết nhằm giúp học sinh rút ngắn thời gian học, giúp các em dễ nhớ, nhớ thuộc, dễ dàng hệ thống hoá lượng kiến thức lớn, đồng thời phát triển tư duy cho các em, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong những giờ học Văn. Chính vì những lý do trên mà tôi đã chọn đề tài: “Sử dụng sơ đồ tư duy để nâng cao hiệu quả giờ đọc - hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 trong chương trình Ngữ văn 11”. 2. Mục đích nghiên cứu đề tài Trang 3 - Giúp học sinh hệ thống lại kiến thức đã học trong giờ đọc - hiểu các tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945; tăng cường khả năng ghi nhớ để nắm vững kiến thức đã học và làm tốt các bài kiểm tra kiến thức. - Giúp học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo; tạo sự hứng thú học tập trong các giờ học, góp phần tạo nên sự chuyển biến trong các tiết dạy đọc - hiểu bộ môn Ngữ văn, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội. 3. Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu : Quá trình thực hiện sử dụng SĐTD trong các tiết đọc - hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 trong chương trình lớp 11. - Khách thể nghiên cứu: Học sinh hai lớp 11D1 và 11D2 tại trường THPT Lý Tự Trọng. 4. Phạm vi và thời gian nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu : Các tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 1945 trong chương trình lớp 11 và học sinh khối 11 của Trường THPT Lý Tự Trọng. - Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2013 đến tháng 4/2014. 5. Phương pháp nghiên cứu Để hoàn thành tốt đề tài này, tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau: 5.1 Phương pháp nghiên cứu loại hình: ở đây là thể loại truyện ngắn với những đặc trưng cơ bản để làm cơ sở vững chắc nghiên cứu, phân tích tác phẩm. 5.2 Phương pháp hệ thống - cấu trúc: được sử dụng trong quá trình hệ thống hóa kiến thức các tác phẩm và thể hiện bằng SĐTD. 5.3 Phương pháp thực nghiệm: được sử dụng trong quá trình áp dụng đề tài đối với các lớp được chọn làm đối tượng thực nghiệm. 5.4 Phương pháp so sánh: được sử dụng trong quá trình so sánh đối chiếu kết quả bài kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. 5.5 Phương pháp phân tích - tổng hợp: được sử dụng trong quá trình khảo sát, phân tích kết quả thực nghiệm và tổng hợp kết quả thực nghiệm. Trang 4 II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận Sơ đồ tư duy (Mindmap) do Barry Buzan và Tony Buzan là người đầu tiên nghiên cứu tìm ra hoạt động của não bộ và ứng dụng vào cuộc sống. Sơ đồ tư duy (còn gọi là bản đồ tư duy hay lược đồ tư duy ) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức... bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Các nhà khoa học chỉ ra rằng bộ não của con người gồm 2 bán cầu: não phải và não trái. Não phải nhạy cảm với các thông tin về màu sắc, nhịp điệu, hình dạng, tưởng tượng…. những yếu tố đó sẽ tác động, kích thích não trái. Não trái thích hợp với các từ ngữ, con số, tư duy và phân tích cho ra sản phẩm. Do đó người ta tìm cách kích thích não phải tốt nhất và khi hai bán cầu não có sự tương tác, tác động, kích thích lẫn nhau nó sẽ đem đến cho con người khả năng to lớn. Dựa trên những đặc điểm đó của não bộ, Tony Buzan đã sáng tạo ra SĐTD theo nguyên lí hoạt động của bộ não. Điều này giải thích vì sao chúng ta có thể phát huy toàn bộ mọi khả năng tư duy của mình khi sử dụng SĐTD. Như vậy, SĐTD là một công cụ hỗ trợ tư duy hiện đại. Đó là một kĩ thuật hình họa, một dạng sơ đồ kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động của bộ não. Qua nghiên cứu, tôi nhận thấy nếu sử dụng SĐTD trong dạy học sẽ có những ưu điểm sau: - Tiết kiệm thời gian, công sức của học sinh - Cung cấp bức tranh tổng thể của bài học. - Tổ chức và phân loại suy nghĩ của học sinh - Giúp học sinh ghi nhớ tốt hơn. - Kích thích tiềm năng sáng tạo của học sinh - Sử dụng rộng rãi, hiệu quả và dễ dàng ở nhiều lĩnh vực trong học tập. Sơ đồ tư duy là một công cụ giúp học tập hiệu quả, cụ thể là giúp người học tiếp thu bài nhanh hơn, hiểu bài kĩ hơn, hứng thú học tập hơn. Điểm mạnh nhất của SĐTD là giúp phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng, từ đó phát triển óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo. Với những ưu điểm trên, ta có thể vận dụng SĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì... cũng như giúp lập kế hoạch học