Tài liệu Skkn phương pháp sửa lỗi sai cơ bản về nói và viết tiếng anh cho học sinh khi thực hành tại lớp có hiệu quả

  • Số trang: 15 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 1620 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

1111 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị : TRUNG TÂM GDTX LONG KHÁNH Mã số :………… SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP SỬA LỖI SAI CƠ BẢN VỀ NÓI VÀ VIẾT TIẾNG ANH CHO HỌC SINH KHI THỰC HÀNH TẠI LỚP CÓ HIỆU QUẢ Người thực hiện: LÊ THỊ KIM THANH Lĩnh vực nghiên cứu: Quản lý giáo dục: Phương pháp dạy học bộ môn: Tiếng Anh Phương pháp giáo dục: Lĩnh vực khác: □ □ □ □ Có đính kèm: □ Mô hình □ Phần mềm □ Phim ảnh Năm học: 2011 - 2012 □ Hiện vật khác 2222 SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN: 1. 2. 3. 4. Họ và tên : LÊ THỊ KIM THANH Ngày tháng năm sinh : 09 – 01 – 1973 Nam, nữ : Nữ Địa chỉ : Số nhà 22, đường Phạm Lạc, tổ 29C, Khu phố 2, P. Xuân Thanh, thị xã Long khánh, tỉnh Đồng Nai. 5. Điện thọai: 061.3876.839 (CQ) / ĐTDĐ: 01234612247 6. Fax: E-mail: 7. Chức vụ: Giáo viên – Chủ tịch công đoàn 8. Đơn vị công tác: Trung tâm GDTX Long Khánh. II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: - Học vị cao nhất: Đại học sư phạm - Năm nhận bằng : 2008 - Chuyên ngành đào tạo : Tiếng Anh III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC: - Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Dạy tiếng Anh - Số năm kinh nghiệm: 16 năm - Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: - PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG CÁC TIẾT HỌC SPEAK. - PHƯƠNG PHÁP ĐỂ GIỚI THIỆU MỘT BÀI MỚI VÀ CHUYỂN Ý MỘT TIÊU ĐỀ MỚI. 3333 PHƯƠNG PHÁP SỬA LỖI SAI CƠ BẢN VỀ NÓI VÀ VIẾT TIẾNG ANH CHO HỌC SINH KHI THỰC HÀNH TẠI LỚP CÓ HIỆU QUẢ I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Do yêu cầu phát triển của xã hội đồng thời tiếng Anh là ngôn ngữ chính trong khoa học và giao tiếp nên việc cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản để nói và viết đúng những điều các em đã được học là rất quan trọng. Về mặt lý luận thì nhất thiết người giáo viên phải dạy học sinh hiểu đúng, thực hành đúng những kiến thức nền tảng. Nếu không hiểu đúng, thực hành đúng thì vốn tiếng Anh của các em không có tác dụng trong quá trình học tập. Từ chỗ viết đúng, nói đúng các em dễ phát triển các kĩ năng khác như nghe, đọc, dịch... I. 1. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: Cơ sở lý luận: Dạy và học ngoại ngữ khác với các môn học khác là thời gian thực hành ở lớp nhiều sau mỗi phần bài mới. Trong thực tế, khi học tiếng Anh thì học sinh rất ít khi thực hành đúng ngay lần đầu và nhìn chung giáo viên khó phát huy được đối tượng học sinh vì thường là lớp đông, thời gian có hạn. Hơn nữa việc sữa lỗi cho học sinh khi thực hành tại lớp mỗi giáo viên có những phương pháp khác nhau. Có người cho rằng không bao giờ để học sinh mắc lỗi, nếu mắc lỗi thì dừng lại và sửa chữa ngay cho học sinh, có người cho rằng phải liên tục sửa nhưng chỉ gợi ý hoặc có những người dùng phương pháp lấy chính học sinh sửa cho học sinh...Có rất nhiều phương pháp nhưng không phương pháp nào là tối ưu mà trong quá trình dạy tiếng Anh phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau ứng với mỗi tình huống và nội dung khác nhau. Vì theo một nhà giáo dục học nhận xét "Một người thầy giỏi không phải là người mang chân lí đến cho học sinh mà phải là người đưa học sinh đi tìm chân lí". Từ cơ sở lí luận và thực tiễn, cùng với kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy của mình tôi chọn chuyên đề nghiên cứu "Phương pháp sửa lỗi sai cơ bản về nói và viết tiếng Anh cho học sinh khi thực hành tại lớp có hiệu quả". 