Tài liệu Skkn rèn kỹ năng phát triển thể lực cho học sinh lớp 5

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 1293 |
  • Lượt tải: 1
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

PHẦN MỞ ĐẦU (ĐẶT VẤN ĐỀ) I. Lí do chọn đề tài. Trường Tiểu học có vị trí, nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp “trồng người”, là nơi tổ chức tự giác quá trình phát triển của trẻ, là công trình văn hóa giáo dục bền vững, nơi diễn ra cuộc sống thực tế của trẻ. Học sinh Tiểu học là những chủ nhân tương lai của đất nước, bậc Tiểu học là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng để các em bước vào ngưỡng cửa của tương lai. Ngoài những môn học Toán, Tiếng việt,...các em còn được học môn Thể dục, Thể dục: giúp các em phát triển cân đối thể hình, hoàn thiện các chức năng của cơ thể, tăng cường sức khoẻ, góp phần vào giáo dục phẩm chất, ý chí, đạo đức và thẩm mỹ cho các em. Để phát triển tốt thể lực, chúng ta không chỉ thực hiện tốt kĩ thuật bài thể dục phát triển chung, tham gia tốt vào các trò chơi vận động mà còn phải rèn luyện thể lực. Do vậy vấn đề “ Rèn kỹ năng phát triển thể lực cho học sinh Lớp 5” là việc làm rất quan trọng mà các nhà giáo dục Thể chất đang quan tâm và đã tổ chức các kỳ thi, hội khoẻ phù đổng, đại hội TDTT cho học sinh và giáo viên từ cấp cơ sở đến cấp quốc gia, khu vực. II. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu. 1. Phạm vi nghiên cứu. Học sinh khối lớp 5 tại trường Tiểu học xã Hua Nà - huyện Than Uyên - tỉnh Lai Châu. 2. Đối tượng nghiên cứu. Thực hiện có hiệu quả bài tập “Rèn kỹ năng phát triển thể lực cho học sinh lớp 5”. III. Mục đích nghiên cứu. Giải quyết vấn đề rèn cho học sinh có thói quen và có ý thức tập luyện thể dục thể thao hàng ngày và thường xuyên để phát triển thể lực hơn nữa, rèn luyện nề nếp học tập cho các em. Điều chỉnh nội dung, phương pháp giáo dục thể chất phù hợp với trường ở các cấp học và trình độ đào tạo. Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 1 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 IV. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu. + Nâng cao tinh thần học tập và giúp học sinh yêu thích học môn Thể dục. + Học sinh có được một thể lực tốt nhất, cơ thể phát triển hài hòa cân đối. + Tạo cảm giác yêu cuộc sống, yêu quê hương và bớt căng thẳng sau khi học Thể dục. + Nâng cao thành tích tập luyện cũng như trong thi đấu cho học sinh. PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lý luận. Chương trình thể dục được bộ đưa ra nhằm bước đầu giúp học sinh ý thức được việc rèn luyện thể dục thể thao có ảnh hưởng như thế nào đối với bậc Tiểu học, cũng như tất cả học sinh về biên soạn và phân bố thời gian để học sinh luyện tập rèn luyện các tư thế cơ bản cũng như các bài tập thể dục rèn luyện chung, nhằm một mục đích chung đó là khích lệ tinh thần học tập, tinh thần đoàn kết, hoạt động tập thể và nâng cao tính tích cực, tự giác và kỷ luật cho học sinh. Vấn đề này cần phải đòi hỏi học sinh phải nỗ lực rất nhiều và phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp giảng dạy, thể lực học sinh như thế nào cho phù hợp với từng đối tượng, từng khu vực nhằm phát huy tính tích cực của học sinh. GDTC là một quá trình sư phạm, do đó có các phương pháp dạy TDTT về bản chất cũng chính là các phương pháp sư phạm nhưng mang những đặc điểm của GDTC. Phát triển thể lực là một nội dung của quá trình GDTC, đây là hoạt động chuyên môn hóa nhằm chuẩn bị cho con người học tập, lao động và bảo vệ tổ quốc. Ví dụ có thể phân ra: phát triển thể lực cho học sinh, vận động viên, ... Cuối năm học hàng năm Phòng Giáo dục và Đào tạo vẫn thường xuyên chỉ đạo báo cáo về việc đánh giá xếp loại thể lực học sinh, thực hiện theo công văn số: 150/PGD&ĐT “V/v quy định đánh giá xếp loại thể lực học sinh, sinh viên”, Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Văn bản này quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 2 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 sinh viên. Đẩy mạnh việc thường xuyên rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho học sinh trong quá trình hội nhập quốc tế. Trong quá trình giảng dạy TDTT, giáo viên thường sử dụng các phương pháp giảng dạy khác nhau. Các phương pháp này được dựa trên cơ sở của các nguyên tắc về phương pháp giảng dạy nói riêng và các phương pháp sư phạm và giáo dục nói chung. II. Thực trạng của vấn đề. 1. Thuận lợi: - Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên quan tâm chỉ đạo sát sao mọi hoạt động của giáo viên, của học sinh. - Cơ sở vất chất nhà trường đảm bảo, tiện lợi cho việc tập luyện vui chơi của học sinh. - Học sinh có tương đối đầy đủ thiết bị, dụng cụ thể thao phục vụ cho học tập. - Học sinh có tinh thần đoàn kết, ngoan ngoãn vâng lời thầy cô và người trên. 2. Khó khăn: - Học sinh 100% là học sinh dân tộc, hầu hết gia đình các em là hộ nghèo ít nhiều ảnh hưởng đến chế độ dinh dưỡng của các em. - Sự quan tâm của cha mẹ học sinh còn hạn chế, chưa chú ý đến sự phát thể lực của con em mình. - Qua thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh còn nhiều em có thể lực yếu, chưa đạt yêu cầu đề ra và qua một thời gian nghỉ hè các em không tự giác rèn luyện thể lực, còn ham chơi và giúp gia đình. Do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình dạy học của thầy và trò nên ngay từ đầu năm, tôi đã tiến hành kiểm tra thể lực của học sinh đối với học sinh khối lớp 5 tôi dạy, để có hướng đưa ra kế hoạch rèn kỹ năng phát triển thể lực cho các em. Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 3 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 3. Kết quả kiểm tra thể lực đầu năm trong ba năm học. Năm học 2009 2010 2010 2011 2011 2012 Tổng số HS 41 42 52 Tuổi Phân loại Lực bóp tay thuận Nằm ngửa gập bụng 30 giây Tốt 3/41= 7,3% 3/41= 7,3% 12,2% Đạt 38/41= 92,7% 38/41= 92,7% Tốt 4/42= 9,5% Đạt Chạy 30m XPC 4 x 10m Chạy tùy sức 5 phút 7/41= 17% 4/41= 9,8% 3/41= 7,3% 36/41= 87,8% 34/41= 83% 37/41= 90,2 38/41= 92,7% 6/42= 14,3% 5/42= 11,9% 8/42= 19% 4/42= 9,5% 7/42= 16,7% 38/42= 90,5% 36/42= 85,7% 37/42= 88,1% 34/42= 81% 38/42= 90,5% 35/42= 83,3% Tốt 7/52= 13,5% 10/52= 19,2% 6/52= 11,5% 7/52= 13,5% 6/52= 11,5% 11/52= 21,2% Đạt 45/52= 86,5% 42/52= 80,8% 46/52= 88,5% 45/52= 86,5% 46/52= 88,5% 41/52= 78,8% 10 10 10 Bật xa tại chỗ 5/41= Chạy con thoi III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề. - Giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung và phương pháp của bài học, tìm ra cách giảng dạy khoa học, phù hợp với nội dung bài học và trình độ nhận thức của học sinh . - Giúp học sinh nắm được một cách hệ thống những kiến thức cơ bản, đơn giản, có quan hệ thực tiễn về các bài tập, các kĩ thuật, lượng vận động phù hợp. - Giúp học sinh vận dụng tương đối thành thạo các kĩ thuật đơn giản vào tập luyện và thi đấu. - Giáo viên biết sáng tạo những động tác, bài tập phù hợp với từng nội dung. - Sử dụng đổi mới phương pháp dạy học môn Thể dục. - Nắm được mối quan hệ giữa các động tác đơn lẻ với động tác phức tạp. - Giáo viên tăng cường kiểm tra, đánh giá nhận xét thường xuyên. - Sau mỗi lần kiểm tra đánh giá, nhận xét tuyên dương kịp thời để gây hứng thú trong việc tự học, tự rèn luyện của học sinh. Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 4 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 - Cuối mỗi kỳ giáo viên phải tổng kết, đánh giá, khen thưởng động viên kịp thời để các em phát huy ở những kỳ sau. 1. Quá trình tiến hành nghiên cứu. Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp giảng dạy chung như: Phương pháp sử dụng lời nói, trực quan... trong giảng dạy TDTT còn áp dụng các phương pháp mang tính đặc thù riêng. Do tính chất riêng của phương pháp giảng dạy TDTT, khi lựa chọn phương pháp giáo viên cần dựa trên hệ thống các bài tập, kỹ thuật, chiến thuật, yêu cầu thể lực và tình trạng thi đấu thể thao của học sinh. Khi thực hiện các bài tập kỹ thuật hoặc giảng dạy các động tác thể dục thể thao, giáo viên có thể sử dụng các phương pháp riêng lẻ hoặc tổng hợp các phương pháp. Ví dụ: - Dùng lời nói để giải thích, hướng dẫn kỹ thuật động tác, có thể phối hợp việc giải thích với làm mẫu trực tiếp kỹ thuật hoặc gián tiếp giới thiệu kỹ thuật qua tranh ảnh, phim, hình vẽ kỹ thuật... - Thực tế trong hoạt động TDTT cho thấy, muốn đạt được tới trình độ vận động cao, cần phải áp dụng hệ thống các phương pháp tập luyện khác nhau. Yếu tố chính để tạo thành các phương pháp khác nhau là lượng vận động và nghỉ hơi khác nhau. Khái niệm lượng vận động là một độ lớn nhất định những tác động của các động tác đối với cơ thể người tập, lượng vận động có liên quan trực tiếp đến việc tiêu hao năng lượng cơ thể, tác động này dẫn đến xuất hiện mệt mỏi. Mặt khác, trong quá trình vận động thì tiêu hao và mệt mỏi là hai nhân tố kích thích đến quá trình hồi phục của cơ thể. 2. Các