tập, công tác sao cho hiệu quả nhất mà lại mất ít thời gian. Trong những năm qua, cùng với việc thực hiện một cách đồng bộ đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) nói chung, trong đó có đổi mới PPDH môn Ngữ văn luôn được các nhà Trang 5 khoa học giáo dục đầu ngành của nước ta quan tâm, nghiên cứu và tìm cách cải tiến. Có thể nói, đây là một bước đột phá của ngành Giáo dục nước nhà. Vì vậy, vấn đề này đã được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Thực hiện nghiêm túc tinh thần Nghị quyết 40/2000 - QH10 của Quốc hội khóa 10 và Chỉ thị số14/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT đã đặc biệt chú trọng đến việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên từng bước nâng cao trình độ, đổi mới PPDH. Ngày 05/5/2006, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 16/2006/BGDĐT nêu rõ những định hướng đổi mới phương pháp giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên thực hiện việc đổi mới PPDH. Trong những năm qua, Bộ GD&ĐT đã trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện đổi mới PPDH, đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, xem đây là một nhiệm vụ vừa bức thiết lại vừa trọng tâm xuyên suốt cả quá trình đổi mới. Một trong những hoạt động hưởng ứng đổi mới PPDH của giáo viên là ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, trong đó có việc sử dụng SĐTD. Trong triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học 2013 - 2014, Sở Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa nhấn mạnh việc tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học cho giáo viên. Trường THPT Lý Tự Trọng tạo mọi điều kiện để các giáo viên nhà trường thường xuyên học tập, trao đổi chuyên môn, đổi mới PPDH theo hướng tích cực, để góp phần đào tạo ra những con người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. Trước tình hình đó, đòi hỏi đội ngũ giáo viên nhà trường luôn không ngừng đổi mới, cải tiến nội dung, phương pháp soạn giảng để trong mỗi tiết dạy, học sinh sẽ được hoạt động nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chủ động chiếm lĩnh kiến thức. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp dạy học đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới. Và theo tôi, với những ưu điểm vượt trội của mình, SĐTD là một trong những phương pháp dạy học rất quan trọng, vừa rất mới, rất hiện đại, lại rất khả thi, đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Việc sử dụng SĐTD trong dạy học nói chung và trong giảng dạy Ngữ văn nói riêng sẽ đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy sự chủ động, sáng tạo trong học tập. Điều này rất phù hợp với mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. 2. Thực trạng dạy và học môn Ngữ văn hiện nay tại trường THPT Lý Tự Trọng, Nha Trang, Khánh Hòa. Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thực hiện đổi mới PPDH, theo tinh thần tập huấn của Sở Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa về việc bồi dưỡng cho giáo viên trong toàn tỉnh tiếp cận với những phương pháp, kĩ thuật dạy học mới, trong nhiều năm qua tại trường THPT Lý Tự Trọng tinh thần đổi mới phương pháp dạy học của mỗi giáo viên được nâng cao. Các thầy cô giáo ở tất cả các bộ môn như Toán, Lý Hóa, Lịch sử, Địa lý... trong trường luôn học hỏi, tìm hiểu những PPDH tiến bộ, vận dụng những kỹ thuật mới vào trong dạy Trang 6 học để làm mới bài giảng của mình, tăng sự hứng thú của học sinh trong các giờ học. Và việc sử dụng SĐTD trong dạy học là một bước tiến đáng kể trong việc đổi mới PPDH hiện nay khi mà khoa học công nghệ phát triển như huyền thoại, nhất là sự bùng nổ của ngành Công nghệ thông tin. Việc sử dụng SĐTD thay thế cho những mô hình, sơ đồ, biểu đồ... giản tiện về công đoạn, nguyên liệu. Do đó, việc ứng dụng SĐTD vào trong quá trình dạy học không chỉ lôi cuốn sự hứng thú, làm “sống lại” niềm đam mê, yêu thích môn học ở các em học sinh mà còn làm dấy lên một “phong trào” đưa SĐTD vào bài giảng ở giáo viên. Không nằm ngoài xu thế đổi mới đó, các thầy cô giáo dạy Văn cũng luôn có ý thức tiếp cận các PPDH mới để mang lại sự hứng thú của học sinh trong các giờ học Văn, đặc biệt là các giờ đọc - hiểu, vốn dĩ luôn được xem nặng về kiến thức, đòi hỏi giáo viên phải giảng nhiều, ghi chép trên bảng rất nhiều và học sinh cũng phải ghi bài nhiều, chỉ ngồi thụ động trả lời những câu hỏi do thầy cô đưa