Tài liệu Skkn rèn luyện kỹ năng làm bài văn nghị luận cho học sinh thpt lớp 12.

  • Số trang: 57 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 756 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

BM01-Bìa SKKN SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị THPT Nguyễn Đình Chiểu ----------------------Mã số: ........................ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH THPT - LỚP 12. Người thực hiện: Nguyễn Thị Lê Lĩnh vực nghiên cứu: - Quản lý giáo dục : 1 - Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn 1 - Lĩnh vực khác: 1 Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN 1 Mô hình 1 Phần mềm 1 Phim ảnh 1 Hiện vật khác Năm học: 2014-2015. Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 0 BM02-LLKHSKKN SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN 1. Họ và tên: Nguyễn Thị Lê 2. Ngày tháng năm sinh: 04/10/1980 3. Nam, nữ: nữ 4. Địa chỉ: Phước Thái- Long Thành- Đồng Nai 5. Điện thoại: 0613551883 ; ĐTDĐ:0962566919 6. E-mail: ngle1712@gmail.com 7. Chức vụ: Tổ trưởng 8. Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO - Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ : Cử nhân - Năm nhận bằng: 2003 - Chuyên ngành đào tạo: Ngữ văn III.KINH NGHIỆM KHOA HỌC - Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Ngữ văn - Số năm có kinh nghiệm: 11 Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 1 Sáng kiến kinh nghiệm: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH THPT- LỚP 12. I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Tác phẩm văn học nghệ thuật là một “chiếc gương soi” của cuộc sống, là một kho kinh nghiệm sống, một kho tư liệu dồi dào về cuộc sống, là ý thức, băn khoăn, rung động của con người trước cuộc sống. Cho nên để hiểu cuộc sống một cách cụ thể, để có thể hình dung một cách cụ thể thời đại đã qua, không gì có thể thay thế bằng tác phẩm văn chương. (Lí luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ, NXB GD,1998) Từ việc tiếp nhận những giá trị tư tưởng, thẩm mĩ qua tác phẩm văn học trong Nhà trường cũng như những tác phẩm ngoài chương trình và những vấn đề trong đời sống, mỗi học sinh tự bày tỏ sự nhận thức, tình cảm, thái độ … của bản thân thông qua bài làm văn. Đó là kết qủa của quá trình lĩnh hội tri thức, là thành quả học tập của các em. Là một giáo viên dạy Văn, tôi luôn mong muốn học trò của mình làm được những bài văn hay, đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, qua các kì thi. Tuy nhiên, đó không phải là một việc đơn giản. Bài văn hay trước hết phải là bài văn viết đúng (đúng theo nghĩa tương đối, nghĩa là trong khuôn khổ nhà trường). Hay và đúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Bài văn hay trước hết phải viết theo đúng yêu cầu của đề bài, đúng những kiến thức cơ bản, hình thức trình bày đúng quy cách … Xác định đúng yêu cầu của đề bài là rất cần thiết, bước này giúp học sinh thể hiện đúng chủ đề của bài văn, tránh lạc đề hay xa đề. Xác định đúng yêu cầu của đề cũng giúp người viết lập được một dàn ý tốt và do đó cũng tránh được sự dài dòng, lan man “Dây cà ra dây muống”, “Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” tạo được sự thống nhất, hài hoà giữa các phần của bài viết, tránh tình trạng “Đầu voi đuôi chuột”. Mặt khác, việc viết đúng kiến thức cơ bản vô cùng quan trọng, kiến thức cơ bản là “bột”, mà “Có bột mới gột nên hồ”. Hình thức trình bày là sự thể hiện bố cục của bài văn trên trang giấy. Một bài văn đúng quy cách là bài văn mà khi nhìn vào tờ giấy phần bài làm của học sinh chưa cần đọc, chúng ta đã thấy rõ ba phần: Mở bài, thân bài và kết bài. Muốn thế, người viết không chỉ phải chú ý đến nội dung mà hình thức cũng phải rõ ràng. Trong thực tế dạy – học tôi thấy bài văn của học sinh mình chưa đáp ứng được những yêu cầu của mô ôt văn bản trong nhà trường. Bài văn của các em vẫn còn hiện tượng lạc đề, xa đề do không chú ý đến việc tìm hiểu đề; đoạn văn trong bài thường sai quy cách (các em thường viết đoạn không có câu chủ đề hoặc có nhiều câu chủ đề trong một đoạn,…). Bên cạnh đó, sự liên kết giữa các đoạn văn chưa lôgíc (triển khai ý nọ sọ ý kia, không nhất quán, trùng lặp,…). Thậm chí, có rất nhiều em đã học đến lớp 12 nhưng hoàn toàn không biết làm một bài văn nghị luận đúng yêu cầu (một số em để giấy trắng, một số khác thì viết linh tinh để đối phó trong bài kiểm tra). Trong khi đó phần Làm văn nghị luận chiếm tỉ lệ 50% đến 70% điểm số bài thi, cho nên tình trạng học sinh điểm dưới trung bình là rất cao. Đó cũng là lý do khiến các em lo sợ, không hào hứng khi học môn Ngữ văn, nhất là phân môn Tập làm văn. Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 2 Từ những lý do đó, tôi đã tiến hành tìm tòi, nghiên cứu và vâ ôn dụng vào thực tế giảng dạy “Rèn luyện kỹ năng làm bài văn nghị luận cho học sinh THPT- Lớp 12”. Trong đề tài này, tôi chia sẻ chủ yếu cách làm hai dạng đề thiết thực nhất là: kỹ năng làm bài nghị luận văn học và kỹ năng làm bài nghị luận văn học kết hợp nghị luận xã hội nhằm giúp học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi THPT Quốc gia 2015 sắp tới. II.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cở sở lý luận: Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ- BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: “Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”. Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích cực, phát huy năng lực chủ động, sáng tạo ở cả người dạy lẫn người học, chú trọng khái quát nội dung kiến thức tạo thuận lợi để học sinh lĩnh hội và phát triển các thao tác tư duy khoa học. Tăng cường và sử dụng hợp lý các phương tiện trong dạy học,“nâng cao chất lượng thực hành hướng tới đảm bảo sự phát triển năng lực cho mỗi cá nhân”(Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy lớp 9- Vụ giáo dục trung học trang 6,7). Lớp 9 cũng như lớp 12 là những lớp cuối cấp nên có một vị trí hết sức quan trọng: vừa phải tổng kết được những kiến thức, kĩ năng được học tập, rèn luyện trong quá trình học, vừa phải chuẩn bị cho các kỳ thi, tạo tâm thế, tiềm lực cho các em lên bậc Đại học hoặc đi vào cuộc sống thực tế. Nghị luận nói chung, nghị luận về một tác phẩm Văn học nói riêng có vị trí rất quan trọng trong chương trình Tập làm văn lớp 12. Nghị luận văn học là một dạng nghị luận mà các vấn đề đưa ra bàn luận là các vấn đề văn học: tác phẩm, tác giả, thời đại văn học, trào lưu, các giá trị về nội dung, nghệ thuật, hình tượng,... của một tác phẩm cụ thể. Nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội là hình thức tổng hợp hai dạng kiến thức: từ tác phẩm văn học và từ thực tiễn đời sống. Xuất phát từ đặc trưng của văn học: có tính hình tượng, hàm súc, đa nghĩa, hệ thống; là nghệ thuật ngôn từ; là phương tiện chuyển tải những tư tưởng, tình cảm của nhà văn để từ đó mang đến nội dung giáo dục sâu sắc về tình cảm, thẩm mĩ cho người đọc. Do vậy, khi làm bài nghị luận văn học, người viết phải phát hiện được các giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật thẩm mĩ, nền cảm xúc, của tác phẩm, tác giả đồng thời thể hiện được năng lực cảm thụ, thưởng thức văn học của cá nhân. Bài nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội đòi hỏi người viết phải đáp ứng các yêu cầu về cảm thụ tác phẩm như đã nêu ở trên đồng thời cần thể hiện những nhận thức, đánh giá, suy nghĩ của bản thân về các vấn đề tư tưởng, đạo đức, lối sống; các hiện tượng... đang diễn ra trong cuộc sống. Mặt khác, cũng cần hiểu rằng một tác phẩm văn học ra đời là đứa con tinh thần của nhà văn; chịu sự chi phối của tư tưởng, quan niệm và tài năng của tác giả. Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 3 Đồng thời, nó cũng phản ánh một thời đại lịch sử (bối cảnh tác phẩm) trong một hoàn cảnh xã hội nhất định (hoàn cảnh ra đời). Do đó, khi làm bài nghị luận văn học cần huy động tri thức về thời đại của tác giả, về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, về văn học và về tiếng Việt... Khi nghị luận về tác phẩm văn học phải đặt tác phẩm vào thời đại mà tác phẩm phản ánh cũng như hoàn cảnh tác phẩm ra đời để thấy rõ giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Theo cách thức nghị luận và phương pháp lập luận có thể chia thành các kiểu bài nghị luận văn học: phân tích, bình luận, chứng minh. Người ra đề cũng có thể kết hợp nhiều yêu cầu trong một đề văn. Đó là lí do học sinh thường gặp kiểu bài hỗn hợp. Như vậy, để làm tốt bài nghị luận văn học, cần cho học sinh hiểu rõ tính chất tổng hợp của kiểu bài này. Giáo sư Lê Trí Viễn đã có lời nhắn nhủ: “Dạy văn lấy cảm làm đầu”. Người giáo viên dạy học sinh làm bài văn nghị luận văn học, bài nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội không thể nghèo nàn cảm xúc, cũng không thể kém hiểu biết thực tế cuộc sống. Cho nên hướng gợi ý học sinh trình bày những cảm nhận, đánh giá tác phẩm, hiện tượng đời sống hay tư tưởng, đạo lí phải xuất phát từ những rung cảm thẩm mĩ chân thật; phải biết kết hợp linh hoạt nhiều thao tác lập luận; phát huy tính tích cực, sáng tạo của cá nhân, không gò ép theo khuôn mẫu. Năm 2008, Bộ Giáo dục tiếp tục triển khai cho giáo viên trên toàn quốc một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, trong đó phương pháp giảng dạy phân môn Tập làm văn được chú trọng nhiều nhất cũng đã mở ra nhiều hướng suy nghĩ mới, giúp giáo viên giảng dạy tốt hơn nếu biết tự nghiên cứu và vận dụng sáng tạo hơn. 2. Cơ sở thực tiễn: Môn Ngữ văn trong nhà trường THPT gồm có ba phân môn: Đọc văn, tiếng Việt và Tập làm văn.Trong thực tế, phân môn Tập làm văn luôn được coi là phân môn khó. Hơn thế, cách ra đề thi tốt nghiệp THPT năm 2014 của Bộ GD& ĐT theo hình thức mới lại càng khó hơn không chỉ đối học sinh mà còn đối với cả giáo viên. Bởi để làm được bài văn hay đòi hỏi tư duy, kỹ năng và một phần năng khiếu của người viết. Về phía giáo viên: Trong chương trình nghị luận văn học lớp 12, nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi; nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ; nghị luận về một ý kiến bàn về văn học đã được tách ra thành từng phần, từng bài để hướng dẫn cho học sinh nắm được đặc trưng cơ bản của từng dạng bài. Từ đó, giúp học sinh có cách làm từng loại bài văn cụ thể theo yêu cầu của đề bài. Tuy nhiên, do thời gian theo PPCT dành cho tiết học Tập làm văn này ít. Hơn nữa, bản thân tôi cũng như một số giáo viên trong tổ khi dạy những tiết Tập làm văn chưa chú trọng, chưa đầu tư nghiên cứu kỹ nội dung, kiểu bài,...để có phương pháp dạy phù hợp. Thông thường đến những tiết Tập làm văn, giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh nắm được nội dung của bài làm văn đó. Chẳng hạn, cũng hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, lập dàn ý chi Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 4 tiết, viết mở bài, thân bài, kết bài cho những đề văn mà sách giáo khoa đưa ra. Nhưng một thực tế, nhiều đề trong số những đề đó nó không hoàn toàn thiết thực với chương trình, mục đích mà học sinh lớp 12 đang học. Trong khi đó, một số giáo viên lại không linh động khi soạn giáo án để thay thế đề bài khác phù hợp với chương trình học sinh lớp 12 đang tiếp cận mà vẫn đảm bảo yêu cầu về kiểu bài. Việc ra đề kiểm tra của giáo viên hiện nay cũng còn nhiều điều cần bàn. Một số giáo viên chưa quen với cách ra đề theo hình thức mới nên ra đề chỉ mang tính chất đối phó. Về phía học sinh: Theo kết quả điều tra của bản thân tôi vào đầu năm học bằng phiếu lấy ý kiến: Học phân môn Tập làm văn em thích hay không thích? Thích  Không thích  Năng lực học Tập làm văn của em ở mức nào? Giỏi  Khá  Làm bài Tập làm văn khó hay dễ? TB  Yếu  Khó  Dễ  Theo bản thân em, thể loại văn bản nào sau đây đối với em là khó làm bài nhất? Thuyết minh  Nghị luận  Làm bài Tập làm văn kết hợp giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội khó hay dễ? Khó  Dễ  Kết quả khảo sát cho thấy, trong tổng số 68 phiếu điều tra học sinh khối 12, trong đó có đến hơn 2/3 ý kiến không thích học phân môn Tập làm văn, các em cho đây là phân môn khó và học rất yếu, đặc biệt là ở thể loại văn nghị luận. Cụ thể: Chưa coi trong bộ môn so với các môn khoa học tự nhiên nên chưa đầu tư, chưa có thái độ học tập đúng đắn; chưa có thói quen chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Học sinh học Tập làm văn một cách máy móc. Trước một đề bài các em ít nghiên cứu, chỉ đọc loáng thoáng rồi viết theo kiểu đối phó. Nhiều bài văn chưa đạt yêu cầu do chưa biết cách viện dẫn, dẫn chứng nghèo nàn, thiếu chính xác và không lôgíc. Học văn nghị luận mà chưa biết cách phân biệt thể loại, kiểu bài. Thiếu năng lực phân tích cần thiết, chưa thấy được cái hay cái đẹp trong văn chương. Nhiều học sinh chỉ làm được phần nghị luận văn học hoặc tách ra thành hai đoạn riêng biệt. Nhiều học sinh khi viết bài mắc lỗi về dùng từ, đặt câu, lập luận, viết đoạn, hành văn và nhiều lỗi khác. Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 5 Trước thực trạng trên, bản thân tôi là người phụ trách bộ môn của trường, đồng thời là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 12, tôi luôn băn khoăn, trăn trở làm thế nào để giúp học sinh nắm và làm tốt bài Tập làm văn. Với mục đích là rèn luyện cho học sinh lớp 12 thành thạo những kỹ năng cơ bản nhất, thiết thực nhất, thậm chí là cụ thể hóa khi làm bài nghị luận. Và mục tiêu chung là giúp hơn 65% học sinh yếu của trường cũng có thể đậu trong kỳ thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn. Sáng kiến kinh nghiệm này nhằm đạt được mục đích và mục tiêu trên, thực tế những năm qua chúng tôi đã vận dụng trong việc dạy học làm văn nghị luận văn học; dạy nghị luận văn học kết hợp nghị luận xã hội ngay từ kỳ ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2013-2014, năm học 2014-2015 ở lớp 12 và đã đạt được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận: trên 85% học sinh khối 12 không còn “choáng ngợp” với văn nghị luận, không rơi vào tâm lí sợ làm nghị luận; học sinh chủ động, tích cực và thích học và làm nghị luận hơn. Điều đó thể hiện rất rõ qua kết quả các bài kiểm tra, bài thi.Tỉ lệ đậu tốt nghiệp được nâng lên đáng kể qua từng năm.(Năm 2014 tỉ lệ đậu tốt nghiệp môn Văn trường THPT Nguyễn Đình Chiểu là 82%). Những giải pháp tôi đưa ra đây chắc chắn không hoàn toàn là những giải pháp mới lạ. Nhưng đây là những giải pháp thiết thực, cụ thể hóa để phù hợp với đối tượng học sinh trường THPT Nguyễn Đình Chiểu . III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP Để có một bài văn hoàn chỉnh người viết phải trải qua các bước: Tìm hiểu đề, tìm ý; lập dàn ý; viết bài văn; đọc và sửa bài. Tuy nhiên ở phạm vi bài viết này tôi chỉ tập trung một số vấn đề có tính thiết thực nhất đối với học sinh lớp 12 như sau: 1. Tìm hiểu đê Để tìm hiểu để tốt, người viết cần đọc kĩ đề, chú ý từ ngữ then chốt để xác định đúng yêu cầu về nội dung, hình thức và tư liệu sử dụng. a) Xác định kiểu bài: Đề bài yêu cầu nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ; nghị luận về một đoạn trích, một tác phẩm văn xuôi hay nghị luận về một ý kiến bàn về văn học, hay kết hợp nghị luận về một vấn đề văn học với một vấn đề xã hội? Lời yêu cầu về kiểu bài theo lối trực tiếp hay gián tiếp? Thông thường học sinh khi nhận được đề bài thường bỏ qua khâu này, nhưng các em lại không biết rằng đây là việc quan trọng giúp các em nhận thức tốt các khâu còn lại trong bước tìm hiểu đề. Vì vậy, khi dạy tôi luôn yêu cầu học sinh thực hiện khâu này trước tiên mà không bao giờ được bỏ qua. Chẳng hạn: Đề 1: Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến qua đoạn thơ sau: “...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 6 Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành... ” ( Trích Tây Tiến - Quang Dũng) Đề 2: Vẻ đẹp của một nhân vật nam trong chương Ngữ văn 12 mà em yêu thích. Đề 3: Phân tích bài thơ sau của Hồ Chí Minh: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Cảnh khuya như vẽ, Ngườii chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Đề 4: Phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Đề 5: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong đoạn trích Vợ chồng Aphủ của nhà văn Tô Hoài. Đề 6 : Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn học Việt Nam phong phú, đa dạng; nhưng nếu cần xác định một chủ lưu, một dòng chính, quán thông kim cổ, thì đó là văn học yêu nước”. Hãy trình bày suy nghĩ của anh (chị) đối với ý kiến trên. Đề 7: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại. Đề 8: Cảm nhân của anh/chị về nhân vật Tràng trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân.Từ đó làm sáng rõ tình yêu thương con người trong xã hội hiện nay (đúng với tinh thần “Lá rách ít đùm lá rách nhiều” mà ông cha ta đã dạy). Với các đề bài trên, giáo viên hướng dẫn học sinh làm thế nào để xác định đúng nhất, nhanh nhất các dạng đề. Muốn vậy, giáo viên phải hướng học sinh dựa vào từ ngữ có tính chất định hướng, gợi yêu cầu của đề. Đồng thời, phải giúp học sinh thấy được sự khác nhau của các từ ngữ trong đề nổi để từ đó có cơ sở xác định đúng các thao tác trọng tâm. Những đề bài cho ở trên, lưu ý những từ, cụm từ in nghiêng, gạch chân giúp học sinh nhận diện yêu cầu của đề bài. Căn cứ vào đó ta nhận diện được: Đề 1 là nghị luận về một đoạn thơ; đề 1 lời yêu cầu về kiểu bài trực tiếp- đề đóng (đề nổi), đề 2 lời yêu cầu về kiểu bài gián tiếp- đề mở . Đề 3 nghị luận về một bài thơ (đề đóng), Đề 4 nghị luận về một tác phẩm văn xuôi (đề đóng), Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 7 Đề 5 nghị luận về một đoạn trích văn xuôi (đề đóng), Đề 6 nghị luận về một ý kiến bàn về văn học- đề mở ( đề chìm), Đề 7,8 nghị luận văn học kết hợp nghị luận xã hội, Đề 1, 3, 4, 5 thao tác nghị luận chính là phân tích; đề 2 và đề 7 thao tác chính là bình luận, phân tích; đề 6 thao tác chính là chứng minh, phân tích. Đề 1,2,3,4,5,6 là dạng đề nghị luận văn học; đề 7,8 là đề kết hợp giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội. b) Xác định nội dung trọng tâm yêu cầu của đề: Có thể căn cứ vào đề bài để xác định nội dung trọng tâm. Có bài viết chỉ cần dựa vào đề bài là có thể nhận thấy nội dung trọng tâm. Nhưng phần lớn các bài viết đều đòi hỏi người viết phải suy luận thêm: qua nội dung trước mắt (được thể hiện rất rõ ở đề bài) đề