Tài liệu Skkn phương pháp dạy tập làm văn nghị luận lớp 9

  • Số trang: 19 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 171 |
  • Lượt tải: 0
tranvanhung

Tham gia: 20/02/2016

Mô tả:

PHƯƠNG PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN NGHỊ LUẬN LỚP 9 A/ ĐẶT VẤN ĐỀ : Phần tập làm văn Nghị luận lớp 9 nằm ở chương trình học kì II, có tính tích hợp đồng tâm từ lớp 7 và lớp 8. Lớp 7 : - Tìm hiểu chung về văn nghị luận . - Các kiểu nghị luận: chứng minh , giải thích . Lớp 8 : + Ôn tập , luyện tập về luận điểm . + Biểu cảm trong văn nghị luận . + Miêu tả và tự sự trong văn nghị luận. Lớp 9: - Nghị luận về vấn đề xã hội . - Nghị luận về vấn đề văn học . Yêu cầu chủ yếu của tập làm văn là củng cố tri thức và kỹ năng đã được học ở tiết đọc hiểu văn bản và tiết Tiếng Việt . Đặc biệt sách giáo khoa mới coi phần tập làm văn là sự tổng hợp của ngữ và văn (Tích hợp ngang) và nguyên tắc ôn cũ-hiểu mới (Tích hợp đồng tâm ) và đảm bảo truyền thụ tri thức có hệ thống khoa học (Tích hợp dọc). Khi làm bài tập làm văn , học sinh phải huy động tổng hợp kiến thức Tiếng Việt để viết đúng chính tả ,viết câu đúng ngữ pháp, phù hợp với phong cách văn bản nhằm đạt được yêu cầu của đề bài và để có một văn bản hoàn chỉnh . Phần văn bản giúp học sinh có kiến thức để trình bày vốn hiểu biết của mình . Như vậy ,tập làm văn là một môn học mang tính chất thực hành ,toàn diện ,tổng hợp và sáng tạo . Nó có một vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình Ngữ văn . Ở nước ta ,văn nghị luận là một thể văn có truyền thống lâu đời ,có giá trị và tác dụng to lớn trong trường kì lịch sử , trong công cuộc dựng nước và giữ nước, trong phản ánh nhận thức thẩm mĩ của dân tộc về văn chương, nghệ thuật … Có thể kể đến các tác giả nổi tiếng như : Lí Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh, Hoài Thanh, Đặng Thai Mai … Đây là các tác giả đã thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lí lẽ và lập luận , giá trị nghệ thuật cao,giá trị nhân văn sâu sắc. Thông qua phần tập làm văn nghị luận, giáo viên có thể củng cố, hình thành cho học sinh các kỹ năng như: quan sát , so sánh, phân tích , tổng hợp. Đồng thời hình thành và phát triển khả năng lập luận chặt chẽ, trình bày lí lẽ, dẫn chứng nhằm diễn tả suy nghĩ và ý kiến riêng về vấn đề nào đó trong cuộc sống hoặc trong văn học nghệ thuật. Xuất phát từ sự nhận thức vai trò quan trọng của việc dạy - học Tập làm văn Nghị luận, người viết xin đưa ra những nguyên nhân và giải pháp cần thiết cho phần Tập làm văn Nghị luận lớp 9. Đây là sự đúc kết kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy và học tập kinh nghiệm của đồng nghiệp, nghiên cứu các tài liệu tham khảo, tìm hiểu từ thực tế học tập của học sinh. Đưa ra ý kiến này với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy Tập làm văn Nghị luận lớp 9. Từ đó khẳng định tầm quan trọng của việc cải tiến phương pháp dạy-học Tập làm văn trong bậc Trung học cơ sở. B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ : I/ THỰC TRẠNG : 1/ Chương trình Tập làm văn nghị luận : a/ Về thời gian và kết cấu chương trình. Học sinh được học văn nghị luận ở lớp 7 là 15 tiết và 11 tiết ở lớp 9.Nội dung của các bài học chỉ rõ đặc trưng của bài văn nghị luận là nêu ý kiến,trình bày lý lẽ,ba yếu tố của văn nghị luận là luận điểm,luận cứ và lập luận.Chương trình chú trọng nghị luận xã hội và nghị luận văn học nhằm hướng suy nghĩ của học sinh vào các vấn đề của đời sống và văn học.Cụ thể như sau : Lớp 7 Nội dung : Lớp 9 Nội dung : + Tìm hiểu chung về văn nghị luận. + Thao tác phân tích và tổng hợp. + Đề văn nghị luận. + Nghị luận về một hiện tượng,sự việc. + Yêu cầu của bài văn nghị luận. + Nghị luận về một tư tưởng,đạo lý. + Bố cục và lập luận. + Nghị luận về nhân vật văn học. + Lập luận chứng minh. + Nghị luận về một đoạn thơ,bài thơ. + lập luận giải thích Yêu cầu : Yêu cầu : -Nghị luận được xem như một kiểu bài - Thấy được sự kết hợp các phương độc lập. thức. - Thao tác đơn giản,chứng minh và giải - Vấn đề nghị luận đa dạng,phức tạp. thích. - Dung lượng bài viết nhiều hơn từ 4 –7 - Dung lượng bài viết từ 1-4 trang vở trang vở học sinh. học sinh. b/ Về sách giáo khoa và sách tham khảo : - Qua bảng trên ta thấy văn nghị luận có sự tích hợp đồng tâm.