2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài: A. SỬA LỖI SAI KHI HỌC SINH THỰC HÀNH NÓI TIẾNG ANH TẠI LỚP: Trong khi thực hành tiếng Anh đặt câu theo mẫu và phát triển ý, điều quan trọng đối với người giáo viên là hướng dẫn học sinh tìm hiểu, khám phá và sáng tạo theo ý của mình. Nhưng không phải lúc nào học sinh cũng làm được ngay. Vì vậy cả khi học sinh còn lúng túng hoặc sai thì giáo viên phải nhạy cảm nắm bắt, hiểu ý muốn nói của các em, chủ động sửa hoặc gợi ý cho học sinh tự sửa lỗi. 4444 Dựa vào tình huống vấn đề đặt ra và những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng mà chúng ta có thể đưa ra những phương pháp khác nhau mà mục đích cuối cùng là học sinh hiểu biết vận dụng đúng. Sau đây là một vài ví dụ ứng với các tình huống khác nhau và các phương pháp sửa lỗi sai cơ bản cho học sinh khi thực hành nói tiếng Anh tại lớp. I. PHƯƠNG PHÁP KHI HỌC SINH MẮC LỖI THÌ SỬA NGAY Ví dụ: Khi giáo viên hỏi, học sinh trả lời để luyện cách sử dụng động từ khuyết thiếu "can" để diễn đạt khả năng có thể làm được việc gì đó có thể có trường hợp sau xảy ra: Teacher: What can you do, Hoa? Hoa: I can speaking English Teacher: Hmm, that's not right, is it? I can speak, not I can speaking Minh, what about you?.... Trong trường hợp trên giáo viên không lấy làm hài lòng với học sinh Hoa mặc dù em đã cố đưa ra câu trả lời đúng nhưng giáo viên đó sửa lại ngay và gọi em khác, không cho học sinh đó có cơ hội để sửa câu sai của mình thành câu đúng. Trong khi câu hỏi giáo viên đưa ra rất gần với học sinh, em nào cũng có thể trả lời được nhưng giáo viên lại tỏ ra không hài lòng và không khuyến khích các em tự trả lời, tự sửa lỗi mà làm cho học sinh bối rối không nói ra câu mình cần nói . Với trường hợp trên, giáo viên có thể sửa lỗi cho học sinh bằng phương pháp tích cực hơn tạo cho các em có cơ hội và hứng thú để nói đúng. Có thể tiếp tục như sau: Teacher: Well, all right, but "I can speak" not " speaking", again? Hoa: I can speak English Teacher: Good Hoặc giáo viên có thể giúp học sinh tự sửa lỗi bằng cách chỉ ra chỗ sai trong câu Ví dụ: Teacher: Yes, OK, nearly,"speaking or speak" Students: speak Teacher: Now you say again, Hoa Hoa: I can speak English Teacher: That's right. Good Đây là phương pháp tốt giáo viên cần phát huy và áp dụng thường xuyên. Khi đó giáo viên có thể biết rằng học sinh có thể hiểu bài và tự mình sửa lỗi. Học sinh sẽ ghi 5555 nhớ lâu hơn và có thể không bị sai như lỗi đó nữa. Sau khi sửa lỗi được ở một học sinh rồi, có thể chuyển câu hỏi đó sang học sinh khác, sau đó lại hỏi học sinh ban đầu để kiểm tra lại. Ví dụ: Teacher: Well, anyone else? What can you do, Tam? Tam : I can speak English Teacher: Yes, well done Hoa again? Hoa: I can speak English Teacher: Good Phương pháp này giúp học sinh cả lớp chú ý, nhưng giáo viên nên sử dụng một cách thận trọng. Điều quan trọng là không để học sinh đầu mắc sai cảm thấy mình là "nạn nhân" hy sinh cho những bạn khác, phải khuyến khích đúng lúc, kịp thời để tránh cho học sinh đó có cảm giác sợ hoặc ngại khi lần sau giáo viên hỏi sẽ không dám trả lời, cho nên giáo viên cần phải biết xử lý tình huống một cách khéo léo. Tóm lại, với tình huống và dạng