phương pháp giảng dạy Thể dục thể thao: 2.1. Phương pháp giảng giải và làm mẫu: Trong quá trình GDTC phương pháp giảng giải và làm mẫu là phương pháp cơ bản, nhằm giáo dục và bồi dưỡng những tri thức hiểu biết, kỹ thuật TDTT. 2.1.1. Phương pháp giảng giải ( Phương pháp dùng lời nói ) Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 5 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 Là phương pháp thường được sử dụng trong quá trình giảng dạy Thể dục cho học sinh bậc Tiểu học. Là phương pháp giáo viên dùng lời nói để giới thiệu kiến thức mới, động tác mới và kỹ thuật TDTT, phân tích về các nội dung cơ bản, nhiệm vụ bài học về phương hướng chuyển động của các bộ phận cơ thể, các mấu chốt kỹ thuật, để từng bước hoàn thành kỹ thuật, động tác và nâng cao hiểu biết và các kiến thức có liên quan. Một số yêu cầu cần chú ý khi áp dụng phương phỏp giảng giải là: - Giúp cho học sinh có nhận thức hiểu biết và cảm nhận ( qua quan sát) đúng, thấy được từng phần, cấu trúc, hướng chuyển động, yêu cầu kỹ thuật... của động tác. Từ đó tạo điều kiện cho học sinh có khả năng phân tích kỹ thuật và có các biểu tượng đúng, làm cơ sở cho việc thực hành chính xác kỹ thuật. Giáo viên nên mô tả động tác bằng lời nói, thực hiện cùng lúc với việc thực hiện đúng, chính xác động tác mẫu. - Lời giảng giải cần có sức thuyết phục để truyền thụ tri thức, tạo nên sự chú ý theo dõi của học sinh. Giúp học sinh càng sớm nắm được những nốt cơ bản của kỹ thuật, cần nhấn mạnh điểm chủ yếu khi thực hiện động tác. Qua đó, từng bước củng cố các kỹ thuật, nâng cao kỹ năng, kỹ xảo vận động. Phòng tránh những sai lầm thường mắc phải trong khi thực hiện động tác và đánh giá đúng khả năng vận động của học sinh. - Lời giảng giải của giáo viên cần ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu sao cho thu hút được sự chú ý, tập trung sự theo dõi của học sinh. Tránh dùng thuật ngữ chuyên môn “xa lạ” khó hiểu khi giảng giải kỹ thuật động tác cần liên hệ với các hoạt động tự nhiên: chạy, nhảy, leo, trèo... Có thể sử dụng các thuật ngữ chuyên môn bằng từ địa phương để giảng cho các học sinh dễ hiểu và dễ bắt chước, song vẫn phải đảm bảo tính sư phạm và giáo dục. - Trong giảng dạy tập luyện TDTD hình thức hỏi và trả lời ( đàm thoại) có ý nghĩa giúp học sinh suy nghĩ, độc lập sáng tạo, phát huy tích cực của các em. Từ đó, giúp học sinh hiểu chính xác phương hướng chuyển động kỹ thuật, động tác, Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 6 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 gây hứng thú, giúp học sinh nắm được các quy tắc, đánh giá được động tác đúng, sai của bạn và của chính mình. 2.1.2. Phương pháp làm mẫu: Hoạt động GDTDTT là loại hình có nội dụng giáo dục chuyên biệt. Trong quá trình giảng dạy TDTT yêu cầu giáo viên không chỉ có hệ thống tri thức liên quan đến truyền thụ kiến thức cho học sinh mà còn phải làm mẫu đúng, chính xác động tác, kỹ thuật TDTT. Làm mẫu thường được thực hiện cùng lúc với việc giảng giải kỹ thuật và các tri thức khác có liên quan. Lời giảng giải của giáo viên cần ngắn, gọn, dễ hiểu làm mẫu động tác cần chính xác đúng, đẹp. - Một số yêu cầu cần chú ý khi làm động tác mẫu: - Động tác làm mẫu của giáo viên cần chính xác, đẹp hoàn chỉnh. Và giáo viên làm mẫu động tác, kỹ thuật đúng sẽ giúp học sinh nắm được những yếu lĩnh cơ bản đúng của kỹ thuật, động tác. - Khi giảng dạy những động tác kỹ thuật mới, phức tạp giáo viên cần giảng giải 2 - 3 lần. Làm mẫu lần 1 có thể thực hiện động tác hoàn chỉnh, tốc độ chuyển động bình thường đúng nhịp độ và yêu cầu. Học sinh qua quan sát hình thành trong trí nhớ hình ảnh, có khái niệm sơ bộ của từng phần kỹ thuật hoặc toàn bộ động tác, gây cảm giác đúng, chính xác hứng thú, thích tập luyện theo. Làm mẫu lần 2, Giáo viên thực hiện động tác chậm, ở những điểm mấu chốt kỹ thuật, giáo viên cần kết hợp với giảng giải và thực hiện động tác để học sinh nhớ lại các điểm chính. Làm mẫu lần 3 giống như lần 1 cần chú ý thực hiện hoàn chỉnh, chuẩn xác. Trong trường hợp giáo viên cần phải làm mẫu thêm một hai lần nữa hoặc làm mẫu riêng từng phần của kỹ thuật là tuỳ thuộc vào độ khó của động tác kỹ thuật và trình độ tiếp thu của học sinh. - Khi hướng dẫn học sinh luyện tập các bài tập thể dục tay không, thể dục đồng diễn, thể dục nhịp điệu, cờ, hoa... giáo viên cần áp dụng nhiều hình thức làm mẫu khác nhau: làm mẫu theo kiểu “ soi gương ” hay thực hiện động tác kỹ thuật đứng cùng chiều với học sinh. Khi giáo viên thực hiện động tác bước đầu tiên nên làm Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 7 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 động tác có chuyển động chậm để học sinh dễ thực hiện theo. Cần thực hiện làm mẫu động tác tự nhiên và bảo đảm tính phối hợp kỹ thuật nhịp nhàng. - Giáo viên cần chọn vị trí đứng thích hợp để khi làm mẫu tất cả học sinh đều có thể nhìn thấy các chi tiết chuyển động của động tác, kỹ thuật. Tổ chức hoạt động theo các nhóm, tổ, cặp hai học sinh. Phân công các nhóm, tổ học sinh làm theo kỹ thuật giáo viên đã hướng dẫn. Số học sinh còn lại chú ý theo dõi, phát hiện từng phần kỹ thuật sai, nhắc nhở, tự sửa chữa cho bạn. Sau đó đổi nội dung tập luyện giữa các nhóm, tổ... thay phiên nhau quan sát, tập luyện và sửa chữa động tác sai. - Khi hướng dẫn thực hiện các động tác giáo viên đó làm mẫu, có thể sử dụng các dụng cụ phát tín hiệu âm thanh ( còi, tiếng trống, tiếng vỗ tay...) để giúp học sinh hình thành cảm giác nhịp điệu đúng, phân phối điều hoà tốc độ vận động... biết tập trung vào các thời điểm cần gắng sức, nghỉ ngơi hoặc thả lỏng để gúp phần làm giảm bớt căng thẳng liên tục. Ví dụ: Dạy học sinh động tác thăng bằng của Bài thể dục phát triển chung. - Giáo viên cần nêu tên động tác, giảng giải, phân tích yếu lĩnh kỹ thuật động tác kết hợp làm mẫu (Nhịp 1 hai tay dang ngang, lòng bàn tay sấp, chân phải làm trụ, chân trái ra sau; Nhịp 2 thăng bằng, hai tay dang ngang, chân trái và thân Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 8 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 người gần như tạo thành một đường thẳng song song với mặt đất; Nhịp 3 trở về như nhịp 1; Nhịp 4 trở về TTCB. Nhịp 5,6,7,8 tương tự. Yêu cầu ở động tác này là hai tay dang ngang phải thẳng, chân thẳng khớp gối, mắt nhìn thẳng.) Tóm lại, sử dụng sáng tạo phương pháp giảng giải và làm mẫu kỹ thuật động tác trong giảng dạy TDTT cho học sinh, có vị trí quan trọng. Để phương pháp giảng giải, làm mẫu đạt hiệu quả cao, giáo viên cần phối hợp giữa làm mẫu giảng giải với việc phân tích các đặc điểm tâm, sinh lý học sinh, tình trạng sức khoẻ, vốn vận động, mức độ phức tạp của kỹ thuật ... để điều chỉnh thời gian giảng giải, số lần làm mẫu, hình thức, phương pháp tổ chức giảng dạy mẫu cho phù hợp với đối tượng, góp phần nâng cao chất lượng toàn diện. 2.2. Phương pháp giảng dạy hoàn chỉnh và phân đoạn: 2.2.1. Phương pháp giảng dạy động tác hoàn chỉnh: - Đối với các động tác đơn giản hoặc khó phân chia thành các cử động nhỏ khi giảng dạy, giáo viên nên áp dụng phương pháp dạy động tác hoàn chỉnh ( nghĩa là động tác không bị phân ra thành các bộ phận cử động riêng lẻ). Khả năng phân tích động tác, kỹ thuật của học sinh phổ thông còn hạn chế, nên việc thực hiện động tác còn thiếu chính xác, sự kết hợp các cử động riêng lẻ còn khó khăn, tốc độ, biên độ động tác chưa có cảm giác đúng và phù hợp... Vì vậy, giáo viên phải luôn quan sát giúp đỡ học sinh để các em tập được các động tác hoàn chỉnh. Khi sử dụng phương pháp giảng dạy động tác hoàn chỉnh, giáo viên cần chú ý đến những ưu, nhược điểm sau: * Về ưu điểm: - Học sinh tạo được cảm giác đúng toàn bộ kỹ thuật, dễ dàng nắm được kỹ thuật động tác, có thể thực hiện theo yêu cầu giáo viên. * Về nhược điểm: - Khi giảng dạy các động tác có kỹ thuật phức tạp, sử dụng phương pháp này kém hiệu quả. - Do đó, khi sử dụng phương pháp giảng dạy động tác hoàn chỉnh, giáo viên cần chú ý nhấn mạnh vào các điểm chủ yếu cần thiết của kỹ thuật, động tác, có thể Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 9 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 giảm bớt yêu cầu về biên độ, cự li, trọng lượng, độ cao... Phối hợp với các động tác bổ trợ khác trong quá trình giảng dạy các kỹ thuật động tác phức tạp. 2.2.2. Phương pháp giảng dạy động tác phân đoạn. - Khi giảng dạy những động tác, bài tập khó và phức tạp, giáo viên cần sử dụng phương pháp phân đoạn. Đây là phương pháp chia kỹ thuật động tác ra thành các phần kỹ thuật động tác riêng lẻ, để hướng dẫn học sinh từng phần kỹ thuật. Khi từng phần kỹ thuật học sinh đó thực hiện thuần thục, thì liên kết các phần đó thành động tác hoàn chỉnh. Ví dụ: - Dạy học sinh động tác phối hợp chạy - nhảy - mang vác. Cần hướng dẫn học sinh đứng ở tư thế chuẩn bị, lấy đà, cách đánh tay, phối hợp nhảy với chuyển động toàn thân ... động tác kết thúc, về