ra. Điều này sẽ dẫn đến sự rập khuôn máy móc trong cách dạy và học Ngữ văn ở các giờ đọc - hiểu, tạo tâm lí ỷ lại, bị động trong học sinh. Chính vì thế, việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Văn ở các tiết đọc - hiểu sẽ khắc phục được những hạn chế trên, tạo sự mới mẻ, hưng phấn với học sinh và cả người giáo viên đứng lớp. Tuy nhiên, hiện nay, việc đưa SĐTD vào ứng dụng trong quá trình dạy học đối với môn học Ngữ văn, nhất là các tiết đọc - hiểu còn là vấn đề gặp không ít khó khăn, trở ngại đối với giáo viên, cụ thể như trong việc tổ chức, thiết kế các hoạt động dạy học với việc sử dụng SĐTD. Qua dự giờ, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn đối với các đồng nghiệp trong tổ, tôi nhận thấy, hầu hết các giáo viên chưa quen với cách dạy học bằng SĐTD. Họ mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng SĐTD để hệ thống hóa kiến thức mỗi bài ôn tập, tổng kết một phân môn, một mảng kiến thức nào đó mà thôi chứ chưa mạnh dạn phát huy được tính phổ biến và đa năng của SĐTD trong các tiết đoc - hiểu văn học. Không chỉ đối với giáo viên mà ngay học sinh trong trường có nhiều em chưa có khái niệm gì về SĐTD, chưa quen với cách học bằng SĐTD và còn nhiều lúng túng khi thiết lập một SĐTD. Để thấy rõ hơn thực trạng của việc sử dụng SĐTD trong dạy và học môn Ngữ văn hiện nay tại trường THPT Lý Tự Trọng, tôi đã tiến hành khảo sát đối với học sinh khối 11 và giáo viên trong tổ. * Đối với học sinh: Tôi đã tiến hành khảo sát trước thực nghiệm đối với học sinh hai lớp: 11D1 (sỉ số 38 học sinh) và 11D2 (sỉ số 41 học sinh) và thu được kết quả là: Câu 1: Em đã từng sử dụng sơ đồ tư duy trong việc học các môn văn hóa ở trường chưa? Các phương án trả lời Lớp 11D1 Lớp 11D2 Chưa từng sử dụng 5 hs - 13% 0 hs - 0% Rất ít khi sử dụng 26 hs - 69 % 31 hs - 76% 5 hs - 13 % 10 hs - 24% Thỉnh thoảng sử dụng Trang 7 Thường xuyên sử dụng 2 hs - 5 % 0 hs - 0% Câu 2: Em đã từng sử dụng sơ đồ tư duy trong việc học môn Văn ở trường chưa? Các phương án trả lời Lớp 11D1 Lớp 11D2 Chưa từng sử dụng 25 hs - 65% 23 hs - 56% Rất ít khi sử dụng 9 hs - 24% 10 hs - 25% Thỉnh thoảng sử dụng 3 hs - 8% 8 hs - 19% Thường xuyên sử dụng 1 hs - 3% 0 hs - 0% Câu 3: Theo em, sơ đồ tư duy có thể được sử dụng trong việc học môn Văn không? Các phương án trả lời Lớp 11D1 Lớp 11D2 Không thể 3 hs - 8% 0 hs - 0% Có thể 20 hs - 52% 25 hs - 61% Cần thiết 9 hs - 24% 11 hs - 27% Rất cần thiết 6 hs - 16% 5 hs - 12% Câu 4: Theo em, sơ đồ tư duy có thể được sử dụng trong các tiết đọc - hiểu văn học không? Các phương án trả lời Lớp 11D1 Lớp 11D2 Không thể 4 hs - 11% 5 hs - 12% Có thể 18 hs - 47% 26 hs - 63% Cần thiết 13 hs - 34% 8 hs - 20% 3 hs - 8% 2 hs - 5% Rất cần thiết Câu 5: Theo em, sơ đồ tư duy có thể được sử dụng trong nội dung nào của tiết đọc - hiểu văn học? Các phương án trả lời Lớp 11D1 Lớp 11D2 Sơ đồ tư duy theo đề cương 6 hs - 16% 9 hs - 22% Sơ đồ tư duy theo chương 6 hs - 16% 8 hs - 19% Sơ đồ tư duy theo đoạn văn 10 hs - 26% 15 hs - 37% Cả 3 loại sơ đồ tư duy trên 16 hs - 42% 9 hs - 22% * Vì sao em cho là sử dụng sơ đồ tư duy đó thích hợp? Đa số học sinh ở hai lớp đều trả lời do các loại sơ đồ tư duy đó giúp các em củng cố và hệ thống lại những kiến thức trọng tâm của bài học, dễ tiếp thu bài và nhanh thuộc bài… Trang 8 Qua kết quả khảo sát trước thực nghiệm ở hai lớp 11D1 và 11D2, tôi nhận thấy: - Thứ nhất, tuy SĐTD đã khá phổ biến nhưng đối với học sinh lớp tôi khảo sát vẫn còn đa số rất ít khi sử dụng trong việc học các môn văn hóa ở trường, thể hiện qua tỉ lệ 69% (lớp 11D1) và 76% (lớp 11D2). Cá biệt có những học sinh còn trả lời chưa từng sử dụng - tỉ lệ 13% (lớp 11D1). - Thứ hai, đối với việc học môn Văn: hầu hết học sinh chưa từng sử dụng SĐTD ở trường: thể hiện qua tỉ lệ 65% (lớp 11D1) và 56% (lớp 11D2). - Thứ ba, đa số học sinh đều có ý kiến cho rằng việc sử dụng SĐTD trong học tập môn Văn là có thể - tỉ lệ 52% (lớp 11D1) và 61% (lớp 11D2), thậm chí là cần thiết - tỉ lệ 24% (lớp 11D1) và 27% (lớp 11D2). - Thứ tư, đối với các tiết đọc - hiểu văn học, có đến 47% (lớp 11D1) và tỉ lệ 63% (lớp 11D2) đồng ý việc áp dụng SĐTD, thậm chí là cần thiết - tỉ lệ 34% (lớp 11D1) và 20% (lớp 11D2). Và các em cũng nhận thức được những tiện ích trong cách học Văn bằng SĐTD và biết sử dụng SĐTD trong những loại nội dung khác nhau của các tiết đọc - hiểu văn học. * Đối với giáo viên: Qua khảo sát 8 giáo viên trong tổ chuyên môn về việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Ngữ văn, tôi thu được kết quả như sau: - Có 6/8 thầy cô không thường xuyên nghiên cứu, tìm hiểu về các dạng SĐTD trong dạy học hiện nay. - Có 5/8 thầy cô rất ít khi sử dụng SĐTD trong việc dạy môn Văn. - Có 6/8 thầy cô cho rằng việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Văn là phù hợp với đặc trưng bộ môn. - Theo các thầy cô, việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Văn thì sẽ phát huy tác dụng ở các tiết dạy: Văn học sử (6/8), Đọc - hiểu văn học (4/8), Tiếng Việt (6/8), Tập làm văn (3/8). - Có 5/8 thầy cô cảm thấy bình thường, 3/8 thầy cô cảm thấy thích khi sử dụng SĐTD trong các tiết dạy Văn. - Đa số thầy cô đều đồng ý với quan điểm việc sử dụng SĐTD trong các tiết dạy đọc - hiểu văn học sẽ giúp học sinh tóm lược đầy đủ và khoa học nội dung kiến thức bài học; giúp học sinh dễ nhớ, dễ thuộc nội dung kiến thức bài học; giúp học sinh dễ vận dụng nội dung kiến thức bài học vào làm bài kiểm tra; và giúp học sinh phát huy sự chủ động, sáng tạo trong giờ học Văn. Về lí do vì sao SĐTD chưa được sử dụng rộng rãi trong việc dạy học môn Văn hiện nay, có 6/8 thầy cô đều cho rằng do giáo viên ngại dạy vì chưa quen với cách dạy học mới. Và nếu hội đủ các điều kiện thuận lợi, có 7/8 thầy cô sẽ thường xuyên sử dụng SĐTD trong các tiết dạy học môn Văn của mình. Như vậy, qua kết quả khảo sát đối với học sinh và giáo viên, ta có thể thấy rằng hầu hết giáo viên và học sinh đều nhận thức được những lợi ích của việc sử dụng SĐTD trong các tiết dạy và học môn Ngữ văn, đặc biệt là trong các tiết đọc Trang 9 hiểu. Các em đều ý thức được việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Văn sẽ giúp các em nhanh chóng hệ thống lại những kiến thức trọng tâm cơ bản của bài học, dễ tiếp thu bài và nhanh thuộc bài… Còn các thầy cô đều cho rằng việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Văn sẽ không làm mất đi đặc trưng của bộ môn mà còn giúp học sinh nhanh chóng nắm bắt nội dung bài học đồng thời phát huy được sự chủ động, sáng tạo của các em và tất cả các thầy cô đều muốn sử dụng SĐTD trong các tiết dạy của mình. Vậy nguyên nhân nào khiến SĐTD chưa được sử dụng phổ biến trong các tiết dạy học môn Ngữ văn, đặc biệt là trong những giờ đọc - hiểu? Dựa vào kết quả khảo sát, ta có thể chỉ ra được một số nguyên nhân cơ bản: Trước hết, về phía học sinh là do các em rất ít khi được thầy cô cho sử dụng SĐTD trong việc học tập ở trường, đặc biệt đối với bộ môn Văn thì có rất nhiều. Từ đây tạo thành thói quen, SĐTD chỉ dùng cho bộ môn tự nhiên, nhất là môn Văn càng không thể có. Còn về phía giáo viên thì một thực tế có thật là ít giáo viên đầu tư nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin, thói quen là dạy văn phải giàu ngôn từ, lời nói bóng bẩy, hàn lâm,... Còn muốn đầu tư SĐTD cho dạy học môn Văn nói chung hay dạy đọc-hiểu văn học nói riêng lại càng đòi hỏi giáo viên đầu tư cho bài giảng từ kiến thức chuyên môn đến kỹ năng sử dụng SĐTD, mất nhiều thời gian. Đây là lý do dẫn đến “ngại”, “lười” của một bộ phận giáo viên. Thực trạng này đã tồn tại đã khá lâu trong việc dạy và học môn Ngữ văn và đã dẫn đến hệ quả là càng ngày học sinh càng ít có hứng thú với việc học môn Văn, tỏ ra rất thụ động trong các giờ học Văn. Còn giáo viên thì rất vất vả trong việc truyền đạt kiến thức và tạo niềm say mê của học sinh đối với môn học đầy giá trị nhân văn này. Chính vì thực trạng trên, việc nghiên cứu “Sử dụng sơ đồ tư duy để nâng cao hiệu quả giờ đọc - hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 trong chương trình Ngữ văn 11” là rất cần thiết để góp phần vào việc đổi mới cách dạy và học môn Ngữ văn hiện nay, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. 