bài yêu cầu người viết phải nhận thức thêm về vấn để gì ? Đó là những vấn đề tư tưởng chủ đề sâu sắc của tác phẩm mà mọi chi tiết, hình ảnh, câu chữ,... của tác phẩm đều hướng đến thể hiện. Chẳng hạn với đề bài Theo anh (chị), tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” được hiểu hiện cụ thể ở những phương diện nào? Trình bày vắn tắt và nêu dẫn chứng minh hoạ. Nội dung trọng tâm của bài viết là: Phân tích tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc”của Tố Hữu. (Tr 5-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội) Kỹ năng tìm hiểu đề là kỹ năng định hướng cho toàn bộ quá trình thực hiện một bài Tập làm văn. Tuy vậy, đa số học sinh thường không chú ý đến bước này. Vì vậy, trong quá trình làm bài các em thường lạc đề hoặc xa đề nên bài văn thường không có điểm cao. Cũng chính vì lẽ đó hướng dẫn các em làm tốt bước này sẽ giúp học sinh tránh được việc lạc đề, xa đề. Từ đó bài văn sẽ tốt hơn. Nắm được hạn chế đó của học sinh nên tôi luôn hướng dẫn học sinh thực hiện thao tác này và nó được lặp đi lặp lại ở mỗi bài viết cũng như trước các đề trong bài học. Trên cơ sở đó các em sẽ biến nó thành một kỹ năng cần thiết trước khi viết bài. Để học sinh xem tìm hiểu đề là một bước không thể thiếu khi làm bài thì giáo viên phải giúp các em thành thạo bước này trong quá trình dạy học. Người giáo viên nên tận dụng thời gian để cho các em luyện tập. Chẳng hạn, ra đề và yêu cầu HS về nhà thực hiện, trước các bài viết số 1, số 2, số 3, dựa trên nội dung ôn tập đã thống nhất. Để giúp học sinh tìm hiểu đề, trước một đề bài tôi thường yêu cầu học sinh đọc nhiều lần (thậm chí yêu cầu học sinh đọc thuộc đề); lấy bút chì gạch chân những từ cần chú ý, chép lại đề với những ý có gạch đầu dòng để làm cho nổi bật các yêu cầu của đề; xác định ba yêu cầu của đề. Ví dụ: Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ sau: ...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 8 Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành... ( Trích Tây Tiến - Quang Dũng) C) Xác định các thao tác lập luận Có nhiều thao tác lập luận: giải thích, chứng minh, phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận (trong đó, thao tác giải thích và chứng minh tạm được coi là những thao tác bộ phận của thao tác phân tích). Mỗi thao tác lại có những ưu thế riêng, trong bài văn nghị luận nên vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận một cách phù họp để bài viết đạt hiệu quả cao nhất. Muốn vậy, đòi hỏi người viết phải nắm chắc được đặc điểm chung của một số thao tác lập luận cơ bản. Trên thực tế, những thao tác này học đã được học từ các lớp dưới, tuy nhiên không phải học sinh nào cũng nhớ và thành thạo khi làm bài. Vì vậy, ngay từ bài hướng dẫn học sinh làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ (lớp 12), tôi yêu cầu các em phải ôn lại những thao tác lập luận đã học và bắt buộc các phải em ghi nhớ. Cứ thế, trong suốt quá trình luyện tập- trái buổi ở những đề cụ thể của bất kì kiểu bài nào. Dưới đây là đặc điểm chung của một số thao tác lập luận cơ bản. Phân tích: chia tách sự vật, hiện tượng thành nhiều yếu tố nhỏ để đi sâu vào xem xét một cách kĩ lưỡng nội dung và mối quan hệ bên trong của hiện tượng và sự vật đó. Khi phân tích cần chú ý gắn cái riêng với cái chung, không nên tách rời sự vật đối tượng khỏi cái chung khiến chúng trở nên lẻ tẻ, vụn vặt. Ví dụ: Con sông Đà“tuôn dài, tuôn dài như áng tóc trữ tình...” câu văn dài chất chứa niềm yêu say mê của Nguyễn Tuân với sông Đà. Biện pháp so sánh không chỉ gợi chiều dài của dòng sông mà còn cảm nhận về dáng hình, dòng chảy của nó. Sông Đà trong một sự vận động, chảy trôi miên man, vô tận. Sông Đà hung dữ đã thay bằng hình ảnh một con sông mềm mại, uốn lượn, được hình dung như mái tóc của người thiếu nữ. Hình ảnh gợi cảm, duyên dáng, tình tứ, có khá năng tạo ra những trường liên tưởng rộng lớn qua trí tưởng tượng sinh động của nhà văn. (Đề bài : Phân tích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam qua hai bài tuỳ bút Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông ? (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Trong đoạn văn trên, người viết đã phân tích câu văn (Con sông Đà) “tuôn dài, tuôn dài như áng tóc trữ tình...” trên cả hai phương diện: nội dung (chiều dài cùa dòng sông; dáng hình, dòng chảy của nó; hình ảnh một con sông mềm mại, uốn lượn,...) và nghệ thuật (Biện pháp so sánh; Hình ảnh gợi cảm; trường liên tưởng rộng lớn,..) để làm rõ ý văn của tác giả. Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 9 So sánh: đối chiếu hai hay nhiều sự vật, hoặc là các mặt trong cùng một sự vật nhằm chỉ ra những nét tương đồng hay khác biệt, từ đó thấy rõ đặc điểm và giá trị cùa từng sự vật. Khi so sánh cần chú ý lựa chọn và duy trì một tiêu chí, một bình diện so sánh nhất định. Chẳng hạn: Nguyễn Văn Siêu đã rất đúng đắn khi đặt ra một yêu cầu cho văn chương chân chính, đó phải là tiếng nói, hơi thở của cuộc sống đời thường, đưa ra nhiệm vụ phản ánh hiện thực cho văn chương. Yêu cầu này đòi hỏi ở nhà văn một sự tinh tế, nhạy cảm, thức nhọn các giác quan rất cao để có thế giới quan cuộc sống, nhập thân vào cuộc sống để khám phá, tìm tòi. Một tác phẩm ưu tú "không đem đến một cách cho người đọc sự thoát ly hay sự quên:, nó đem đến cho người đọc hơi thỏ, nhịp đập của chính cuộc đời cho người đọc những “bài học trông nhìn và thưởng thức" (Theo dòng)-Thạch Lam. “Tác phẩm văn nghệ phải thể hiện sự sống thật hơn là sự sống bình thường, cô đọng hơn, khái quát hơn, cao hơn cuộc sống mà văn là cuộc sống” (Trường Chinh). Người nghệ sĩ phải nhận thức, phản ánh cuộc sống có lí tưởng, chứ không phải mình họa li tưởng cuộc sống. Lí tưởng nằm ngay trong cuộc sống chứ không tách ra khỏi cuộc sống, không khiến người ta thoát ly hay quên lãng ... (Bài viết: Trong một bức thư luận bàn về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: “Văn chương [...] có loại đáng thờ. Có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”. Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên). Đoạn văn trên có sự so sánh trong quan niệm về văn chương của các tác giả: Nguyễn Văn Siêu, Thạch Lam, Trường Chinh. Từ đó, người đọc thấy được sự tương đồng trong quan niệm của các tác giả về vấn đề này. Bác bỏ: dùng lập luận đầy đủ để chứng minh một ý kiến nào đó là sai. Muốn bác bỏ một ý kiến nào đó, cần trích ý kiến đó rồi trả lời bằng những lập luận: ý kiến đó sai ở chỗ nào và vì sao như thế là sai. Ví dụ: Nguyễn Văn Siêu đã rất đúng đắn khi đặt ra một yêu cầu cho văn chương chân chính, đó phải là tiếng nói, hơi thở của cuộc sống đời thường, đưa ra nhiệm vụ phản ánh hiện thực cho văn chương... […] Tuy nhiên, cũng cần quan tâm đến hình thức nghệ thuật. Hình thức và nội dung cần có sự tương xứng. Nghệ thuật giúp nội dung trở nên đặc sắc hơn. Một tác phẩm hay phải là một chỉnh thể thẩm mĩ, là sự gắn bó, quyện hòa giữa hai mặt hình thức và nội dung. Văn học “như người con gái đẹp” (Chế Lan Viên) khônq chỉ lôi cuốn người ta bằng y phục, dáng hình mà còn làm mê đắm lòng người bằng vẻ đẹp nhân phẩm bên trong. Một tác phẩm văn học chỉ hay khi kết tinh cao độ sự độc đáo, mới lự của hình thức và sự sâu kín của nội dung, là một chỉnh thề thống nhất, hài hòa. Tính nhạc dặt dìu được rạo nên từ thể thơ năm chữ như ru, như hát, như thủ thỉ tâm tình của một bài thơ đẹp như “Thơ tình cuối mùa thu” đã dần người đọc dạo bước mùa thu, dạo bước tình yêu. Hình ảnh thơ trong sáng, giản dị, nghệ thuật ngắt dòng, lặp từ rất khéo léo, thành công khiến bài thơ như một điệp khúc tình yêu ngân vang, tha thiết....[…] Như vậy, ý kiến, quan niệm của Nguyễn Văn Siêu [...] thiếu cái nhìn toàn diện, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị, vai trò của rác yếu tố hình thức, nghệ Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 10 thuật trong văn chương.(Bài viết: "Trong một bức thư luận bàn vể văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: “Văn chương [...] có loại đáng thờ. Có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”. Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên"). Trong phần văn bản trên, người viết đã sử dụng thao tác bác bỏ để bác đi ý kiến của Nguyễn Văn Siêu khi ông phủ nhận hoàn toàn vai trò của hình thức nghệ thuật trong sáng tác văn học. Bằng việc đưa ra những vấn đề lí luận và phân tích một Ví dụ cụ thể (bài thơ “Thơ tình cuối mùa thu” của Xuân Quỳnh), người viết đã khẳng định vai trò không thể thiếu của nghệ thuật đối với một tác phẩm văn học có giá trị. Từ đó, chỉ ra thiếu sót trong quan niệm của Nguyễn Văn Siêu: thiếu cái nhìn toàn diện, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị, vai trò của các yếu tố hình thức, nghệ thuật trong văn chương. Bình luận: bàn bạc và đánh giá vể sự đúng sai, thật giả, lợi hại của các tác phẩm, các vấn đề văn học, các ý kiến bàn về văn học,... Muốn bình luận một vấn đề cần lưu ý xác định đối tượng bình luận, giới thiệu đối tượng đó và đề xuất ý kiến bình luận (phân tích đối tượng một cách cụ thể và nhìn đối tượng từ nhiều mối quan hệ). Chẳng hạn: Hình ảnh người lính Tây Tiến là một bức tượng đài đẹp đẽ với tư thế hiên ngang, với khí phách anh hùng và có cả những say mê, ước vọng lãng mạn, đẹp đẽ. Nhưn thơ Quang Dũng còn tả rất thực về những mất mát, hy sinh của đoàn binh Tây Tiến. Không thi vị hóa hiện thực, ngòi bút thơ Quang Dũng dám nhìn nhận vào nhữnq tổn thất tất yếu của con người trong chiến tranh tàn khốc (Bài viết “Vẻ đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng”). Trong đoạn văn trên, người viết đã sử dụng thao tác bình luận để đánh giá về thơ Quang Dũng mà cụ thể là bài thơ “Tây Tiến” và hình ảnh người lính trong bài thơ. Hình ảnh người lính Tây Tiến “là một bức tượng đài đẹp đẽ”. Thơ Quang Dũng “tả rất thực về những mất mát, hy sinh của đoàn binh Tây Tiến. Không thi vị hóa hiện thực [...] dám nhìn nhận vào những tổn thất tất yếu của con người trong chiến tranh tàn khốc” (Tr 5,6,7-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội) Ngoài những thao tác trên, trong bài viết cần vận kết hợp nhiều thao tác khác để bài viết được sáng tỏ, có sức thuyết phục. Tuy nhiên, điều quan trong ở khâu này là học sinh phải xác định được trong một đề bài cụ thể thao tác nào là trọng tâm, là chính, cần sử dụng nhiều; thao tác nào là phụ? Muốn vậy, giáo viên hướng dẫn học sinh chú ý ở những từ ngữ nêu rõ thao tác lập luận biểu hiệu ở đề bài, để xác định cho đúng. Ví dụ: Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Ở đề bài này học sinh cần xác định phải kết nhiều thao tác: phân tích, chứng minh, giải thích, bác bỏ, bình luận,… Trong đó, thao tác phân tích và bình luận là chính. d) Xác định phạm vi tư liệu - Đối với những để bài thuộc kiểu bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học, Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 11 phạm vi tư liệu là bản thân ý kiến đó và những tác phẩm văn học tiêu biểu. Chẳng hạn với đề bài: Anh (chị) hãy hày tỏ quan điểm cửa mình về ý kiến của nhà văn Pháp La Bơ-ruy-e:“Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên và gợi cho ta những tình cảm cao quý và can đảm, không cần tìm một nguyên tắc nào để đánh giá nó nữa: đó là một cuốn sách hay và do một nghệ sĩ viết ra”. Phạm vi tư liệu là: Ý kiến của La Bơ-ruy-e; những tác phẩm văn học tiêu biểu. - Đối với những đề bài thuộc kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ; một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi, phạm vi tư liệu nằm trong chính những tác phẩm văn học là đối tượng của bài viết. Ví dụ: Đề bài “Phân tích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam qua hai bài tuỳ hút “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân) và "Ai đã đặt tên cho dòng sông?” (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Phạm vi tư liệu: Tác phẩm Người lái đồ sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường); dẫn chứng từ thực tế/trong văn học về những dòng sông Việt Nam. - Đối với những đề bài thuộc kiểu bài nghị luận về một vấn đề văn học kết hợp vấn đề thuộc tư tưởng, đạo lí hay hiện tượng đời sống thì phạm vi tư liệu nằm trong chính những tác phẩm văn học và vấn đề đời sống, tư tưởng, đạo lí