đích. Hướng dẫn học sinh tập luyện từng phần kỹ thuật, thực hiện đúng các chi tiết kỹ thuật động tác sau đó, hướng dẫn cách liên kết các chi tiết kỹ thuật thành động tác phối hợp chạy - nhảy - mang vác. Với yêu cầu: Nhanh, mạnh, bảo đảm đúng kỹ thuật. Khi sử dụng phương pháp giảng dạy động tác phân đoạn giáo viên cần chú ý đến những ưu, nhược điểm sau: Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 10 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 * Ưu điểm: - Học sinh dễ nắm được các chi tiết của từng phần động tác, thích hợp với việc dạy các động tác khó, phức tạp, có yêu cầu cao về kỹ thuật. * Nhược điểm: - Chia động tác ra nhiều phần chi tiết, kỹ thuật riêng lẻ, học sinh gặp khó khăn khi thực hiện toàn bộ kỹ thuật. - Do đó, khi giảng dạy cần nêu rõ các điểm mấu chốt, tính liên kết từ phần kỹ thuật chi tiết này sang phần khác, những mối quan hệ giữa các phần trong toàn bộ kỹ thuật, tạo cho học sinh có biểu tượng đúng và phối hợp chính xác động tác, kỹ thuật. - Phương pháp dạy động tác, kỹ thuật hoàn chỉnh và phân đoạn sử dụng trong quá trình giảng dạy TDTT sẽ mang lại hiệu quả tốt. Giáo viên cần phân biệt và khai thác hợp lý các ưu, khuyết điểm, biết phối hợp hai phương pháp để giải quyết các nhiệm vụ giáo dục cụ thể từng bài học, và nội dung tập luyện thì sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn. 2.3. Phương pháp tập luyện và các hình thức tập luyện: * Phương pháp thực hành. Trong quá trình giáo dục TDTT sử dụng phương pháp thực hành, chính là dùng các hình thức luyện tập, tạo nên sự tác động trực tiếp cơ thể học sinh. Thông qua quá trình tập luyện học sinh hình thành tri thức, nắm vững được kết cấu, chuyển động của động tác, cảm giác cơ bắp, thần kinh, hoàn thiện kỹ năng vận động và phát triển kỹ năng thể chất toàn diện. Phương phỏp tập luyện được sử dụng trong cỏc giờ TDTT dưới hỡnh thức khỏc nhau. Thực tế trong giảng dạy TDTT thường được sử dụng 3 loại hỡnh sau: 2.3.1. Hình thức tập luyện lặp lại: - Đây là phương pháp tập luyện với hình thức luyện tập kỹ thuật, động tác được lặp lại nhiều lần. Hình thức tập luyện này có ưu điểm là kỹ thuật, động tác sớm hình thành, tạo cho việc thực hiện đúng và chính xác. Học sinh khi đó nắm được các kỹ thuật vận động. Nếu không được thường xuyên tập luyện lặp lại để Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 11 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 hình thành kỹ năng khi kỹ thuật, động tác - tuy học sinh đó nắm được, sau một thời gian sẽ bị phá vỡ. Do đó, cần tập luyện lập lại kỹ thuật, động tác trong các giờ học, buổi tập, giờ ngoại khoá và ở nhà. - Việc áp dụng phương pháp luyện tập lặp lại thường góp phần hình thành các thói quen vận động, các đường liên hệ tạm thời ở vỏ não, giúp học sinh thực hiện đúng kỹ năng hoạt động trong cuộc sống: Đi, chạy, nhảy, ném, leo, trèo, nắm bắt... 2.3.2. Hình thức tập luyện biến đổi: - Đây là hình thức tập luyện các kỹ thuật, động tác luôn có sự điều chỉnh, thay đổi yêu cầu, mức độ, mục tiêu.... Và các điều kiện. Sử dụng phương pháp thực hiện có biến đổi nhằm tạo cho học sinh khả năng làm quen, nhanh chóng thích ứng, giải quyết các điểm mấu chốt, quan trọng của kỹ thuật. Khi hướng dẫn tập luyện với các động tác phức tạp, giáo viên nên chia động tác thành các phần chi tiết khác nhau (theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp). Sau cùng giáo viên hướng dẫn để học sinh biết, phối hợp các phần riêng lẻ thành động tác hoàn chỉnh ở trong các điều kiện không giống nhau tăng dần mức độ khó khăn, phức tạp, song đảm bảo yêu cầu vừa sức với từng đối tượng. - Khi học sinh đó nắm vững bài tập giáo viên có thể tăng khoảng cách, thay đổi độ cao, thấp của dụng cụ, thay đổi điều kiện bổ trợ, nâng cao yêu cầu về chất lượng kỹ thuật, qua đó dần dần nâng cao, củng cố và hoàn thiện những kỹ năng vận động. 2.3.3. Hình thức trò chơi và thi đấu: - Rèn luyện TDTT thông qua hình thức trò chơi vận động và thi đấu tạo được không khỏ hưng phấn, phấn khởi, nhiệt tình tham gia luyện tập của học sinh. Trong vui chơi vận động và thi đấu có hướng dẫn, điều khiển của giáo viên trong các mục tiêu giáo dục được thực hiện, góp phần thúc đẩy hoàn thiện nhân cách và sức khoẻ học sinh. Đây là hình thức phù hợp với lứa tuổi học sinh. - Trong quá trình tổ chức trò chơi, giáo viên hướng dẫn học sinh tập, bắt trước các động tác linh hoạt của con người như các động tác kéo gỗ, chèo