Ở lớp 7 học sinh hiểu mục đích, nội dung,bố cục,kiểu bài nghị luận.Đến lớp 8 và lớp 9 học sinh được nâng cao hơn. Cách xây dựng chương trình đảm bảo tính hợp lý,vừa có sức khái quát,vừa phong phú đa dạng phù hợp với nguyên tắc vừa sức cho học sinh. Các tiết Tập làm văn nghị luận theo trình tự :Xây dựng bài qua thực hành,thực hành nhận biết và thực hành tạo lập văn bản.Sách giáo khoa chú trọng cả lý thuyết và thực hành.Phần tìm hiểu có nhiều câu hỏi tình huống, phần luyện tập có phần đọc thêm với mục đích cung cấp kiến thức bổ trợ.Đúc kết kiến thức có phần ghi nhớ. - Sách tham khảo cơ bản nhất là sách giáo viên,được biên soạn sát với sách giáo khoa.Sách có phần lưu ý và phần hướng dẫn cụ thểvề phương pháp rất thuận lợi cho việc giáo viên tham khảo Sách tham khảo cho học sinh khá phong phú gồm:các loại sách văn mẫu.Các sách này có giá trị nhưng cũng có phần phức tạp vì có nhiều cách trình bày mang tính cá nhân. 2/ Về phía giáo viên : Các thầy cô giáo đã thực hiện nghiêm túc quy định,nề nếp về chuyên môn, giảng dạy nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao. Đặc biệt những người có tâm huyết với nghề nghiệp đã tìm tòi phương pháp mới để truyền đạt kiến thức cho học sinh có hiệu quả. Đặc biệt tất cả các giáo viên đã được tập huấn thay sách, đã áp dụng phương pháp dạy mới vào chương trình. Tuy nhiên vẫn còn có những thầy cô do còn bỡ ngỡ, hoặc do không đủ thời gian nên chưa giúp học sinh nắm vững kiến thức nghị luận và vận dụng kiến thức. Việc giáo viên chấm bài và trả bài cho học sinh còn làm qua loa,đại khái. Các tiết học văn bản và Tiếng Việt chưa có sự tác động thích đáng cho Tập làm văn. Quá trình dự giờ, thao giảng để rút kinh nghiệm đối với tiết Tập làm văn còn hạn chế.Bởi vì phần lớn giáo viên có tâm lý chung là ngại dạy và dự giờ giảng dạy tiết Tập làm văn. 3/ Về phía học sinh : Rất ít học sinh say mê học văn. Số học sinh giỏi văn thực sự rất hiếm. Học sinh không biết phương pháp học do không tìm hiểu và vận dụng lý thuyết để làm văn.Thậm chí có những em không sử dụng đến sách giáo khoa.Học sinh cũng không biết vận dụng kiến thức của Tiếng Việt và văn bản vào làm văn. Đặc biệt các em chưa xác định thế nào là luận điểm, luận cứ và lập luận. Giờ trả bài học sinh chỉ quan tâm đến điểm số mà không quan tâm đến việc sửa chữa các lỗi để rút kinh nghiệm. Tệ hại hơn là học sinh không xác định được mình viết đúng hay sai, hay hay dở, đúng sai, hay dở tới mức nào. Hơn nữa các em sử dụng bút xoá trong bài làm rất tuỳ tiện. 4/ Về cách kiểm tra đánh giá : Cấu trúc đề kiểm tra hoặc thi, phần làm văn chiếm 6 hoặc 7 điểm ( gọi là phần tự luận) Đề bài kiểm tra thường là ở kiến thức cơ bản,quen thuộc. Các bài làm văn theo văn mẫu vẫn phải cho điểm dẫn đến tình trạng học sinh làm bài rập khuôn máy móc. 5/ Hậu quả : Khả năng nói và viết Tập làm văn nghị luận của học sinh còn yếu.Học sinh không đủ trình độ năng lực ứng dụng những kiến thức Tập làm văn vào cuộc sống. Cách đánh giá một bài làm văn có khi không phản ánh được thực chất, trình độ khả năng của học sinh. Trong kiểm tra thi cử,học sinh chủ yếu làm được phần trắc nghiệm, còn phần tự luận(Tập làm văn) đa số chỉ đạt được từ 2 hoặc 3 điểm. II/ NGUYÊN NHÂN : 1/ Cách dạy của giáo viên : Trong quá trình giảng dạy giáo viên chưa đảm bảo sự kết hợp giữa văn bản-Tiếng Việt-Tập làm văn. Giờ học văn bản, sự gợi mở giúp học sinh cảm thụ tác phẩm chưa đạt kết quả cao. Học sinh học thụ động buộc giáo viên phải thuyết giảng nhiều.Chính điều này làm tê liệt sự hào hứng học văn bản, các em không nắm được kiến thức văn chương, từ đó dẫn đến thiếu vốn kiến thức làm Tập làm văn. Giờ Tiếng Việt đòi hỏi phải dạy cho học sinh dùng được Tiếng Việt một cách chính xác để giao tiếp,để cảm thụ được