được nêu lên là đối tượng của bài viết. Ví dụ: Đề bài: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại. Kết quả của bước tìm hiểu đề giúp học sinh xác định được tất cả các yêu cầu của đề bài: về kiểu bài, về nội dung trọng tâm của đề, thao tác lập luận, phạm vi dẫn chứng. Ví dụ: Phân tích nhân vật Mị trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài (Đối với dạng đề nghị luận văn học) Học sinh cần xác định được: +Kiểu bài: nghị luận về một đoạn trích văn xuôi- phân tích nhân vật trong đoạn trích. +Nội dung trọng tâm: phân tích nhân vật Mị-> tư tưởng, tình cảm của nhà văn qua đoạn trích. +Thao tác lập luận: phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận,...Trong đó phân tích và bình luận là hai thao tác chính. +Phạm vi tư liệu: đoạn trích “Vợ chồng A Phủ”, mở rộng cả tác phẩm. Ví dụ: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại. (Đối với dạng đề nghị luận văn học kết hợp nghị xã hội) Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 12 Học sinh cần xác định được: +Kiểu bài: nghị luận về một tác phẩm văn xuôi- phân tích nhân vật trong đoạn trích và nghị luận về một tư tưởng, đạo lí. +Nội dung trọng tâm: phân tích nhân vật Việt-> tư tưởng, tình cảm của nhà văn qua đoạn trích; bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ. +Thao tác lập luận: phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận,...Trong đó phân tích và bình luận là hai thao tác chính. +Phạm vi tư liệu: tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”, một số tác phẩm khác cùng đề tài; trong đời sống. Trong quá trình dạy – học (nhất là ở tiết trả bài) tôi đã cho học sinh thấy một cách nghiêm túc rằng lạc đề là lỗi nặng nhất, nghiêm trọng nhất của một bài Tập làm văn. Một bài văn lạc đề dù có những đoạn văn hay đến đâu cũng không thể đạt được điểm cao. Đối với giáo viên, trước một đề Tập làm văn việc tìm hiểu đề là đơn giản nhưng với học sinh khâu này rất quan trọng. Vì vậy, trước bất cứ một đề văn nào giáo viên luôn yêu cầu học sinh thực hiện tốt khâu này. Có thể nói rằng đây là một bước mất ít thời gian của tiết học nhưng nó mang lại hiểu quả rất tốt cho học sinh. Thực tế, nhiều năm dạy lớp 12, đặc biệt ở tiết luyện tập trái buổi tôi đã áp dụng giải pháp này và từng bước đạt được kết quả đáng kể. Chỉ qua một, hai tiết hướng dẫn tìm hiểu đề, dù là những học sinh kém về môn Văn nhưng ít nhiều các em vẫn nhận thức được đúng yêu cầu của đề bài. Trong những lớp tôi phụ trách, trường hợp học sinh hiểu sai đề chỉ là 1 hoặc 2 em ở bài viết số 1 và kết quả được nâng ở những bài viết tiếp theo. 2. Lập dàn ý Đối tượng của bài nghị luận văn học là đa dạng, tuy nhiên xuất phát từ nhu cầu thiết thực, phù hợp đối tượng học sinh. Nên ở giải pháp này tôi chỉ giới hạn dạng đề nghị luận về một đoạn thơ, một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi; nghị luận về một vấn đề văn học kết hợp tư tưỏng, đạo lí hoặc hiện tượng đời sống. Việc lập dàn ý giúp người viết bao quát được vấn đề, đảm bảo được tính hệ thống của lập luận, tính cân đối của bài viết, xác định được mức độ trình bày mỗi ý, từ đó phân bố thời gian hợp lí. Có hướng dẫn học sinh sắp xếp các ý theo trình tự nội dung, nghệ thuật, rồi đến nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân (thường là phân tích các tác phẩm văn xuôi). Có thể sắp xếp đan xen giữa nội dung, nghệ thuật và nhận xét đánh giá, suy nghĩ của thân (phổ biến trong phân tích thơ). Lập dàn ý tốt, viết sẽ dễ dàng hơn, nhanh hơn, hay hơn nhờ biết lựa chọn đúng cách diễn đạt, cách trình bày bài viết. Dàn ý của bài văn nghị luận có cấu trúc ba phần. Mỗi phần có nhiệm vụ riêng: a ) Mở bài Người ta thường nói: Văn hay chưa hẳn là dài- Mới đọc mở bài đã biết văn hay. Mở bài có vai trò quan trọng đối với một bài văn. Mở bài đúng và hay sẽ khai thông được mạch văn. Ở phần mở bài, người viết cần giới thiệu khái quát vấn đề sẽ nghị luận, sẽ làm sáng tỏ trong bài viết. Để có được đoạn mở bài hay, cần nêu Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 13 trọng tâm và phạm vi vấn đề sẽ bàn bạc một cách ngắn gọn, viết tự nhiên, khúc chiết và mới mẻ. Nhìn chung có hai cách chính: mở bài trực liếp và mở bài gián tiếp. Ví dụ 1: Đề bài- Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến qua đoạn thơ: ...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành... ( Trích Tây Tiến - Quang Dũng)-Đây là dạng đề nghị luận văn học. - Mở bài trực tiếp, người viết nêu ngay vấn đề trọng tâm. Chẳng hạn: Tây Tiến là bài thơ đặc sắc của Quang Dũng viết về đề tài người lính trong kháng chiến chống Pháp nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung . Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến: anh hùng, lãng mạn, hi sinh anh dũng vì quê hương đất nước. Hình tượng người lính hiện lên rõ nét nhất qua đoạn thơ sau: “...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành... ” Trong mở bài trên, người viết trực tiếp giới thiệu bài thơ của Quang Dũng và vị trí, vai trò của tác phẩm đối với tác giả và nền văn học Việt Nam (lí do để người viết “yêu thích” tác phẩm- tình cảm, ấn tượng khái quát của người viết). Ví dụ 2: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại.(Đây là dạng đề kết hợp giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội). Ở dạng đề này chúng ta nên hướng dẫn học sinh mở bài trực tiếp: giới thiệu về tác giả dẫn vào tác phẩm rồi giới thiệu vấn đề nghị luân. Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 14 -Mở bài gián tiếp, người viết xuất phát từ một vấn đề khái quát hơn, một ý kiến, một câu chuyện, một câu thơ, đoạn văn, một phát ngôn của nhân vật nổi tiếng nào đó,... dẫn dắt người đọc đến vấn đề sẽ bàn luận trong bài viết. Cũng đề bài ở ví dụ 1, ta có thể mở gián tiếp như sau: Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 viết về đề tài người lính đã để lại nhiều bài thơ hay. Nếu như Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên là những tiếng thơ về người lính xuất thân từ “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá” thì Tây Tiến lại viết từ cảm hứng thẩm mĩ của một lớp chiến sĩ hoàn toàn khác. Bài thơ hiện lên bức chân dung, vẻ đẹp tâm hồn của người lính- những chàng trai thành thị trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tiêu biểu nhất qua đoạn thơ sau: “...