thuyền, cuốc Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 12 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 ruộng của người lao động. Qua đó, giáo dục học sinh yêu quý gắn bó với thiên nhiên, với con người và chính bản thân mình. - Khi hướng dẫn trò chơi, giáo viên cần lựa chọn trò chơi có tốc độ thu hút được sự chú ý cao của học sinh, đảm bảo tính nhịp điệu, vừa sức động tác bắt trước phù hợp với lứa tuổi học sinh. Giáo viên thường xuyên nhắc nhở học sinh khi vui chơi cần đảm bảo đúng kỹ thuật, động tác cơ bản. Ví dụ: - Khi chơi “ chạy tiếp sức” động tác chạy phải thực hiện đúng kỹ thuật, chạy bằng nửa bàn chân trên, kết hợp với đánh tay, thở nhịp nhàng, luôn luôn chú ý quan sát để kịp thời gian đưa tín vật cho bạn ( Cờ, bóng hoặc gậy). - Trong quá trình nghiên cứu phải lựa chọn biên soạn trò chơi giáo viên có thể phối hợp các nội dung với chuyện kể ngắn có tính giáo dục cao. Cần phối hợp hoạt động trò chơi với thi đấu, hay tổ chức dưới dạng thi đấu. Chú ý đến mức độ hứng thú, nhiệt tình tham gia của học sinh để xác định mục đích yêu cầu giáo dục khác nhau. - Hình thức thi đấu được sử dụng khi học sinh cơ bản đó nắm vững động tác, kỹ thuật, ví dụ trò chơi “ bóng chuyền 6” ...Qua các hướng dẫn, giáo dục học sinh biết sử dụng các kỹ năng vận động trong khi chơi và thi đấu đạt hiệu quả giáo dục và góp phần phát triển sức khoẻ. - Đối với học sinh Tiểu học do cơ thể phát triển đang từng bước hoàn thiện, tình trạng tâm lý còn chưa ổn định, các em ham chơi vận động quá sức sẽ dẫn đến mệt mỏi, nên trong quá trình tổ chức tập luyện, thi dấu, giáo viên cần chú ý một số điểm sau: - Nên tổ chức các hình thức thi đấu đa dạng, phong phú, tránh phức tạp, bảo đảm an toàn về phương tiện, không nên để mất nhiều thời gian vào việc điều hành đội ngũ, xắp xếp tổ chức. - Yêu cầu bảo đảm lượng vận động vừa sức cần tránh lặp lại quá nhiều lần, gây mệt mỏi, quá sức phòng tránh chấn thương. 2.4. Phương pháp sửa chữa động tác sai: Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 13 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 Khi tập luyện TDTT học sinh không tránh khỏi thực hiện động tác, kỹ thuật có sai sót, nên việc áp dụng phương pháp sửa chữa động tác, kỹ thuật sai là rất cần thiết, sẽ góp phần kịp thời giúp cho học sinh thực hiện đúng, chính xác kỹ thuật, tạo điều kiện tiếp thu kỹ thuật mới nhanh và phòng tránh chấn thương. 2.4.1. Một số nguyên nhân dẫn đến thực hiện sai kỹ thuật và động tác: - Do học sinh chưa nắm được yêu cầu, kỹ thuật cách tiến hành tập luyện, tập luyện thiếu dũng cảm, chưa tự tin, còn lo nắng, hồi hộp, sợ xệt... - Việc chuẩn bị thể lực, sức khoẻ, vốn kỹ năng vận động còn thấp xa so với yêu cầu cần thực hiện động tác. Học sinh khuyết tật, bẩm sinh hoặc cơ thể sau thời gian ốm, mệt, bị chấn thương. - Giáo viên sử dụng phương pháp và nội dung tập luyện chưa phù hợp với đối tượng học sinh, dụng cụ sân bãi không đảm bảo quy cách phù hợp và an toàn, do thời tiết khí hậu khắc nhiệt và một số ảnh hưởng ngoại cảm khác: Học sinh thiếu tập chung học tập, tính tổ chức, tính kỷ luật còn thấp... 2.4.2. Cách sửa chữa: - Trước tiên, giáo viên cần nghiên cứu và quan sát kỹ lưỡng để sớm phát hiện những nguyên nhân đưa tới những thiếu sót, cần điều chỉnh nội dung bài học, vận dụng các phương pháp sửa chữa sai lầm cho kịp thời phù hợp với đối tượng. - Trong sửa chữa các động tác sai cần gắn liền với việc động viên rèn luyện cho học sinh tinh thần dũng cảm, tự tin, mạnh dạn, làm quen với các điều kiện khó khăn trong tập luyện. - Phương pháp sửa chữa động tác sai trong tập luyện TDTT cho học sinh cần áp dụng các hình thức phong phú. Những thiếu sót về tư thế, kỹ thuật, các chi tiết riêng lẻ, ý thức... Cần nhắc nhở nhẹ nhàng bằng lời nói. Nếu có sai về động tác kỹ thuật, nên cho ngừng tập giáo viên làm mẫu lại và giảng giải chậm để học sinh xem... Có thể thực hiện động tác sai của học sinh, để học sinh thấy được thiếu sót của chính mình. - Sự giúp đỡ trực tiếp, uốn nắn kỹ thuật, nhắc nhở nhẹ nhàng đúng lúc của giáo viên có tác động to lớn động viên các em khắc phục khó khăn quyết tâm sửa chữa Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 14 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 động tác sai. Giáo viên có thể sử dụng các dụng cụ tập luyện, tiếng hô, tiếng vỗ tay, nhịp gõ để nhắc nhở các em thời điểm chủ yếu cần thay đổi hay giữ vững kỹ thuật, động tác giúp học sinh nhớ và nắm vững thời điểm khi dùng sức, xây dựng các cảm giác đúng chính xác, sử dụng sức mạnh cơ bắp trong quá trình thực hiện, hoàn thành kỹ thuật, bài tập. 3. Biện pháp phối, kết hợp với gia đình và địa phương: Phối kết hợp với gia đình về chế độ khẩu phần ăn hàng ngày của các em, chú ý cho các em ăn đủ chất dinh dưỡng. Liên hệ với chính quyền địa phương tạo cho các em có sân chơi thể dục thể thao và hàng năm tổ chức cho các em ít nhất một lần hội thao của xã vào dịp 26/3. 