3. Các biện pháp tiến hành 3.1. Trang bị cho học sinh một số kiến thức về sơ đồ tư duy Nhất thiết giáo viên phải cho học sinh làm quen với SĐTD. Bởi vì thực tế cho thấy rằng rất nhiều học sinh cũng chưa biết SĐTD là cái gì, cấu trúc ra sao và vẽ như thế nào. Giáo viên nên giới thiệu cho học sinh về nguồn gốc, ý nghĩa hay tác dụng của việc sử dụng bản đồ tư duy trong học tập môn Ngữ văn. Giáo viên cần phải hướng dẫn cho học sinh cách vẽ một SĐTD. Để vẽ một bản đồ tư duy hoàn chỉnh, bao gồm có các bước cơ bản sau đây: - Bước 1 : Vẽ chủ đề ở trung tâm. Bước đầu tiên trong việc tạo ra một bản đồ tư duy là vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy. Quy tắc vẽ chủ đề : + Vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác. + Có thể tự do sử dụng tất cả màu sắc mà bạn thích. Trang 10 + Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần được làm nổi bật dễ nhớ. + Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng. - Bước 2 : Vẽ thêm các tiêu đề phụ. Bước tiếp theo là vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm. Quy tắc vẽ tiêu đề phụ : + Tiêu đề phụ nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật. + Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm. + Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng. - Bước 3 : Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ. Quy tắc vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ : + Nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh. + Bất cứ lúc nào có thể, hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian. Mọi người ai cũng có cách viết tắt riêng cho những từ thông dụng. Mỗi từ khóa - hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh. Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm. Tất cả các nhánh tỏa ra từ một điểm (thuộc cùng một ý) nên có cùng một màu. Chúng ta thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn. - Bước 4 : Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng bay bổng bằng cách thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn. * Lưu ý học sinh những điều cần tránh khi ghi chép trên sơ đồ tư duy: - Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng. - Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết. - Dành quá nhiều thời gian để ghi chép. * Luyện tập cho học sinh vẽ thử một sơ đồ tư duy: Để củng cố hơn cho phần lý thuyết vừa trình bày, trước hết, giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một vài ví dụ minh họa Ví dụ : Trong bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945, giáo viên sẽ đưa ra một sơ đồ tư duy để hệ thống hoá các nội dung cơ bản của bài học này. Trang 11 Sau đó, giáo viên có thể giao cho học sinh hoặc cùng học sinh xây dựng lên một SĐTD về một trong những nội dung cơ bản của bài học trên. Và khi học sinh vẽ xong SĐTD, giáo viên có thể để học sinh tự trình bày ý tưởng về SĐTD mà mình vừa thực hiện được. 3.2. Giáo viên lập kế hoạch sử dụng sơ đồ tư duy trong các tiết đọc - hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 chương trình lớp 11 - Đây là kế hoạch của phần nội dung mình định sử dụng SĐTD. Kế hoạch này phải có từ đầu năm để giáo viên có thời gian đầu tư. - Ở các tiết đọc - hiểu các tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 dạy bằng SĐTD, giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo cho bài giảng, bao gồm các công việc sau: + Soạn giáo án các tác phẩm sẽ dạy đảm bảo các bước lên lớp, thể hiện được mục tiêu cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ của bài học. + Xác định các nội dung trọng tâm để thể hiện trên SĐTD. + Chọn SĐTD phù hợp để thể hiện nội dung bài giảng, sao cho SĐTD phục vụ được cái mình cần đạt, cả kiến thức lẫn kĩ năng, thái độ. Cụ thể: Trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam, sơ đồ tư duy không chỉ sử dụng một tiết mà đến tiết thứ ba mới hoàn chỉnh (dạy trong 03 tiết). Hay trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, sơ đồ tư duy bài giảng sử dụng dạy trong 02 tiết. - Để dạy 02 tác phẩm này, trước hết, giáo viên cần soạn giáo án đầy đủ các bước lên lớp, đảm bảo những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ. - Sau đó, dựa vào nội dung bài giảng, giáo viên cần chuẩn bị một SĐTD vẽ trước hệ thống toàn bộ kiến thức của bài học. Giáo viên có thể trao đổi với đồng nghiệp về dạng SĐTD mình chọn để rút kinh nghiệm và nghiên cứu bổ sung thêm. Trang 12 - Từ việc xác định như trên, giáo viên cũng đồng thời chuẩn bị cho học sinh việc chủ động học và theo dõi kiến thức mỗi tiết. Ví dụ: Để dạy tiết 01 tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam, sau khi soạn giáo án bài giảng theo đúng các yêu cầu đặt ra thật cụ thể, chi tiết, giáo viên thiết lập một SĐTD phù hợp, thể hiện rõ nội dung kiến thức bài học. * Giáo án bài giảng Hai đứa trẻ của Thạch Lam (Tiết 01). Tiết 35: Đọc văn: HAI ĐỨA TRẺ (Thạch Lam) (Tiết 01) A. Mục tiêu bài học MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT - Hiểu được sự cảm thông sâu