thực hành nói như ví dụ trên, để việc sửa lỗi có hiệu quả chúng ta cần áp dụng phương pháp sửa lỗi cơ bản và phải có được kĩ năng sau: - Nên động viên khuyến khích học sinh tập trung vào những gì học sinh đúng nhiều hơn chứ không thiên về những điều sai, chỉ nên lấy cái sai ra để so sánh và tránh lặp lại lỗi sai đó. - Khích lệ những câu trả lời đúng của học sinh, thậm chí cả những câu chưa đúng hoàn toàn bằng phương pháp này học sinh sẽ cảm thấy mình hiểu và đang hoàn thiện dần. -Tránh miệt thị học sinh hoặc làm cho học sinh cảm thấy việc đặt câu hoặc việc trả lời sai là việc rất tồi tệ. - Giáo viên chủ động điều khiển sửa lỗi nhanh, nếu không sẽ mất nhiều thời gian mà phần bài trên lớp chưa hết, nhiều học sinh khác sẽ không có cơ hội thực hành. II. KẾT HỢP NHIỀU PHƯƠNG PHÁP KHI SỬA LỖI Ở CÁC TÌNH HUỐNG KHÁC NHAU Như tôi đã nói ban đầu rằng không có một phương pháp nào là tối ưu nhất mà điều quan trọng là giáo viên phải biết kết hợp khéo léo các phương pháp với yêu cầu đặt ra của từng loại, từng đối tượng học sinh, mức độ hiểu bài và không khí của lớp học. Dưới đây là một ví dụ khác về sửa lỗi sai cho học sinh: Giáo viên đưa ra một đoạn văn trích từ một bức thư của Lan viết cho người bạn của cô ấy. Yêu cầu học sinh đọc và trả lời câu hỏi. đoạn văn như sau: 6666 "Dear Minh, I was very glad to get your letter and to hear about all the things you are doing. Thanks for sending me the photographs of the dolls. They are very beautiful and I have added them to my collection. I am sending you a few photographs of mine. Little doll with curly brown hair is a new one I have been given on my 15th birthday anniversary. I hope you will like it. Love Lan" Giáo viên đặt câu hỏi: What does Lan do? Trong những tình huống sau giáo viên sẽ làm gì? a. Một học sinh trả lời: Lan collects the photographs of the dolls. b. Một học sinh khác trả lời: She collects c. Một học sinh khác không trả lời vì không biết d. Một trong những học sinh yếu trả lời: She collecting photographs of the dolls. e. Một trong những học sinh khác trả lời: She is collecting dolls. f. Một học sinh trả lời: She writes letter. Tuy nhiên trong những câu trả lời trên không câu nào đúng. Nhưng để học sinh tự sửa, thảo luận đi đến câu trả lời đúng, giáo viên có thể đưa ra những gợi ý sau: Trường hợp a: chấp nhận câu trả lời gần đúng hoặc gợi ý giúp học sinh tự sửa Teacher: It's nearly correct Just "photographs of the dolls" she collects.... Student: She collects photographs of the dolls Trường hợp b: Giáo viên ra hiệu bằng một cử chỉ để chỉ ra câu đó chưa hoàn chỉnh hoặc nói: Teacher: Yes, she collects but she collects what? Nếu cần thiết giáo viên có thể đặt câu hỏi đó cho học sinh khác trả lời sau đó học sinh ban đầu nhắc lại câu trả lời đúng của bạn Trường hợp d: Giáo viên đồng ý với câu trả lời đó để khích lệ học sinh nhưng sau đó tự mình sửa lại và yêu cầu học sinh đó nhắc lại câu trả lời; Ví dụ: Teacher: Yes, good, she collects photographs of the dolls Student : She collects photographs of the dolls Trường hợp e: Giáo viên gợi ý giúp học sinh tự sửa vì đó là học sinh khá chỉ cần đưa ra gợi ý sau: 7777 Teacher: Well, nearly, what does she do ? "she collects" or " collect ?'' Student: She collects Teacher: Very good Hoặc yêu cầu học sinh khá khác trả lời cho chính xác và yêu cầu học sinh đó nhắc lại câu trả lời đúng của bạn. Trường hợp f : Chấp nhận câu trả lời đó sau đó giáo viên có thể đưa ra câu hỏi lại rõ hơn về mục đích và ngữ pháp để làm sáng tỏ hơn. Teacher: Well, yes. She is writing a letter. But what does she do in her free time? What is her hobby ? Student : Ah, she collects..... Teacher: Yes, OK III. GIÁO VIÊN GIÚP HỌC SINH TỰ SỬA Đây là một phương pháp tốt tạo cơ hội cho học sinh tự sửa lỗi của mình. Với phương pháp này giáo viên phải biết linh hoạt sử dụng các kĩ năng về cử chỉ điệu bộ hoặc những quy ước sẵn đối với học sinh của mình. Học sinh tự nhận biết lỗi sai trong câu và biết được nó thuộc lỗi sai về từ, vị trí hay loại câu. Nhưng vấn đề là trong những trường hợp sai nào thì sử dụng những cử chỉ, điệu bộ như thế nào cho phù hợp để học sinh nhìn vào biết tìm ra lỗi sai. Sau đó học sinh sẽ tự sửa lỗi sai đó. Vớ dụ: sai về thứ tự từ Teacher: Is it a car ? Student : Yes, is it./ Yes, it is . Giáo viên có thể dựng hai ngón tay trỏ vòng qua nhau rồi xuôi ngược theo lời nói học sinh tự sửa. Yes, it is quay xuôi chiều Yes, is it quay ngược chiều Ví dụ sai về thiếu từ (ngữ pháp ) He gets up 6.00 . "at" is missed " Giáo viên giơ bàn tay lên đếm 1 2 He gets 3 up 4 5 6.00 Học sinh sẽ phát hiện ra từ thiếu khi giáo viên cầm ngón tay số 4 lắc lắc. Khi học sinh sửa được rồi giáo viên nhắc lại và làm cử chỉ điệu bộ rồi yêu cầu học sinh nhắc lại câu đúng. 1 2 3 4 He gets up at 8888 5 6.00 Ngoài ra giáo viên có thể dùng giọng điệu để giúp học sinh nhận biết ra chỗ sai và có thể sửa: Ví dụ: Teacher: What does Miss White do ? Student : He is a teacher (He is wrong ) Miss Miss...........White She is a teacher Một số ví dụ ở dạng sai này: 1.Yesterday I go to school early 2. He live in London 3. An aeroplain is faster a car Giáo viên dùng ngữ điệu của mình vào những từ giúp học sinh nhận biết chỗ sai trong câu và sửa lỗi sai đó. Trường hợp 1: Teacher: Yesterday I go or I....... Student: I went Trường hợp 2: Teacher: He.... Student: He lives....... Trường hợp 3 Teacher: faster..... Student: faster than Tóm lại để sửa lỗi trong khi học sinh thực hành nói hiệu quả thì giáo viên cần phải biết kết hợp vận dụng thường xuyên các phương pháp sửa lỗi một cách linh hoạt phù hợp với tình huống và lỗi sai nhất định, giáo viên cần chủ động điều chỉnh để học sinh luôn phát huy được tính tích cực của mình trong học tập. B. SỬA LỖI SAI KHI HỌC SINH THỰC HÀNH VIẾT TIẾNG ANH TẠI LỚP: Ở trường phổ thông, với những yêu cầu kiến thức cho học sinh còn ít và yêu cầu đơn giản nhưng việc viết đúng là rất quan trọng, ở đây tôi không nặng về đề cập đến vấn đề nét chữ mà sửa lỗi sai cơ bản về ngữ pháp và chính tả trong câu. Cũng như chữa lỗi trong luyện tập miệng, việc sửa lỗi sai khi viết cho học sinh nên làm cho có ả nh hưởng tích cực đến việc viết của các em hơn là mang tính khích lệ song vẫn phải theo hướng 9999 động viên. Điều đó muốn nói rằng sau những lần chữa và được chữa lỗi, học sinh sẽ hạn chế mắc sai và đồng thời cũng rút ra được bài học và khắc sâu hơn nữa những điều cần ghi nhớ từ những chỗ sai này. I. MỘT SỐ CÁCH SỬA LỖI CẦN LƯU Ý: 1. Xác định trọng tâm cần sửa trước ở chương trình English 8- Unit 6 học sinh có học cấu trúc câu "enjoy + V-ing" giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng đặt câu hỏi về em đó hoặc người khác thích làm gì dùng "enjoy". Học sinh lên bảng viết như sau: My muther injoy to read newspapers Với câu trên chúng ta nên sửa những lỗi gì và sửa như thế nào để học sinh dễ nhớ ? Ta thấy học sinh trên đã mắc phải quá nhiều lỗi, nhưng điều quan trọng