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành... ” Mở bài trên đi từ vấn đề khái quát của đối tượng chính trong đề bài, lập luận theo lối so sánh, dẫn dắt vào vấn đề. Tóm lại, khi mở bài người viết cần chủ động viết thật sáng tạo để chẳng những khơi gợi hứng thú theo dõi văn phong mà còn gây được sự chú ý của người đọc về vấn đề sẽ viết. Trên đây là những vấn đề về mặt lý thuyết. Thực tế, đối tượng học sinh tôi dạy đến 90% là yếu-kém ở khâu viết mở bài, đa số các em không có khả năng tư duy, suy luận, cảm thụ. Ở tiết luyện tập đầu tiên khi yêu cầu các em viết mở bài có nhiều em hoàn toàn không biết viết như thế nào? Vận dụng kiến thức ở phần nào trong bài Đọc văn để viết ?... Vì vậy, khi dạy học sinh viết mở bài, giáo viên đã cụ thể hóa về cách viết- chọn cách trực tiếp, các nội dung kiến thức để viết mở bài, cách dẫn vào vấn đề cần bàn luận. Có nghĩa là hướng các em tìm hiểu, ghi nhớ theo khả năng bản thân những kiến thức cần thiết để viết mở bài (Chẳng hạn: cần nắm được tác giả, nhận định về tác giả, tác phẩm, các hình tượng ... dạng đề ví dụ 1; cần nắm được tác giả, nhận định về tác giả, tác phẩm, các hình tượng, các vấn đề thuộc về tư tưởng, đạo lí; các hiện tượng đời sống ...dạng đề ví dụ 2). Bởi vì, học sinh của chúng tôi tuy khả năng sáng tạo, suy luận kém nhưng các em vẫn có thể ghi nhớ, thậm chí là bắt chước. Cũng đề bài ví dụ 1 và ví dụ 2, tôi hướng dẫn các em viết mở bài như sau: Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 15 Ví dụ 1: Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, một nghệ sĩ đa tài -viết văn, làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc. Nhưng Quang Dũng trước hết là một nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. Ông có rất nhiều bài thơ hay viết về người lính trong đó có bài"Tây Tiến". Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến: anh hùng, lãng mạn, hi sinh anh dũng vì quê hương đất nước. Tiêu biểu nhất qua đoạn thơ sau: “...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành... ” (Mở bài trên giới thiệu khái quát về tác giả, dẫn vào bài thơ rồi dẫn vào hình tượng người lính). Ví dụ 2: Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng Miền Nam thời kì chống Mĩ. Ông gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ và thực sự trở thành nhà văn của người nông dân Nam Bộ. Sáng tác của Nguyễn Thi vừa giàu chất hiện thực, vừa đằm thắm chất trữ tình. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Thi là truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”. Truyện xây dựng thành công nhân vật Việt với những nét tính cách độc đáo đã tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm. Qua nhân vật Việt chúng ta có những nhận thức mới về tình yêu nước của thế hệ trẻ thời hiện đại. (Mở bài trên giới thiệu khái quát về tác giả, dẫn vào bài thơ rồi dẫn vào hình tượng nhân vật Việt, nêu được vấn đề tình yêu nước của thế hệ trẻ). Yêu cầu của tôi là các em vận dụng cách mở bài này cho tất cả các đề cùng dạng, chỉ có khác ở nội dung, tư liệu. Ưu điểm của cách mở bài này là học sinh không lan man, không viết dài dòng, không dẫn dắt lủng củng, thiếu ý hoặc thừa ý. Hạn chế là chưa phát huy hết được khả năng sáng tạo của tất cả học sinh. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm dạy ôn thi tốt nghiệp THPT, để có kết quả như mong muốn chúng ta cần có giải pháp cụ thể như vậy. Đối chiếu với những năm học trước, năm học này tôi áp dụng ngay từ bài hướng dẫn bài viết số 1, kết quả cho thấy, rõ ràng trên 95% học sinh lớp 12ª5, 80 % học sinh lớp 12ª4 đã biết viết mở bài đúng yêu cầu đề bài; số còn lại cũng đạt được khoảng 60% đến 80% yêu cầu viết mở bài, không có trường hợp để giấy trắng. b) Thân bài Trong một bài văn nghị luận, phần thân bài có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 16 mà mở bài đã nêu. Nếu xem phần mở bài chỉ có nhiệm vụ đặt vấn đề thì phần thân bài ứng với thao tác giải quyết vấn đề đó. Ở phần thân bài, người viết cụ thể hoá vấn đề cần nghị luận - được gọi là luận đề bằng một hệ thống luận điểm. Mỗi luận đề được phát triển bằng nhiều luận cứ. Thân bài gồm nhiều đoạn văn. Giữa các đoạn có câu văn hoặc từ chuyển tiếp nối kết các luận điểm với nhau làm cho bài văn liền mạch. Về lí thuyết, mỗi đoạn thân bài tập trung làm nổi bật một luận điểm. Luận điểm đó thường được thể hiện bằng một câu chốt. Vị trí của câu chốt: đứng đầu hoặc đứng cuối đoạn văn. Nhưng trên thực tế, luận điểm thường có nhiều nội dung nên luận điểm ấy cần chia ra thành nhiều đoạn. Trường hợp này, giữa các đoạn văn bộ phận của luận điểm vẫn phải có sự chuyển tiếp và mỗi đoạn văn cũng có một câu chốt nêu lên chủ đề của đoạn. Chẳng hạn, với đề bài “Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc trong đoạn thơ sau: Ta về, mình có nhớ ta ... Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”, bài viết sẽ có hai luận điểm trung tâm là hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc. Luận điểm hình tượng thiên nhiên Việt Bắc lại có một số nội dung bộ phận như: cảnh mùa đông Việt Bắc, cảnh mùa xuân Việt Bắc, cảnh mùa hạ Việt Bắc,... Khi đó, luận điểm này sẽ được triển khai như sau: Cảnh vật Việt Bắc được khắc họa rất điển hình. Tố Hữu đã mượn hình ảnh của hoa chuối đỏ tươi để gợi dậy một nét đặc trưng của mùa đông Việt Bắc. Có người cho rằng hình ảnh hoa chuối lần đầu tiên đi vào thơ Tố Hữu nhưng đã tạo được ấn tượng đặc biệt với người đọc. Cảnh mùa đông có nét ấm áp, rực rỡ, tươi tắn, chứ không phải là sự lạnh lẽo, hắt hiu. Bức tranh đan dệt bởi nhiều màu sắc: xanh, đỏ tươi, vàng [...]