4. Một số yêu cầu khi vận dụng các phương pháp: Hệ thống các phương pháp trong giáo dục TDTT nói chung rất đa dạng và phong phú. Xuất phát từ mục tiêu giáo dục và thực trạng nhà trường phổ thông các cấp trình độ vận động của học sinh, trong quá trình giảng dạy TDTT, giáo viên có thể sử dụng một số phương pháp, nhưng cần chú ý những yêu cầu cơ bản sau: - Khi tiến hành lựa chọn phương pháp giảng dạy TDTT cần bảo đảm tính vừa sức , phù hợp với trình độ vận động của học sinh, các điều kiện cơ sở vật chất, dụng cụ tập luyện hiện có và các yếu tố bảo đảm khác như: thời tiết, khí hậu, thiết bị bảo hiểm, hỗ trợ của các phương tiện, y tế... - Cần phối hợp giữa các phương pháp giảng dạy: Lời nói trực quan làm mẫu, phương pháp tập luyện vận động của học sinh. Song cần chú ý tránh gây tình trạng căng thẳng, tiêu phí thời gian để giải thích phương pháp, cách thức tập luyện, gây cho học sinh ức chế, xuất hiện mệt mỏi và kém tự tin. - Khi áp dụng các phương pháp cần chú ý đến những ảnh hưởng tốt và mối quan hệ hợp lý của các phương pháp giáo dục. Các phương pháp được sử dụng phải có tác động giáo dục toàn diện: về kỹ thuật, thể lực, và phẩm chất đạo đức cho học sinh. Cần có sự liên hệ chặt chẽ với các giáo viên bộ môn khác, để phối hợp bồi dưỡng vốn tri thức, những hiểu biết có liên quan đến hoạt động giảng dạy TDTT. Khi sử dụng các phương pháp giảng dạy TDTT cần có sự phối hợp và sử Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 15 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 dụng hiệu quả các phương pháp sư phạm khác để giúp phần nâng cao hiệu quả giáo dục chung. Dựa vào thực tế giảng dạy TDTT trong nhà trường cấp Tiểu học, khi nghiên cứu các phương pháp giáo dục TDTT nói chung, giáo viên lựa chọn một số phương pháp để áp dụng cho phù hợp với từng đối tượng giáo dục, nhằm bảo đảm thực hiện tốt chương trình và kế hoạch dạy học. Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng một số phương pháp giảng dạy khác, nhưng cần chú ý việc sử dụng phương pháp phải xuất phát từ mục tiêu giáo dục thể chất, nhiệm vụ và nội dung chương trình cần đạt, mức độ và yêu cầu của giáo dục: kỹ thuật, thể lực, chiến thuật hoặc trình độ thi đấu... Sự phân loại trên đây chỉ mang tính tương đối, trong quá trình giảng dạy TDTT việc sử dụng một phương pháp riêng lẻ hoặc tổng hợp các phương pháp nhằm giải quyết một nhiệm vụ giảng dạy cụ thể. Giáo viên cần nghiên cứu sáng tạo trong phân loại và sử dụng các phương pháp trên. Các phương pháp giảng dạy TDTT khi được sử dụng đúng lúc và hợp lý là yếu tố có tác động trực tiếp tới việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và trình độ vận động của học sinh nói riêng. IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. - Đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm cho học sinh khối 5 trường Tiểu học xã Hua Nà - Than Uyên - Lai Châu. Áp dụng các phương pháp dạy học đó vào tập luyện đã thu hút được học sinh luyện tập và gây được tính tích cực cho học sinh, một số nhận thức chậm nay đó có sự tiến bộ nhất định, góp phần khích lệ học sinh đảm bảo và tăng cường số lượng học sinh đến lớp. - Kết quả cụ thể đạt được và kinh nghiệm rút ra khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: + Qua việc rèn kĩ năng phát triển thể lực cho ở khối 5 giúp học sinh tự tin khi trong tập luyện và phát huy tố chất tập luyện TDTT của mình. + Học sinh yêu cuộc sống, hưng phấn, thoải mái tiếp tục học các môn học khác sau khi học tiết học Thể dục. Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 16 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 + Góp phần đào tạo những con người mới có đủ đức - trí - thể - mĩ, xây dựng môi trường học tập thân thiện, học sinh tích và chủ động. + Tạo bước tiến trong công tác giảng dạy. BIỂU THỐNG KÊ KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ THỂ LỰC CUỐI NĂM Năm học 2009 2010 2010 2011 2011 2012 Tổng số HS 41 42 52 Tuổi Chạy con thoi Phân loại Lực bóp tay thuận Nằm ngửa gập bụng 30 giây Bật xa tại chỗ Chạy 30m XPC Tốt 20/41= 48,8% 15/41= 36,6% 21/41= 51,2% 18/41= 43,9% 19/41= 46,3% 20/41= 48,8% Đạt 21/41= 51,2% 26/41= 63,4% 20/41= 48,8% 23/41= 56,1% 22/41= 53,7 21/41= 51,2% Tốt 20/42= 47,6% 19/42= 45,2% 22/42= 52,4% 23/42= 54,8% 20/42= 47,6% 21/42= 50% Đạt 22/42= 52,4% 23/42= 54,8% 20/42= 47,6% 19/42= 45,2% 22/42= 52,4% 21/42= 50% Tốt 25/52= 48% 27/52= 52% 26/52= 50% 27/52= 52% 24/52= 46,2% 28/52= 53,8% Đạt 27/52= 52% 25/52= 48% 26/52= 50% 25/52= 48% 28/52= 53,8% 24/52= 46,2% 10 10 10 4x 10m Chạy tùy sức 5 phút PHẦN KẾT LUẬN I. Những bài học kinh nghiệm. - Trong quá trình giảng dạy tôi thấy các em đã có tiến bộ, mặc dù kết quả vẫn chưa tốt song các em đã biết và từng bước và hiểu được yêu cầu của bộ môn cũng như nhận thức được vai trò của môn Thể dục đối với việc phát triển các tố chất thể lực góp phần phát triển toàn diện cho học sinh. Từ khi giảng dạy và sử dụng các phương pháp khác nhau tôi thấy học sinh đã có sự thay đổi về ý thức kỷ luật trong tập luyện cũng như vui chơi dẫn đến tỷ lệ chuyên cần học sinh đến lớp ngày càng được đảm bảo và ổn định hơn mức ban đầu. - Ngoài ra để dạy tốt giáo viên phải có kiến thức, có kĩ năng sư phạm và luôn luôn đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. Để học Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 17 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 tốt học sinh phải có lòng đam mê, có hứng thú để tìm tòi và khám phá những điều mới, làm chủ kiến thức của mình. - Tôi nghĩ rằng việc rèn kĩ năng phát triển thể lực của bản thân vào các tiết dạy thể dục lớp 5 là phù hợp tại trường tiểu học xã Hua Nà. II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm. - Giúp học sinh phát huy được khả năng phát triển thể lực tốt nhất của bản thân. Các em biết được ý nghĩa của việc rèn luyện Thể dục thể thao. - Giúp học sinh thêm yêu cuộc sống , yêu quê hương , đất nước và hưng phấn , thoải mái tiếp tục học các môn học khác sau khi học tiết học Thể dục. - Góp phần đào tạo ra những con người mới có đủ đức- trí -thể- mĩ, xây dựng môi trường học tập thân thiện. - Thúc đẩy công tác tự học tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực dạy học của từng cá nhân giáo viên nhằm đáp ứng được yêu cầu của nền giáo dục hiện đại. - Nâng cao phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học cho giáo viên. III. Khả năng ứng dụng, triển khai. - Có khả năng ứng dụng và triển khai cho tất cả các trường Tiểu học có giáo viên dạy chuyên môn Thể dục. - Hướng phát triển của sáng kiến kinh nghiệm là nhằm: + Nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên và tạo hứng thú yêu thích học tập môn Thể dục cho học sinh. + Học sinh hiểu được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc học Thể dục. + Bồi dưỡng những học sinh có tố chất về Thể dục. IV. Những đề nghị, đề xuất. Để tổ chức tốt một giờ học thể dục phù hợp với yêu cầu phát triển toàn diện của học sinh cũng như kích thích tinh thần tự giác của học sinh. Nên bổ sung thêm một số thiết bị phục vụ cho giảng dạy như: Cột và bảng bóng rổ, xây dựng nhà đa năng... thì giờ dạy, tập luyện vui chơi của học sinh cũng như giáo viên đạt kết quả tốt hơn. Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 18 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trần Đồng Lâm - Đặng Đức Thao - Trần Đình Thuận - Vũ Thị Thư, sách giáo viên Thể dục Lớp 5, Nhà xuất bản giáo dục, 176 trang. 2. PGS. TS. Phạm Khắc Học, 2004, Giáo trình điền kinh, Nhà xuất bản Thể dục thể thao Hà Nội, 452 trang. Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 19 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ S¸ng kiÕn kinh nghiÖm chuyªn ®Ò: RÌn kü n¨ng ph¸t triÓn thÓ lùc cho häc sinh Líp 5 3. Phạm Nguyên Phùng - Hoàng Thị Thuận, Giáo trình Thể dục, Nhà xuất bản Thể dục thể thao Hà Nội, 144 trang. 4. Sách hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng các môn ở tiểu học lớp. Nhà xuất bản giáo dục. 5. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy lớp 5. Nhà xuất bản giáo dục MỤC LỤC Nội dung PHẦN MỞ ĐẦU (ĐẶT VẤN ĐỀ) I. Lý do chon đề tài. II. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu. III. Mục đích nghiên cứu. IV. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu. PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lý luận Gi¸o viªn thùc hiÖn: Hoµng Thanh H¶i 20 Trang 1 1 1 1 2 2 2 Trêng TiÓu häc x· Hua Nµ
- Xem thêm -