là trong ý nghĩ của học sinh và nhận xét của giáo viên thì câu đó không đến nỗi quá tồi như ta nhìn thấy, vì bản thân em học sinh đó cũng đã cố gắng viết những gì em nghĩ để tạo thành câu. Nên với câu này giáo viên có thể hỏi những học sinh khác xem đúng hay sai và nhắc lại mục đích của yêu cầu viết câu này để luyện cấu trúc "enjoy + V-ing" vì vậy phần quan trọng cần sửa là "V-ing" và chia động từ. My mother + Vs cũng rất quan trọng nên giáo viên có thể gợi ý và giúp học sinh sửa cả lỗi này. Teacher: enjoy + to V (right or wrong ?) Student: wrong enjoy + V-ing Giáo viên gạch chân từ enjoy to read và viết từ sửa ở dưới: enjoys reading My muther injoy reading newspapers Sẽ tốt hơn nếu giáo viên tự sửa từ "injoy " thành từ "enjoy " viết lên thì học sinh cũng đã tự biết và hiểu chúng đã mắc sai chỗ đó và biết tại sao lại thế (vì chúng đã học rồi ) và sẽ hạn chế mắc sai ở những lần sau, cũng giống như thế lỗi về đánh vần và chữ cái như từ "muther" ta cũng không nên sửa ngay vì điều này sẽ làm phân tán sự tập trung của học sinh vào những điểm chính. Giáo viên có thể nhớ lỗi sai đó để sửa vào lần sau hoặc tự các học sinh khác sẽ phát hiện ra ngay. Teacher: Is it correct all ? Student: Muther Teacher: Ah, what ? Student : Mother 2. Nên đưa những yêu cầu viết như thế nào để việc sửa lối có hiệu quả: 10101010 Vì đó là thời gian trên lớp và tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu, kĩ năng rèn luyện của từng phần nên khi luyện viết trên lớp giáo viên cũng cần lựa chọn phần học sinh hay mắc lỗi sai để sửa và nhấn mạnh, yêu cầu học sinh phải ghi nhớ. Ví dụ: Sử dụng động từ ở thời tiếp diễn thêm " ing " vào sau động từ nhưng có một số trường hợp đặc biệt mà chính học sinh hay mắc lỗi. Giáo viên gọi học sinh lên bảng làm bài tập sau: Cho dạng đúng của động từ trong ngoặc. She (cut ) flower in the garden now . -> She is cuting flower in the garden now. Câu trên có thể học sinh không phát hiện ra chỗ sai ngay vì phát âm giống nhau và quy luật thì chúng nghĩ đơn thuần cứ thêm "ing" vào sau động từ mặc dù giáo viên đó dạy rồi khi nào thì gấp đôi phụ âm. Giáo viên có thể gạch chân từ "cuting" giúp học sinh nhớ lại và sửa She is cutting flower in the garden now. Giáo viên có thể nhắc lại hoặc yêu cầu học sinh nhắc lại những động từ có cách viết tương tự từ "cutting" Một ví dụ khác: They are (write ) the dictation at the moment. Học sinh cũng sẽ dễ mắc "writeing " mặc dù giáo viên dạy trường hợp động từ kết thúc bằng "e" thì khi thêm "ing " ta phải bỏ "e" .Nhưng cũng như những ví dụ vừa quen thuộc vừa thực tế này, ta sẽ thấy được hiệu quả là học sinh sẽ tự nhớ lại nhiều hơn. Trên đây là những trường hợp câu ngắn, đơn giản cả giáo viên và học sinh cùng làm việc nhưng với trường hợp sửa cả đoạn văn hoặc một vài câu, khi yêu cầu học sinh viết đoạn văn thì giáo viên cần có những kinh nghiệm sửa như thế nào để giúp học sinh nhận ra chỗ sai một cách nhanh chóng và hiểu được tại sao lại sai. Ví dụ giáo viên yêu cầu học sinh viết một đoạn văn nói về một ngày làm việc bình thường của mình. Giáo viên gọi một em học sinh lên bảng viết bài của mình ra để cả lớp nhận xét. Đây là bài sau khi giáo viên và cả lớp cùng nhau sửa . s have at I alway gets up 6 o'clock. I having breakfast at 6.30 foot I go to school on feet with my freinds. I go home at 11.00 11111111 In have and have lunch at home. I usually do my homework on the afternoon. I having dinner at 6 p.m go I going to the