. Nếu mùa đông Việt Bắc sống dậy từ sắc đỏ của hoa chuối thì mùa xuân Việt Bắc được gợi ra từ sắc trắng của hoa mơ, sắc xanh của rừng, tạo nên nét đẹp tinh khôi, thơ mộng của cảnh. Màu trắng của hoa có khả năng bao chiếm không gian, nhấn mạnh sự thanh khiết của cảnh vật [...] Nếu câu thơ mùa xuân bừng sáng sắc trắng của hoa mơ thì câu thơ mùa hạ lại ngân lên tiếng ve quen thuộc của núi rừng Việt Bắc. Tiếng ve dệt thành bản đồng ca mùa hạ rộn ràng, tươi vui [...] Không rực rỡ, tươi tắn dưới ánh sáng mặt trời, hình ảnh vầng trăng mùa thu hòa bình mát rượi và tiếng hát ân tình vang ngân của con người đã làm sáng lên bức tranh mùa thu. Bức tranh ấy lắng lại trong nét đẹp quyến rũ, gợi cảm [...] Những đoạn văn trên đều là những bộ phận của luận điểm thiên thiên Việt Bắc. Câu văn Cảnh vật Việt Bắc được khắc họa rất điển hình nêu lên luận điểm cho cả bốn đoạn văn. Những câu được in nghiêng đậm vừa mang vai trò là câu chuyển tiếp vừa mang vai trò là câu chốt cho từng đoạn văn. Mặt khác, giữa các đoạn văn có sự liên kết còn được thể hiện ở việc khung cảnh thiên nhiên các mùa được trình bày theo thứ tự thời gian: đông, xuân, hạ, thu. Mô hình chung của phẩn thân bài trong bài văn nghị luận là: Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 17 - Luận điểm 1:... + Luận cứ 1:... + Luận cứ 2:... - Luận điểm 2:... + Luận cứ;... Phần thân bài là phần giải quyết vấn đề, nên khi lập dàn ý đến khâu này đòi hỏi học sinh phải xác định được cụ thể các luận điểm, luận cứ, dẫn chứng. Đồng thời, phải biết sắp xếp các luận điểm, luận cứ theo trình tự lôgíc. Nên đánh số thứ tự cho từng luận điểm, luận cứ (Tr8,10-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội).Chẳng hạn, đề: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại học sinh cần xác lập luận điểm, luận cứ như sau: - Luận điểm 1: Là một chàng trai mới lớn; tính tình cón trẻ con, hồn nhiên, vô tư. +Luận cứ 1: Hay tranh giành với chị +Luận cứ 2: Đi đánh giặc vẫn mang theo cái ná thun; sợ ma... -Luận điểm 2: Giàu tình yêu thương, yêu nước căm thù giặc sục sôi. +Luận cứ 1: Thương má, chị chị gái... +Luận cứ 2: Quyết tâm đi bộ đội để tiêu diệt kẻ thù. -Luận điểm 3: Là một chiến sĩ dũng cảm, kiên cường. +Luận cứ 1: Khi xông trận chiến đấu dũng cảm, Việt đã dùng thủ pháo tiêu diệt được một xe bọc thép của giặc, +Luận cứ 2: Dù bị trọng thương nhưng lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng chiến đấu,... - Nghệ thuật: + Nhiều chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh. + Giọng văn chân thật, tự nhiên, nhiều đoạn gây xúc động mạnh. + Ngôn ngữ bình dị, phong phú, giàu giá trị tạo hình, khắc họa tính cách nhân vật đậm chất Nam bộ. - Luận điểm 4: Bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời đại mới: + Luận cứ 1: Tiếp nối truyền thống tốt đẹp của thế hệ cha anh: luôn gắn bó sâu nặng với quê hương, đất nước; tự hào, tự tôn dân dân tộc; quyết tâm giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. + Luận cứ 2: Ý thức sâu sắc về vài trò của bản thân đối sự nghiệp canh tân đất nước: không ngừng trau dồi học tập, rèn luyện; lao động hăng say; có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa; đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác... Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 18 + Luận cứ 3: Phê phán bộ thanh niên có nhận thức lệch lạc: chạy theo lối sống thực dụng; sống thiếu trách nhiệm với đất nước; làm những việc trái pháp luật, trái với thuần phong mỹ tục; sống thiếu lí tưởng,... Đây là phần chiếm nhiều thời gian, ghi điểm nhiều nhất và cũng là phần tích hợp nhiều nhất kiến thức của ba phân môn. Vì vậy, khi hướng dẫn học sinh thực hiện phần này bao giờ tôi cũng yêu cầu các em phải nắm được nội dung của những bài Đọc văn cụ thể, tránh tình trạng khi lập dàn ý mà lại không nắm được kiến thức bài học, điều này dễ dẫn đến tâm lí ngại ngùng, chán nản, hoang mang trong các em. Thường thì, tôi cho đề các em tham khảo, luyện tập trước ở nhà. Đến tiết luyện tập trái buổi, trước hết yêu cầu một đến hai học sinh trình bày phần bài chuẩn bị ở nhà lên bảng, cả lớp nhận xét, chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện; hoặc có đề do không có thời gian trên lớp thì tôi thu về nhà chấm- trả sau. Cứ thế, quy trình này đã trở nên quen thuộc đối với các em, cho nên có những tiết học Đọc văn đã hết bài mà tôi chưa cho đề tham khảo là học sinh hỏi ngay “ Không có đề ôn tập à cô?”. Làm được như vậy nên dù đây là phần khó và dài, nhưng đa số học sinh đã đạt được yêu cầu. c) Kết bài Kết bài là phần kết thúc bài viết. Vì vậy nó tổng kết, thâu tóm lại vấn đề đã đặt ra ở mở bài và phát triển ở thân bài. Một kết bài hay không chỉ làm nhiệm vụ "gói lại" mà còn phải "mở ra" - đó là khơi gợi suy nghĩ, tình cảm của người đọc. Thâu tóm lại nội dung bài viết không có nghĩa là lặp lại mà phải dùng một hình thức khác để khái quát ngắn gọn. Khơi gợi suy nghĩ hay tạo dư ba trong lòng người đọc là câu văn khi đã khép lại vẫn khiến cho người đọc day dứt, trăn trở hướng về nó. Trong thực tế, việc viết văn nghị luận chúng ta thường gặp một số kiểu kết bài như sau: Kết bài tóm tắt và nhận xét khái quát về nội dung, tư tưởng của người viết đã trình bày trước đó. Đây là cách thông thường và cũng là yêu cầu cơ bản nhất của kết bài, nhưng không đáp ứng tốt yêu cầu gợi dư ba cho bài viết. Ví dụ: Nói tóm lại, tính dân tộc trong bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau: đề tài, thể thơ, cách xưng hô “mình” - “ta”, những hình ảnh thơ,... Và những phương diện biểu hiện tính dân tộc ấy đã được minh chứng bằng những câu thơ đầy thuyết phục. (Đề bài: Theo anh (chị), tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” được biểu hiện cụ thể ở những phương diện nào? Trình bày vắn tắt và nêu dẫn chứng minh hoạ). Kết bài khái quát nội dung và đạt ra câu hỏi nhằm khơi gợi suy nghĩ và tình cảm ở người đọc. Chẳng hạn: Chỉ một tình huống mà thấu tỏ bao triết nhân sinh chỉ một câu chuyện nhặt vợ mà Kim Lán đã đưa tới cho bạn đọc những hài học về số phận von người, tình yêu thươnq, niềm hy vọng, học cách "nghĩ đến cái sống trong khi người ta chỉ nghĩ đế cái chết”. Cách xây dựng tình huống độc dáo, giọng văn tỉnh táo, khách quan đã giúp Kim Lân tái hiện chân thực hiện thực cuội sống và chở đi những chiều sâu tư tưởng khôn cùng. Chỉ khi thấm rỏ, quyện hòa máu tim của người nghệ sĩ, tình Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 19
- Xem thêm -