sắc của Thạch Lam đối với cuộc sống quẩn quanh, buồn tẻ của những người nghèo phố huyện và sự trân trọng của nhà văn trước mong ước của họ về một cuộc sống tươi sáng hơn. - Thấy được một vài nét độc đáo trong bút pháp của Thạch Lam TRỌNG TÂM KIẾN THỨC KĨ NĂNG Kiến thức - Bức tranh phố huyện - Niềm xót xa, thương cảm của nhà văn và sự trân trọng nâng niu những khát vọng nhỏ bé nhưng tươi sáng của họ. - Tác phẩm giàu yếu tố hiện thực, lãng mạn, chất thơ. Kĩ năng - Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại - Phân tích tâm trạng nhân vật theo đặc trưng thể loại Thái độ: - Tình cảm yêu mến đối với những kiếp người nghèo khổ trước CMT8. - Đồng cảm và trân trọng những ước mơ nhỏ bé của họ. B, Phương tiện thực hiện: SGK, SGV, thiết kế bài giảng C, Cách thức tiến hành: GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp đọc sáng tạo, phát vấn, trả lời câu hỏi, thảo luận D, Tiến trình dạy học: 1, Ổn định lớp: 2, Kiểm tra bài cũ: Những đặc điểm cơ bản của VHVN từ đầu TK XX  CMT8/1945? Quá trình hiện đại hoá diễn ra qua mấy bước? Đặc điểm và thành tựu của mỗi bước? VH thời kì này có đóng góp như thế nào đối với nền VH dân tộc? Trang 13 3, Giới thiệu bài mới: Trong những tác giả có nhiều đóng góp cho văn xuôi giai đoạn 1930 – 1945, Thạch Lam là một cây bút có quan niệm văn chương lành mạnh, tiến bộ và có biệt tài về truyện ngắn. Mỗi truyện của Thạch Lam như một bài thơ trữ tình, giọng điệu điềm đạm, chất chứa tình cảm yêu mến của tác giả đối với cảnh vật và con người. Truyện ngắn Hai đứa trẻ là một ví dụ. TIẾN TRÌNH HOẠT ĐỘNG Gọi học sinh đọc phần tiểu dẫn và trình bày những nét cơ bản về tác giả. . Tuổi thơ sống nhiều tại quê ngoại – phố huyện Cẩm Giàng (Hải Dương) → 1 không gian NT trở đi trở lại trong các TP của ông. . Là em ruột hai nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo và cả ba người đều là thành viên chủ chốt của nhóm Tự lực văn đoàn. .Ông mất ngày 28 tháng 6 năm 1942 vì căn bệnh lao phổi khi mới 32 tuổi. . Ý kiến của Nguyễn Tuân: “Ngày này đọc lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học”. NỘI DUNG CẦN ĐẠT I. TIỂU DẪN 1.Tác giả: * Con người: (1901-1942) - Tên khai sinh: Nguyễn Tường Vinh (sau đổi thành Nguyễn Tường Lân) - Sinh tại Hà Nội trong 1 gia đình công chức gốc quan lại. - Là người đôn hậu, điềm đạm và rất đỗi tinh tế. - Là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn, là cây bút chủ chốt của các báo Phong hóa, Ngày nay… * Sự nghiệp: - Đề tài: viết nhiều về cuộc sống và con người nơi phố huyện, ngoại ô. - Phong cách NT: độc đáo + Có biệt tài về truyện ngắn - truyện không có cốt truyện, + Đi sâu khai thác thế giới nội tâm nhân vật. + Hai yếu tố hiện thực và trữ tình luôn đan xen + Lời văn nhẹ nhàng, đằm thắm, giàu chất thơ. Mỗi truyện như một bài thơ trữ tình đượm buồn. - Tác phẩm chính: sgk + Truyện ngắn: Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn, Sợi tóc. + Tiểu thuyết : Ngày mới (1939) + Tập tiểu luận: Theo dòng (1941) + Tùy bút: Hà Nội băm sáu phố phường (1943) . Em hãy trình bày xuất xứ của TP? 2. Tác phẩm: a. Xuất xứ : - Trích trong tập truyện Nắng trong vườn – xuất bản 1938 - Là 1 truyện ngắn rất tiêu biểu cho phong cách NT của T.Lam. b. Tóm tắt: . Em hãy tóm tắt nội dung cơ bản của - Truyện viết về cuộc sống tối tăm nghèo nàn của Trang 14 truyện? những người lao động nghèo ở một phố huyện nhỏ bé. - Liên và An đã từng có một cuộc sống đầy đủ vui vẻ ở Hà Nội. Do gia đình sa sút, hai đứa trẻ phải về sống nơi phố huyện có một cái ga xép nhỏ, được cha mẹ giao cho trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ. - Nhịp sống nơi đây rất buồn tẻ, đơn điệu, ngập chìm trong bóng tối với những con người như mẹ con chị Tí, bác Siêu, vợ chồng bác Xẩm, bà cụ Thi.. Cuộc sống của họ cũng có chung một mẫu số là bé nhỏ, nghèo khổ, đáng thương... - Thế nhưng chừng ấy người sống trong bóng tối vẫn hy vọng cái gì đó tươi sáng hơn. Mong ước ấy được thể hiện qua việc họ cố thức để trông chờ chuyến tàu đêm từ Hà Nội về chạy qua phố huyện. - Chuyến tàu mang theo những ánh sáng rực rỡ, những âm thanh sôi động, ầm ầm chạy vụt qua rồi im tiếng trong màn đêm sâu thẳm. Rồi sau đó, Liên cũng ngập . GV giới thiệu cho HS về cuốn “Hồi dần vào giấc ngủ yên tĩnh. ký về gia đình Nguyễn- Tường” của Nguyễn Thị Thế để thấy nhân vật, khung cảnh, tâm trạng trong HĐT là có thật… Gia đình TL có 1 thời kì khốn khó, nghèo