cái đẹp ngôn từ và có cách diễn đạt tốt trong văn bản.Nhưng trong tiết học,học sinh chưa được tận dụng tối đa các tình huống giao tiếp.Thời gian thực hành, luyện tập chưa nhiều.Từ đó dẫn đến tình trạng học sinh viết còn sai chính tả, dùng từ đặt câu chưa đúng ngữ pháp. Đây là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng bài làm văn. Giờ tập làm văn học sinh học chưa được học đến nơi đến chốn, thực tế sách giáo khoa vẫn còn có một số bài trừu tượng, khó hiểu đối với học sinh. Trong một tiết học, phần luyện tập quá ít thời gian. Hơn nữa giáo viên không nhắc lại kiến thức để củng cố cho học sinh. Việc ra đề kiểm tra nhiều khi cũng chưa đúng mức,thường là yêu cầu quá cao, hoặc vấn đề quá quen thuộc. Việc chấm bài cũng có thiếu sót,thường là giáo viên chỉ cho học sinh mức điểm trung bình.Có những bài chỉ chấm điểm mà không có một lời phê nào. Một tiết trả bài làm văn chưa được đầu tư cao.Vì thế học sinh không có cơ hội rút kinh nghiệm nhiều. 2/ Cách học của học sinh: Phần lớn học sinh chưa có thói quen chuẩn bị bài trước khi lên lớp.Các sự kiện, hiện tượng văn học được cung cấp ở lớp, học sinh chưa chịu khó tìm hiểu thêm để mở rộng kiến thức. Đối với môn Tập làm văn, học sinh học tập một cách máy móc.Trước một đề bài, các em ít khi nghiên cứu đề, chỉ đọc loáng thoáng và cứ thế học sinh phóng bút viết tràng giang đại hải, không chốt lại ở một điểm nào. Nhiều bài làm văn chưa đạt yêu cầu do chưa biết cách viện dẫn, dẫn chứng nghèo nàn,thiếu chính xác và không theo trình tự. Trong nghị luận văn học thì chưa có sự phân biệt về thể loại. Các em thiếu năng lực phân tích cần thiết, chưa thấy được cái hay, cái đẹp có thật trong văn chương do không chú ý trong giờ đọc hiểu văn bản.Vì vậy khi làm văn phân tích chỉ là sự suy diễn một cách nôm na. Còn nghị xã hội các em làm bài đại khái chung chung. Khi làm bài, học sinh chưa có ý thức sắp xếp các luận cứ, luận điểm theo một trình tự nhất định. Đa số bài làm văn thấp điểm còn do chưa biết cách chuyển đoạn chuyển ý.Và không làm theo trình tự hướng dẫn các bước: Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý . Bên cạnh đó cũng còn có nhiều bài làm câu què, câu cụt, câu tối nghĩa khiến giáo viên phải phán đoán, suy xét mới hiểu nổi. Tình trạng mắc lỗi về chính tả, ngữ pháp và dùng từ sai cũng khá phổ biến. Có bài suốt từ mở đầu đến kết thúc không có một dấu câu nào. Như vậy làm sao mà bài văn của học sinh đạt điểm cao được. III/ GIẢI PHÁP : 1/ Cách giảng dạy của giáo viên : - Đổi mới cách giảng dạy theo phương pháp tích cực : + Tăng cường tổ chức các hoạt động của học sinh. +Chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp học và tự học một cách chủ động. +Tăng cường học tập độc lập cá nhân phối hợp với hoạt động nhóm. + Học sinh tự đánh giá được năng lực và kết quả làm văn của mình. - Giáo viên cần nắm chắc nội dung và phương pháp giảng dạy. Trong quá trình giảng dạy cần vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động của người học. Các bước lên lớp cần phải linh động dựa vào nội dung bài giảng và tình hình cụ thể của mỗi lớp. Quá trình dạy Tập làm văn, giáo viên chú ý đến hoạt động giao tiếp. Đây là một biện pháp phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong việc tạo lập văn bản. Cần phát huy vai trò chủ thể của học sinh một cách thực sự. Các tiết học cần được học sinh chuẩn bị bài tốt để tham gia vào hoạt động nhận thức và thực hành. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự khám phá các tri thức trong phần ghi nhớ.Từ điểm ghi nhớ mà cụ thể hoá bài đã học. Khi thiết kế giáo án giáo viên cần chú ý các điểm sau: - Phân bố cân đối thời gian giữa lý thuyết và thực hành, quan tâm nhiều tới các thao tác rèn luyện kỹ năng: nói, đọc, nghe, viết. - Giáo viên phải có sự đầu tư thực sự cho tiết dạy để nghiên cứu, tìm và lựa chọn những hoạt động thích hợp đối với từng bài dạy, từng tiết học. Không nên kì vọng có nhiều hoạt động diễn ra trong một tiết trên lớp. - Tương ứng với các hoạt động của giáo viên là hệ thống các hoạt động của học sinh. Học sinh là chủ thể làm chủ mọi thao tác, hành vi thái độ của mình.Trong giờ học không nên để học sinh rơi vào thế bị động hay thụ động.Trong tiết học học sinh tự lựa chọn phương pháp lĩnh hội, tiếp thu kiến thức. Tức là học sinh ghi nhiều hay ít, ghi chi tiết cụ thể hay theo mô hình.Cái đích cần đạt đến của tiết văn nghị luận là học sinh tiếp thu tri thức lý thuyết,biến nó thành vốn riêng để điều chỉnh thao tác và kỹ năng tạo lập văn bản. - Khi thiết kế giáo án tránh áp đặt làm giảm khả năng suy nghĩ, sáng tạo của học sinh. Diễn biến của tiết dạy luôn ở trạng thái động tuỳ thuộc vào các yếu tố: Trình độ người học,thái độ tâm lý người dạy, điều kiện đồ dùng dạy học…Cùng một giáo viên, một giáo án ,nhưng nếu dạy ở hai lớp khác nhau thì sẽ có hai tiết dạy với những tình huống cụ thể khác nhau. Thậm chí các phương án trả lời sáng tạo của học sinh có thể giúp giáo viên bổ sung, điều chỉnh những kiến thức trong bài giảng của mình. - Trong tiết dạy chú ý đến hoạt động nhóm để phát huy sự sáng tạo tập thể. Bên cạnh đó cần đẩy mạnh hoạt động độc lập giúp học sinh phát huy điểm mạnh, người dạy có điều kiện đánh giá chính xác từng học sinh. - Tận dụng tiết dạy tự chọn để củng cố, nâng cao kiến , kỹ năng cho học sinh. 2/ Giáo viên yêu cầu học sinh nắm vững những điểm cơ bản trong văn nghị luận: a. Văn nghị luận: Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc một tư tưởng,quan điểm nào đó. Các kiểu văn nghị luận: Nghị luận xã hội. Nghị luận văn học. Điều quan trọng nhất của văn nghị luận là luận điểm, luận cứ, lập luận: Là cách nêu luận cứ để dẫn Luận cứ Lập luận đến luận điểm.Luận điểm - Trả lời câu hỏi: nói cái gì? - Lí lẽ là những đạo lí,lẽ sẽ nêu ra điều mà ta gọi là phải đã được thừa nhận,nêu + Suy lí. luận điểm. Là lý lẽ,dẫn ra là được đồng tình. + quy nạp. - Dẫn chứng là sự việc,số + Diễn dịch. liệu,bằng chứng để xác +So sánh. nhận cho luận điểm. + Nhân quả. chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm. - Lập luận bao gồm: - Luận điểm được thể hiện + tổng-phân-hợp. ngay trong: … a/ Nhan đề(Đầu đề,tựa đề) b/ Dưới dạng câu khẳng định nhiệm vụ chung. Là ý kiến thể hiện tư tưởng,quan điểm của bài văn. - Trong một văn bản nghị a/ Lí lẽ: Lưu ý: luận có thể có: - Đặt câu hỏi:như thếnào? Khái niệm lập luận a/ Luận điểm chính:Tổng vì sao?đúng hay sai? bằng dùng thay cho thuật quát,bao trùm toàn bài. cách nào? ngữ:luận chứng. b/ Luận điểm phụ:Là bộ b/ Dẫn chứng: phận của luận điểm chính. - Dẫn chứng lịch sử. - Dẫn chứng thực tế. - Dẫn chứng thơ văn. - Các thao tác nghị luận thực sự gồm:Giải thích,chứng minh,bình luận,phân tích. - Luận điểm,luận cứ là nội dung của bài văn thì lập luận tạo nên giá trị về hình thức của bài văn. - Trình tự dạy văn nghị luận là: + Tìm hiểu chung, cách làm bài. + Thực hành nói. + Thực hành viết. b/ Phương pháp làm bài văn nghị luận: Cần cho học sinh thực hành các kỹ năng: - Tìm hiểu đề. - Lập dàn ý. - Viết theo dàn ý(Tức là viết hoàn chỉnh) - Kiểm tra lại bài viết. Trong các bước trên,giáo viên cần chú trọng cho học sinh bước lập dàn ý: Dàn ý được hình thành trên cơ sở bước tìm hiểu đề thấu đáo. Dàn ý tránh cho bài làm trùng ý, thiếu sót ý, bố cục không có sự cân đối. Dàn ý là nội dung sơ lược của bài văn. Nó giống như bản thiết kế một ngôi nhà. Lập dàn ý sẽ đạt được thuận lợi sau: + Thấy được mức độ giải quyết vấn đề nghị luận. Tránh được tình trạng bài làm xa đề, lạc đề. + Có điều kiện suy nghĩ sâu xa, toàn diện hơn để điều chỉnh và phát triển hệ thống luận điểm; cân nhắc bỏ bớt ý trùng lặp, bổ sung ý chưa có, sắp xếp các ý theo trình tự hợp lí. Tránh được tình trạng sót ý hoặc thừa ý. + Hình dung được hệ thống luận điểm, luận cứ của bài văn. Chủ động phân phối thời gian làm bài, phân lượng và dành thời gian thoả đáng cho trọng tâm củabài. Có dàn ý tốt khi viết thành bài văn hoàn chỉnh sẽ không vướng vấp. Dàn ý in đậm trong bài làm, đảm bảo cho sự thành công của bài văn nghị luận. Cho học sinh nắm vững hai phép