bed at 9 o'clok. Trong ví dụ này ta thấy học sinh đó mắc rất nhiều lỗi ở hầu hết các câu mà giáo viên đã giúp học sinh sửa hết. Nhưng chính việc sửa hết cùng một lúc và trình bày như trên thì có lẽ sẽ không khích lệ được học sinh mà còn làm trầm trọng thêm vấn đề vì chúng sẽ thấy hầu như câu của chúng không đúng chút nào, thậm chí quá tồi để viết lần sau, hơn nữa giáo viên viết cũng không rõ ràng , trình bày rối học sinh khó phát hiện . Với trường hợp này nên chăng ta chỉ nên chữa những lỗi cơ bản, quan trọng nhất hoặc những lỗi hiển nhiên học sinh biết và chúng vừa được học. Đó là những lỗi ngữ pháp cụ thể là biết sử dụng động từ ở thì hiện tại thường . Ta có thể giảm bớt phần gạch chân( chéo hoặc chỉ gạch chân một lần thôi và viết ra ngoài đầu dòng phần bác bỏ ) làm cho bài chữa rõ ràng hơn và có vẻ ít lỗi hơn. Hơn nữa, trong quá trình dạy ta luôn thể hiện vai trò là người thầy điều khiển đưa học sinh vào tình huống để chúng chủ động lĩnh hội cũng như sửa sai. Giáo viên có thể làm giảm bớt đi phần lỗi mà học sinh đó vừa mắc bằng cách gợi ý mở hỏi chính học sinh đó tự sửa. Điều đó cũng khích lệ được học sinh nhìn lại những gì mình đã biết và ghi nhớ lần sau sẽ không mắc lại lỗi đó nữa. ví dụ sửa đoạn trên như sau: get ..........have I always gets up 6 o'clok then I having foot break at 6.30 I go to school on feet go with my friends. I going to home at 11.00 and have lunch at home. I usually do my in.........have homework on the afternoon. I having go dinner at 6 p.m. I going to the bed at 9 o'clock Hoặc giáo viên gạch chân từ sai như trên và viết từ đúng phía bên trên từ sai. Nếu đối với học sinh mà giáo viên dạy quen hoặc là những học sinh khá, giáo viên có thể quy ước các ký hiệu cho từng loại lỗi ra ngoài để giúp học sinh tự sửa lỗi của mình bằng cách đọc kĩ lại những gì mình vừa viết và suy nghĩ để sửa. Ví dụ : Kí hiệu: Sp: cho lỗi chính tả (spelling ) Gr: cho lỗi ngữ pháp (grammar ) Wo: thứ tự từ (word order ) 12121212 II. NHỮNG LỖI THÔNG THƯỜNG HỌC SINH HAY MẮC PHẢI KHI VIẾT TIẾNG ANH: Vì khi được gọi lên bảng học sinh không được cầm sách, hoặc những từ, những mẫu câu vừa mới được học, và cũng chính lỗi học sinh vừa mắc phải đó rất có lợi cho cả lớp hoặc cho một số học sinh hay mắc lỗi rút kinh nghiệm. Nên khi nhận xét và cùng giáo viên chữa bài thì cả lớp phải tập trung. Cũng từ đó người thầy sẽ biết được học sinh đó tiếp thu được những gì và còn yếu ở chỗ nào cần phải nhấn mạnh. Quay lại ví dụ 1: My muther injoy to read newpapers Trường hợp này ta thấy học sinh quá yếu, vậy chúng "hổng " cái gì và nên dạy lại cái gì Có thể đưa ra một vài phân tích sau: 1. Lỗi về ngữ pháp: Cấu trúc cơ bản "enoy + V-ing " giáo viên sẽ phải đưa ra yêu cầu luyện tập nhiều hơn nữa mẫu câu này và sử dụng nhiều ví dụ khác nhau giúp chúng nhớ. - Chia động từ ở ngôi thứ ba số ít Học sinh có thể nhớ lại chỉ cần giáo viên nhắc chủ ngữ ngôi thứ mấ y, chia động từ như thế nào là chúng có thể biết và tự sửa. 2. Lỗi sai về từ: Tác dụng của một chữ cái bắt đầu có thể gợi lại cho học sinh nhớ từ này: Teacher: injoy "e"/i/ or "i" /ai/? Student: enjoy Ngoài ra, ứng với mỗi trường hợp để có hiệu quả giáo viên phải tự đặt ra các câu hỏi như : những nguyên nhân nào dẫn đến học sinh mắc những lỗi đó có chỉ ra được những gì mà học sinh đó và học sinh khác chưa hiểu hay không? Hay chúng hiểu rồi nhưng vẫn mắc theo thói quen. Vậy giáo viên phải làm thế nào cho phù hợp với mỗi đối tượng học