túng khi ba TL mất, mẹ TL 1 mình nuôi 7 ng con ăn học tử tế bằng cái nghề cân gạo trong cái phố huyện buồn tẻ ở Cẩm Giàng. Niềm an ủi duy nhất của bà là các con học hành ngày càng tiến bộ. . E hãy phân chia bố cục của TP? . Cảnh chiều tàn nơi phố huyện hiện lên ntn qua ngòi bút của TL? . E hãy tìm những chi tiết ( âm thanh, h/ả, màu sắc..) tả cảnh phố huyện khi chiều xuống? . Âm thanh của phố huyện đc miêu tả qua những chi tiết nào? Nhận xét về những âth đó? Tác giả đã sử dụng NT gì để miêu tả â thanh? Tác dụng? . E có nhận xét gì về những chi tiết miêu tả h/ả, màu sắc? NT? Tác dụng? c. Bối cảnh của truyện: Phố huyện Cẩm Giàng (Hải Dương) – quê ngoại của nhà văn – nơi ông đã từng sống lúc tuổi thơ d. Bố cục: 3 phần - Đoạn 1 ( Từ đầu – phía làng): Cảnh phố huyện khi chiều xuống. - Đoạn 2 (tiếp – không hiểu): Cảnh phố huyện lúc đêm về - Đoạn 3 (còn lại): Cảnh chờ tàu của hai đứa trẻ. II. ĐỌC - HIỂU 1. Cảnh phố huyện khi chiều xuống: a. Cảnh chiều tàn: - Âm thanh: + Tiếng trống thu không từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều + Văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài ruộng theo gió nhẹ đưa vào . + Muỗi bắt đầu vo ve. -> NT: Miêu tả tỉ mỉ, cụ thể những thay đổi, chuyển động của ngoại cảnh - bước đi chậm rãi của thời gian -> Nhịp sống buồn bã, tẻ nhạt của phố huyện lúc chiều tối. - Hình ảnh, màu sắc: + phương tây đỏ rực như lửa cháy + đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn + dãy tre làng trước mặt đen lại, cắt hình rõ rệt trên nền trời Trang 15 . Qua những yếu tố về ÂT, H/Ả, AS, em có cảm nhận gì về cảnh chiều tàn nơi phố huyện? Cảnh chợ tàn được t/g khắc họa qua những chi tiết nào? NT miêu tả? Nhận xét tác dụng? . . Những con người bé nhỏ của phố huyện nghèo này là những ai? Họ có cuộc sống ntn? . Em hãy chỉ ra điểm chung của những mảnh đời này? Họ đã phải sống một cuộc đời tẻ nhạt, bằng phẳng như Huy Cận từng nói: + Những nguồn ánh sáng ấy… cát lấp lánh từng chỗ… những hòn đá nhỏ một bên sáng một bên tối. -> NT so sánh, tương phản -> AS nơi phố huyện đang yếu đi bởi sự chiếm lĩnh của bóng tối.  Một “bức hoạ đồng quê”: yên tĩnh, bình dị, thơ mộng nhưng đượm buồn, tàn tạ và đơn điệu. b. Cảnh chợ tàn và những kiếp người tàn tạ: - Cảnh chợ tàn: + ÂT: người về hết, tiếng ồn ào cũng mất, + H/ả: trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi vỏ thị, lá nhãn và lá mía, một vài người bán hàng về muộn.. + Mùi vị: một mùi âm ẩm bốc lên… do hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi … → NT tương phản giữa còn và mất, giữa động và tĩnh -> Sự xác xơ, tiêu điều của một buổi chợ phiên nghèo đã vãn - không gian làng quê VN trước CMT8. - Những kiếp người tàn tạ: + Mấy đứa trẻ con nhà nghèo: đang tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại ở chợ (thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì đó còn có thể dùng được); + Mẹ con chị Tí: ban ngày thì mò cua, bắt ốc, tối đến dọn cái hàng nước nhỏ; chị “chả kiếm được bao nhiêu nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tối cho đến đêm”. + Bà cụ Thi: điên, vẫn hay mua rượu ở hàng L với tiếng cười khanh khách và dáng đi “lần vào bóng tối” + Chị em Liên: ngồi trên một cái chõng nát, trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, buôn bán chẳng được bao nhiêu (dù là chợ phiên, họ mua chịu nửa bánh xà phòng, bán đong hơn một ngấn rượu trong chiếc cút bé nhỏ …)  Mỗi người một cảnh ngộ, một cách kiếm sống nhưng họ đều có chung 1 số phận: nghèo khổ, bế tắc, tàn lụi. Họ đang chìm dần vào trong bóng đêm của phố huyện, tù mù như những cái bóng, mòn mỏi, quẩn quanh trong bế Trang 16 Quanh quẩn mãi giữa vài ba dáng điệu Tới hay lui vẫn từng ấy mặt người Vì quá quen nên quá đỗi buồn cười Môi nhắc lại chỉ có ngần ấy chuyện. (Quanh quẩn) tắc, không biết cuộc đời sẽ đi đâu về đâu.  Tình cảnh chung của người dân nghèo VN trước CMT8. c. Nhân vật Liên: . L là 1 cô gái có hoàn cảnh * Hoàn cảnh: - Cha mất việc, mẹ làm hàng xáo, kinh tế gia ntn? đình sa sút. - Chuyển từ Hà Nội về phố huyện nghèo sinh sống. - Được giao trông coi cửa hàng tạp hóa nhỏ.  nghèo túng, khó khăn nhưng rất hiếu thảo, đảm đang, có trách nhiệm. * Tâm trạng: - Nhìn cảnh phố huyện về chiều : Liên cảm .Trước cảnh ngày tàn và những kiếp thấy “lòng buồn man mác trước cái giờ khắc người tàn tạ, tâm trạng của Liên thế của ngày tàn”, cảm nhận “mùi riêng của đất nào? Tìm chi tiết miêu tả? của quê hương này”. - Đối với những người nghèo nơi phố huyện: + Xót thương cho những đứa trẻ con nhà nghèo “L trông thấy động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để cho chúng nó” + Thông cảm với nỗi vất vả của mẹ con chị Tí (thể hiện qua lời văn, giọng văn: Ngày đi mò cua…. Chị Tí chả kiếm được bao nhiêu) + Tuy sợ nhưng rất thương cảm với hoàn cảnh của cụ Thi (lần nào cũng rót đầy rượu cho cụ ‘e .Qua những chi tiết trên em cảm nhận L thảo nhỉ. Hôm nay lại rót đầy cho chị đây’) gì về Liên (đời sống và tâm hồn) ?  