lập luận quen thuộc là giải thích và chứng minh: Lập luận chứng minh Lập luận giải thích 1/ Mở bài: 1/ Mở bài: - Giới thiệu vấn đề(hoàn cảnh lịch sử, xã - Giới thiệu vấn đề. hội có liên quan đến vấn đề chứng minh ) - Nêu tầm quan trọng… - Nêu tầm quan trọng( vai trò ,ý nghĩa xã hội) của vấn đề chứng minh 2/ Thân bài : a. Giải thích ngắn gọn luận đề . b. Chứng minh lần lượt từng luận điểm: - Luận điểm 1 : +luận cứ (lí lẽ,dẫn chứng) 2/ Thân bài: a. Giải thích luận đề (Thường trả lời câu hỏi : như thế nào ? Có ý nghĩa gì ? ) b. Giảng giải vấn đề bằng lí lẽ để làm rõ Phân tích dẫn chứng, chuyển ý tầm quan tầm quan trọng hoặc tác dụng - Luận điểm 2: Lập luận dẫn dắt đưa dẫn của vấn đề đối với cuộc sống (Thường là chứng. Phân tích dẫn chứng . … trả lời câu hỏi : Tại sao? Vì sao?) + Luận cứ 1(Lí lẽ, dẫn chứng) + Luận cứ 2(Lí lẽ, dẫn chứng) c. Hướng người đọc suy nghĩ và hành động đúng theo vấn đề (Thường là trả lời 3/ Kết bài : câu hỏi: Phải làm gì? Làm như thế nào?) - Nêu nhận xét chung về vấn đề. 3/ Kết bài : - Phát triển mở rộng vấn đề ,nêu phương - Nhấn mạnh cách hiểu đúng vấn đề. hướng áp dụng vào cuộc sống. - Liên hệ thực tế, rút ra bài học. * Học sinh cần phân biệt kiểu bài bình luận với giải thích, chứng minh: - Bình là đánh giá xem xét một sự việc đúng hay sai, tốt hay xấu. Luận là bàn thêm nhằm bổ sung, phát triển cái đúng, uốn nắn cái sai, hướng dẫn thái độ hành động đúng. - Vậy bình luận là phương pháp lập luận dùng cách bàn bạc, phân tích giúp người đọc, người nghe có hiểu biết chính xác, sâu rộng một vấn đề nào đó; đồng thời giúp người đọc, người nghe có thái độ hành động đúng đối với vấn đề đó. - Giáo viên hướng dẫn học sinh phân biệt: + Điểm giống nhau: Đều dùng phương pháp nghị luận để làm bài. Đều sử dụng lí lẽ, dẫn chứng. + Điểm khác nhau: Đề giải thích, chứng minh thường đưa ra những vấn đề đúng. Thường dùng lí lẽ, dẫn chứng phù hợp với phương pháp lập luận. Đề bình luận có thể có những vấn đề đúng, hoặc vừa đúng vừa sai, hoặc sai hoàn toàn. Kiểu bài này người viết phải bày tỏ ý kiến, quan điểm rõ ràng. Cần có mở rộng vấn đề toàn diện, triệt để. Nói cách khác bài văn bình luận mang tính chất tổng hợp và ở mức độ cao hơn so với giải thích, chứng minh. - Phương pháp làm bài văn bình luận: + Bài bình luận có hai phần: Bình và Luận. Phần bình tìm hiểu, xác định được đúng-sai, từ đó phát biểu nhận xét, đánh giá và bày tỏ thái độ bằng lí lẽ dẫn chứng cụ thể. Có một số khả năng xuất hiện trong phần bình như sau: Vấn đề đúng hoàn toàn Vấn đề vừa đúng vừa sai Vấn đề sai hoàn toàn -Đúng như thế nào? - Chỉ rõ điểm đúng - Sai như thế nào? Khía cạnh 1,2… + Đúng trong trường hợp Khía cạnh 1,2… Dùng lí lẽ dẫn chứng nào? Thời điểm nào? Lí lẽ dẫn chứng làm rõ làm rõ. + Đúng với người nào? -Tại sao đúng? -> Lí lẽ, dẫn chứng làm rõ Khía cạnh 1,2… Khía cạnh 1,2… - Vì sao đúng? Lí lẽ dẫn chứng làm Dùng lí lẽ dẫn chứng - Vì sao sai? Chỉ rõ điểm rõ. làm rõ. - Tại sao sai? sai -> Lí lẽ dẫn chứng làm rõ. Phần luận cần xem xét vấn đề đúng- sai trong phạm vi , giới hạn nào? Cần bổ sung, mở rộng thêm như thế nào? Rút ra bài học gì thuộc quan điểm lí luận hoặc đạo đức trong cuộc sống.Có thể bàn luận theo các hướng : - Hoàn cảnh khác nhau. - Quan điểm trái ngược nhau. - Mở rộng liên hệ với vấn đề khác. - Ý nghĩa, tác dụng của vấn đề nhằm xây dựng nhận thức, thái độ và đề ra hành động đúng. Tóm lại: Học sinh sử dụng các thao tác nghị luận: Giải thích, chứng minh, bình luận và phân tích,tổng hợp để làm tốt kiểu bài nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống ; và nghị luận về tư tưởng đạo lí. Ví dụ một đề bài như sau :Suy nghĩ về đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”. Đề thuộc kiểu nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí. Học sinh có thể vận dụng các thao tác nghị luận đã hướng dẫn ở trên để làm bài. Học sinh có thể lập dàn ý theo phép lập luận giải thích như sau : a. Mở bài: - Vấn đề nghị luận là lòng nhớ ơn. - “Uống nước nhớ nguồn”. Là lời khuyên có ý nghĩa giáo dục về nhân cách làm người của ông cha: luôn trân trọng biết ơn những người đi trước đã đem lại thành quả cho mình hưởng thụ. b. Thân bài: - Thế nào là “Uống nước nhớ nguồn”?. Ý nghĩa. + Uống nước: Thừa hưởng thành quả lao động, hoặc đấu tranh cách mạng của người đi trước. + Nguồn: nơi xuất phát, nguồn gốc của thành quả. + Ý nghĩa chung: khi hưởng thụ thành quả lao động nào đó, phải nhớ và đền ơn - Tại sao “Uống nước” cần phải “Nhớ nguồn”? + Mỗi thành quả được hưởng là kết quả của công sức của một ai đó tạo nên. + Lòng biết ơn là một tình cảm cần thiết của con người biết coi trọng đạo lí dân tộc. Tình cảm ấy giúp con người biết quý trọng những gì được hưởng, biết sử dụng có hiệu quả, biết sống xứng đáng. Thiếu lòng biết ơn con người sẽ trở nên ích kỷ, xấu xa. + Dẫn chứng- Biết ơn các thế hệ ông cha những chiến sĩ cách mạng đã tạo nên đất nước tự do, giàu đẹp có lịch sử lâu đời, nền văn hoá rực rỡ… - Biết ơn cha mẹ, thầy cô giáo… - “Nhớ nguồn” phải thể hiện như thế nào? + Giữ gìn bảo vệ thành quả của người đi trước. + Sử dụng thành quả lao động đúng đắn , tiết kiệm. + Có ý thức, hành động “Đền ơn đáp nghĩa” thiết thực. Có tinh thần phát huy thành quả đã đạt được, tạo ra những thành quả mới làm phong phú thành quả lao động của dân tộc. c. Kết bài: Nhấn mạnh ý nghĩa của câu tục ngữ. * Học sinh phân biệt hai kiểu nghị luận văn học: Nghị luận về tác phẩm truyện(đoạn trích) Nghị luận về một đoạn thơ (bài thơ) -Trình bày nhận xét, đánh giá về nhân vật, -Trình bày nhận xét, đánh giá về nội sự kiện ,chủ đề và nghệ thuật của một tác dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn phẩm cụ thể. thơ ấy. -Xuất phát từ ý nghĩa của cốt truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật -Thể hiện qua ngôn từ,hình ảnh,giọng trong tác phẩm. điệu -Nhận xét, đánh giá phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ, lập luận thuyết phục; bố cục -Bố cục mạch lạc,rõ ràng,lời văn gợi mạch lạc, lời văn chuẩn xác gợi cảm. cảm,thể hiện rung động,tình cảm chân thành của người viết * Cách làm bài nghị luận về văn học: - Tìm hiểu tác giả, xuất xứ, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. - Phân tích tác phẩm theo phương pháp: Tổng _ Phân _ Hợp : +Tổng : Cảm nhận tinh thần chung, ấn tượng chung của tác phẩm về cả hai mặt nội dung và nghệ thuật đặc sắc theo đặc điểm của hai kiểu nghị luận trên. + Phân: Phân tích từng phần, từng khía cạnh, từng chi tiết, hình ảnh của tác phẩm về cả nội dung và nghệ thuật theo tinh thần của bướcmột (tổng ) theo các cách: . Cắt ngang:theo bố cục, theo câu, nhóm câu, khổ thơ… . Bổ dọc: chia tác phẩm ra từng khía cạnh về nội dung, nghệ thuật theo chiều dài tác phẩm. + Hợp : Tổng hợp những nét chủ yếu đã phân tích. Nêu nhận xét,đánh giá rộng hơn, sâu hơn. -> Cấu trúc : Bài văn Tổng Mở bài Phân Thân bài Hợp Kết luận Đoạn văn Mở đoạn Thân đoạn Kết đoạn. Thao tác chủ yếu là diễn dịch, hoặc quy nạp . Các cách làm văn nghị luận trình bày trên đây tuỳ theo kiểu bài nghị luận ở lớp 9 mà giáo viên giúp học sinh dễ dàng hiểu va làm được bài văn nghị luận nói chung. Làm văn (nói đúng hơn là khả năng nói, viết, năng lực biểu đạt nói chung) là một năng lực tổng hợp, là kết quả của một quá trình giáo viên bền bỉ, dày công hướng dẫn học sinh về văn nghị luận từ lớp 7 đến lớp 9. 3/ Bước chấm bài, trả bài: a/ Chấm bài: Chấm bài là khâu quan trọng để đánh giá kết quả một bài Tập làm văn cũng như hiệu quả học tập của học sinh. Nội dung của khâu này bao gồm: Đọc, sửa lỗi, phê, ghi điểm. Giáo viên dựa vào đáp án, biểu điểm để chấm bài. Khi chấm cần có thái độ tôn trọng bài làm của học sinh. Điều này thể hiện qua cách sửa lỗi, lời phê và sự công bằng trong ghi điểm. Giáo viên nên chấm liền một mạch, nhưng cũng không nên vội vàng trong qua trình chấm.Giáo viên phải sửa lỗi về chính tả, từ, câu và đánh dấu những ý hay của học sinh. Lời phê cần ngắn gọn. Đặc biệt chú ý tới tính độc đáo của bài văn vì đó là sự sáng tạo của học sinh. Nếu bài làm văn của học sinh mà không