sinh trong lớp. Với loại lỗi này, ta thấy học sinh hay mắc phải thì chúng sử dụng các trường hợp đặc biệt của các cách sử dụng từ cấu trúc ngữ pháp. Ví dụ: Các từ học sinh hay nhầm: Từ đúng Học sinh hay nhầm Swimming Swiming Cutting cuting 13131313 Shoping Shopping Writing Writeing Closing Closeing Trên đây là một vài ví dụ thuộc các dạng lỗi cơ bản mà học sinh hay mắc phải và hướng giải quyết của giáo viên mà tôi thường áp dụng với học sinh của mình và thấy rằng các phương pháp này rất có hiệu quả. III. KẾT QUẢ DẠY THỰC NGHIỆM: Khi làm chuyên đề này tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm ở một số lớp 8, 9 tôi thấy rằng sau thời gian áp dụng các phương pháp sửa lỗi này học sinh đã tiến bộ rõ rệt ngay cả khi nói và viết. Kết quả trước và sau khi áp dụng các phương pháp sửa lỗi trên: Luyện nói Lớp Xếp loại Trước Luyện viết Sau khi áp dụng thường xuyên Trước Sau khi áp dụng thường xuyên Lớp Giỏi 4% 8% 4% 8% 8 Khá 20% 28% 20% 28% Sỉ số TB 48% 56% 48% 56% 25 Yếu 20% 8% 20% 8% Kém 8% 0% 8% 0% Lớp Giỏi 6.6% 10% 6.6% 10% 9 Khá 16.66% 23.33% 16.66% 23.33% Sỉ số TB 53.33% 56.66% 53.33% 56.66% 30 Yếu 20% 10% 20% 10% Kém 3.33% 0% 3.33% 0% IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG: Qua đề tài này tôi có một số đề xuất và khuyến nghị như sau: + Về phía Sở Giáo Dục và Đào tạo: Cần hỗ trợ kinh phí cho Trung tâm để mua sắm thêm trang thiết bị, máy móc phục vụ cho công tác dạy và học vì hiện nay vẫn còn thiếu chưa có máy projector. + Về phía Trung tâm: Cần quan tâm hơn nữa đến điều kiện dạy và học của giáo viên và học sinh. Như mua thêm băng đài và các đồ dùng dạy học khác.vv…. 14141414 + Về phía cha mẹ học sinh: Các bậc cha mẹ cần quan tâm nhiều hơn nữa đến việc học của con em mình như: dành thời gian cho các em học bài và làm bài tập, kiểm tra xem sau khi đi học về các em có học bài và làm bài tập ở nhà hay không. Tôi thiết nghĩ nếu các em học sinh được quan tâm từ nhiều phía như vậy, thì chất lượng dạy và học sẽ cao hơn nhiều. Xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI THỰC HIỆN Lê Thị Kim Thanh SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI TRUNG TÂM GDTX LONG KHÁNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 15151515 Long Khánh, ngày 20 tháng 04 năm 2012 PHIẾU NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học: 2011-2012 Tên sáng kiến kinh nghiệm: PHƯƠNG PHÁP SỬA LỖI SAI CƠ BẢN VỀ NÓI VÀ VIẾT TIẾNG ANH CHO HỌC SINH KHI THỰC HÀNH TẠI LỚP CÓ HIỆU QUẢ Họ và tên tác giả: Lê Thị Kim Thanh Đơn vị (Tổ): Tin học-Ngoại ngữ-Nghề Lĩnh vực: Quản lý giáo dục Phương pháp dạy học bộ môn Phương pháp giáo dục Lĩnh vực khác 1. Tính mới: - Có giải pháp hoàn toàn mới - Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có 2. Hiệu quả: - Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao. - Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao. - Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao - Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả. 3. Khả năng áp dụng: - Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách: Tốt Khá Đạt - Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, để thực hiện và dễ đi vào cuộc sống: Tốt Khá Đạt - Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng: Tốt Khá XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN (Ký tên và ghi rõ họ tên) Đạt THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ (Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)
- Xem thêm -