Liên là một cô bé có tấm lòng nhân hậu, . Nhận xét NT miêu tả đời yêu thương con người, biết quan tâm, chia sẻ và cảm thông với người khác. sống nội tâm L của tác giả?  NT: Miêu tả nội tâm nhân vật sâu sắc, giàu cảm xúc. Nhà văn đã đi sâu và phát hiện những cảm xúc tâm hồn của 1 cô gái mới lớn có đôi mắt u buồn, rất nhạy cảm trước những chuyển biến của sự vật, thay đổi của cuộc đời.  Thái độ t/g: xót thương, day dứt với những kiếp người nghèo khổ, hi vọng đợi chờ một ngày mai tươi sáng sẽ đến với họ. 4.Củng cố: Nắm được những chi tiết (về cảnh, người) trong bức tranh phố huyện lúc chiều tàn. 5.Dặn dò: Học bài. Chuẩn bị bài mới: Hai đứa trẻ - Thạch Lam (Tiết 2,3). * Sơ đồ tư duy bài giảng Hai đứa trẻ - Thạch Lam (Tiết 01). Trang 17 Sơ đồ tư duy trên tóm lược những ý chính của bài giảng Hai đứa trẻ trong tiết 01. Giáo viên có thể nghiên cứu, chỉnh sửa, hoàn thiện dần để hệ thống kiến thức trên SĐTD được trình bày một cách logic, khoa học, giúp học sinh nhanh chóng nắm được nội dung bài học. Và sau 03 tiết dạy, giáo viên sẽ có một SĐTD hoàn chỉnh của toàn bộ nội dung bài giảng Hai đứa trẻ của Thạch Lam. Trang 18 3.3. Tiến hành thực nghiệm Để chứng minh kết quả của đề tài “Sử dụng sơ đồ tư duy để nâng cao hiệu quả giờ đọc - hiểu một số tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 1945 trong chương trình Ngữ văn 11”, trong học kỳ I năm học 2013 - 2014, tôi đã chọn hai lớp 11 đang dạy 11D1 và 11D2 làm đối tượng thực nghiệm. Đây là hai lớp có số lượng học sinh gần bằng nhau (11D1: 38 học sinh; 11D2: 41 học sinh) và có trình độ tương đương nhau - đều là những lớp có lực học Trung bình - Khá của khối 11. Cụ thể: + Lớp 11D1 là lớp thực nghiệm (có sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học). + Lớp 11D2 là lớp đối chứng (dạy bình thường, không sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học). Bài dạy là: 1/ Tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam - Giáo án bài giảng (xem Phụ lục). - Sơ đồ tư duy bài giảng tác phẩm Hai đứa trẻ - Thạch Lam (dạy trong 03 tiết) (Hình trang 18). 2/ Tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân - Giáo án bài giảng (xem Phụ lục). - Sơ đồ tư duy bài giảng tác phẩm Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân (dạy trong 02 tiết) (Hình trang 19). Qua thực tế thực nghiệm 02 bài trên, tôi nhận thấy rằng các tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 có dung lượng kiến thức lớn do đó mỗi tác phẩm đều có số tiết phù hợp để dạy trên lớp. Cụ thể, tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam) dạy trong 03 tiết, còn tác phẩm Chữ người tử từ (Nguyễn Tuân) dạy trong 02 tiết. Chính vì dung lượng kiến thức ở mỗi tác phẩm nhiều như vậy nên học sinh rất khó khăn trong việc nhớ và học thuộc tất cả nội dung kiến thức bài học. Bởi vậy, để giúp các em dễ dàng nắm được nội dung bài học, tôi đã kết hợp sử dụng SĐTD trong quá trình giảng dạy. Cụ thể, sau khi dạy xong mỗi phần của tác phẩm, tôi liền hệ thống nội dung kiến thức vừa dạy bằng một SĐTD trên 01 bảng phụ hoặc trên màn hình máy chiếu (nếu dạy ở phòng máy). Cứ như vậy, khi xong các phần nội dung cần tìm hiểu của một tác phẩm thì tôi cũng có một SĐTD hoàn chỉnh về hệ thống nội dung kiến thức của tác phẩm đó. Đồng thời, để củng cố hơn, tôi cũng yêu cầu học sinh về nhà tự hệ thống kiến thức vừa học bằng SĐTD trên một tờ giấy trong đó thể hiện đầy đủ các kiến thức cơ bản của bài học và mối liên hệ của chúng theo cách riêng của từng em (sẽ kiểm tra vào giờ học sau). Với việc học các tiết đọc - hiểu mà giáo viên có sử dụng SĐTD kết hợp với việc học sinh tự hệ thống hóa nội dung kiến thức tác phẩm bằng SĐTD, học sinh sẽ dễ nhớ, dễ thuộc nội dung bài học, đồng thời phát huy sự chủ động, sáng tạo khi tự thiết kế một SĐTD theo cách riêng của mình. Trang 19 Trang 20
- Xem thêm -