có lời phê, các em sẽ không đánh giá được khả năng làm bài của mình.Vì vậy lời phê tuy ngắn gọn nhưng phải chứa đủ lượng thông tin để học sinh biết được ưu khuyết điểm,rút kinh nghiệm cho bài làm sau.Cách ghi điểm cần cân nhắc kĩ, tránh sửa đi sửa lại. Có thể nói tình cảm, lương tâm nghề nghiệp của người giáo viên văn được thể hiện rõ nhất khi ngồi trước bài văn của học sinh với cây bút đỏ trên tay. b/ Trả bài: Thường được tiến hành theo trình tự: - Chép đề . - Tìm hiểu đề. - Hướng dẫn học sinh xây dựng dàn ý (Đáp án) - Nhận xét ưu khuyết điểm trong bài làm của học sinh. - Phân tích và sửa chữa lỗi về bố cục, chính tả, ngữ pháp, cách trình bày luận điểm. Đây là khâu có vai trò quan trọng trong việc khắc sâu lý thuyết và kỹ năng thực hành. Giáo viên cần chú ý những lỗi phải sửa và phân phối thời gian cho các loại lỗi. - Trả bài và cho học sinh đọc các bài làm khá để biểu dương khích lệ. Tuy thời gian một tiết trả bài là rất ngắn, nhưng giáo viên không nên quên sử dụng biện pháp hỏi-đáp để học sinh chú ý tập trung hơn. 4/ Cách học của học sinh : Học sinh phải nắm vững lí thuyết văn nghị luận để thực hành viết bài tốt. Bên cạnh đó học sinh phải có vốn kiến thức đầy đủ và chính xác.Bao gồm kiến thức sách vở và kiến thức đời sống xã hội. Kiến thức sách vở là bao gồm kiến thức về văn học, đạo đức và các môn khoa học khác. Kiến thức về đời sống chính là vốn sống, vốn hiểu biết thực tế. Muốn có hai lĩnh vực kiến thức đó học sinh phải tích cực, tự giác học tập. Phải rèn luyện kỹ năng thực hành Tiếng Việt, nhằm mục đích để viết câu, dùng từ, dựng đoạn cho chuẩn mực. Học sinh phải vận dụng mọi thao tác của trí tuệ như: Phân tích, tổng hợp, liên tưởng, so sánh, đối chiếu.Thao tác này dẫn người đọc đi từ ý này đến ý khác một cách lôgíc. Học sinh cần đặc biệt chú ý rèn luyện các kỹ năng Tập làm văn nghị luận: - Kỹ năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý. - Kỹ năng lập luận. - Kỹ năng diễn đạt và vận dụng luận chứng. Bài văn nghị luận hoàn chỉnh đòi hỏi trình bày mạch lạc, rõ ràng.Thể hiện ở hệ thống luận điểm, luận cứ, ở cách phân đoạn và chuyển ý. Lời văn giản dị tự nhiên. Câu văn ngắn gọn, trong sáng, hình ảnh sinh động, dẫn chứng toàn diện tiêu biểu. * Những yêu cầu để viết một bài văn nghị luận hay: Một bài văn hay phải có những cái đúng sau: - Đúng đầu đề. - Viết đúng thể loại, đúng ngôn ngữ. - Viết đúng kiến thức, đúng phương pháp, đúng quan điểm lập trường. - Bài viết phải gây ấn tượng cho người đọc. - Người viết phải tự đánh giá được chất lượng bài làm của mình. Học sinh phải nhớ rằng học tốt văn nghị luận không phải chuyện dễ. Quốc gia nào cũng vậy, môn văn là môn học số một của nền học vấn quốc gia ấy. Mỗi dân tộc muốn phát triển thì phải duy trì và phát triển bản sắc văn hoá của mình. Trong đó ngữ văn là linh hồn và trí tuệ. Vì vậy học sinh phải quyết tâm học cho thật tốt văn nghị luận. Muốn vậy lên lớp phải chú ý nghe giảng,biết cảm nhận cái hay,cái đẹp của bài học. Học sinh cần thuộc lòng nhiều câu thơ, đoạn thơ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao… Học thuộc lòng giúp cho sự “Võ trang” kiến thức và khả năng sáng tạo.Đây la một phương pháp rèn luyện trí nhớ, bởi vì “Văn ôn võ luyện”. Người học sinh giỏi văn cần có cuốn sổ ghi chép, tích luỹ kiến thức. Thêm vào đó người học phải chăm đọc sách, đọc sách giáo khoa, đọc sách tham khảo. Đọc sách để mở rộng kiến thức, nhưng phải đọc có ý thức.Đỗ Phủ đã từng nói: “ Đọc sách muôn cuốn Hạ bút như có thần” Văn nghị luận là tiếng nói của trí tuệ, nó thuyết phục người đọc, người nghe bằng lí lẽ, bằng cách lập luận. Bởi vậy văn nghị luận là kỹ năng trình bày lí lẽ nhằm khẳng định một ý kiến, làm sáng tỏ một vấn đề. Nhưng để viết được một bài văn nghị luận hay thì cần phải suy nghĩ nhiều, tập viết nhiều theo hướng dẫn của giáo viên. Tóm lại muốn giỏi văn nghị luận, học sinh phải thực sự yêu thích môn văn. Phải tha thiết yêu cuộc sống, yêu cái đẹp; phải biết vui buồn trước cuộc sống của con người. Toán học là trụ cột của khoa học tự nhiên,văn học là trụ cột của khoa học xã hội. Một khi đã học tốt toán,văn thì các môn khác chắc chắn sẽ học tốt. Người học có quyết tâm và trải qua khổ luyện thì hiệu quả sẽ cao. 5/ Kết quả: Trong những năm qua nhờ sử dụng các giải pháp như trên tôi đã thu được kết quả bước đầu như sau : - Bản thân đã hiểu sâu hơn về thể văn nghị luận theo tính tích hợp từ lớp 7 đến lớp 8 và lớp 9. - Chất lượng cuối năm của học sinh thường đạt trên 90 %. - Học sinh giỏi các cấp hàng năm đều đạt theo chỉ tiêu đăng kí ở đầu năm học. - Quan trọng hơn cả là học sinh nắm vững phương pháp làm văn nghị luận , các em biết cách trình bày nhận xét, đánh giá về một vấn đề xã hội theo một phương thức lập luận có sức thuyết phục.Và các em cũng đã biết cảm thụ tác phẩm văn chương , cảm nhận được giá trị nội dung tư tưởng , nghệ thuật của tác phẩm. C/ KẾT LUẬN : Nâng cao chất lượng dạy và học nói chung,Tập làm văn nghị luận nói riêng đang là mối quan tâm của nhiều người. Làm sao để học sinh học tốt văn nghị luận vẫn là vấn đề thời sự của khoa học cần phải thảo luận thêm. Trong thực tế nhờ những chuyển biến trong quan điểm dạy học mới,nhiều giáo viên đã nhận thức rõ được phương pháp dạy học mới . Đó là phát huy tính tích cực chủ động trong giờ học.Giờ học dân chủ hơn, học sinh được thực hành giao tiếp nhiều hơn. Học sinh nắm vững hai kiểu nghị luận chủ yếu: Nghị luận xã hội và nghị luận văn học.Học sinh được sử dụng nhiều thao tác trong một bài văn nghị luận.Học sinh biết kết hợp các phép lập luận để làm sáng tỏ một vấn đề. Đồng thời rèn luyện tốt kỹ năng nói, viết. Văn nghị luận lớp 9 có sự kế thừa, nâng cao kiến thức đã cung cấp ở lớp 7,8. Đây là tinh thần tích hợp dọc trong nội bộ phân môn Tập làm văn. Các đề nghị luận luôn yêu cầu học sinh nhận xét, đánh giá theo quan điểm riêng. Nó được thể hiện ở các cụm từ:Trình bày suy nghĩ về…Cảm nhận về…Bàn về… Phương châm quan trọng trong dạy-học văn nghị luận là phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, học sinh viết đúng,viết hay văn nghị luận. Tính tích cực học tập của học sinh biểu hiện ở những dấu hiệu như :hăng hái trả lời câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn ; thích phát biểu ý kiến, hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa rõ. Chủ động vận dụng kiến thức, hoàn thành các bài tập … Học sinh phải nắm được điều cần tránh và điều cần thực hiện như sau: + Điều cần tránh: Không viết khô khan, cộc lốc. Không rơi vào lỗi hành văn bay bướm, văn hoa mà trống rỗng, cũ mòn. + Điều cần thực hiện : Bài văn có ý tứ sâu xa phong phú mà lời lẽ lại ngắn gọn, hàm súc. Lời văn vừa mạch lạc, trong sáng vừa gợi cảm, có sức thuyết phục. Văn viết có cái mới mẻ qua một phát hiện độc đáo, một liên tưởng sâu, tinh tế, một hình ảnh đặc sắc, một so sánh bất ngờ lí thú. Học sinh tiến đến một bước cao hơn là tự xây dựng cho mình một bút pháp, một phong cách riêng. Giáo viên phải hướng dẫn học sinh học Tập làm văn kết hợp với văn bản và Tiếng Việt. Kiến thức trong sách giáo khoa là cơ sở, nó được cô đọng trong phần ghi nhớ. Học sinh cần phải được bồi bổ thêm bằng kiến thức đời sống và kiến thức tiếp nhận được qua tích luỹ. Học sinh khi viết văn phải có cảm giác về câu văn chuẩn và hay. Bên cạnh đó,sự đổi mới phương pháp còn đòi hỏi người giáo viên phải có trách nhiệm, có tâm huyết để làm cho giờ dạy “Trẻ mãi không già”. Để rút kinh nghiệm và nâng cao phương pháp giảng dạy, Tổ chuyên môn cũng cần thường xuyên dự giờ, thao giảng các tiết Tập làm văn nghị luận. Không có một kinh nghiệm nào là duy nhất có thể chung cho mọi người. Không có một phép lạ dễ dàng nào để đi đến sự thành công. Tất cả các giáo viên Ngữ văn đều đã và đang dạy học một cách say sưa, kiên trì. Với những suy nghĩ trong đề tài này, người viết muốn trao đổi cùng đồng nghiệp để nhằm học hỏi và nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Vì vậy kính mong các cấp chỉ đạo và đồng nghiệp vui lòng đóng góp ý kiến để kinh nghiệm được hoàn thiện hơn./
- Xem thêm -