Tài liệu Skkn phương pháp dạy học thể loại thơ trong chương trình văn học nước ngoài ở trường trung học cơ sở

  • Số trang: 24 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 288 |
  • Lượt tải: 1
tranvanhung

Tham gia: 20/02/2016

Mô tả:

Teân ñeà taøi: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THỂ LOẠI THƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI : Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học những năm gần đây, việc dạy Văn học nước ngoài (VHNN) ở trường trung học cơ sở (THCS) cũng bắt đầu được quan tâm và có một vị trí xứng đáng trong chương trình Văn học. Cùng với Văn học Việt Nam, VHNN đã góp phần không nhỏ trong việc cung cấp kiến thức văn chương thế giới, giúp cho học sinh được tiếp xúc với văn học của những miền đất khác lạ về truyền thống, phong tục tập quán, đồng thời bồi dưỡng cho các em những tình cảm, những rung động thẩm mỹ có tính chất vĩnh cửu của loài người. Nếu như trước đây, vấn đề phương pháp giảng dạy VHNN dường như chỉ mang tính chất tự phát, thì giờ đây đã xuất hiện một số bài viết, một số giáo trình đề cập vấn đề phương pháp trong giảng dạy VHNN. Khi xem xét các tài liệu nói trên, tôi nhận thấy vấn đề giảng dạy VHNN mới được đề cập như một giải pháp tình thế, xuất phát từ nỗi bức xúc về chất lượng dạy và học, và có lẽ đấy mới chỉ là những tín hiệu ban đầu khiến những ai có tâm huyết phải trăn trở suy tư. Thực trạng giảng dạy và học tập phần VHNN, đặc biệt là phần Thơ nước ngoài ở trường THCS đã khiến chúng ta thực sự lo lắng băn khoăn. Người dạy đã gặp nhiều khó khăn khi tìm kiếm tài liệu tham khảo, xác định thực chất của phương pháp dạy thơ nước ngoài. Dạy thơ nước ngoài có những điểm gì giống và khác dạy thơ Việt Nam, đó là câu hỏi mà nhiều giáo viên đang cần lời giải đáp. Những hiện tượng thực tế ấy đã dẫn tới sự Trang 1 bấp bênh, không đồng đều về chất lượng day học VHNN trong mỗi bài, mỗi cá nhân giáo viên, mỗi trường, mỗi lớp. Xét góc độ khác, các tác phẩm VHNN được đưa vào chương trình THCS phần lớn là những sáng tác của các bậc thầy văn chương, đỉnh cao của kho tàng văn học nhân loại. VHNN tuy là phần khó dạy nhưng nếu tìm ra cách dạy thích hợp lại dễ đạt hiệu quả cao. Sức hấp dẫn của cái mới từ những miền đất xa xôi, nhiều bí ẩn của phương Đông, phương Tây luôn luôn là mảnh đất màu mỡ chắp cánh cho trí tưởng tượng, sức khám phá của thầy và trò khi được tiếp xúc với văn chương thế giới. Nếu không có những phương pháp thích hợp để người giáo viên có thể dựa vào đó mà vận dụng sáng tạo nhằm giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp, khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm … thì mọi kiến thức VHNN, những áng thơ bất hủ của các thi nhân vĩ đại như Lí Bạch, Đỗ Phủ, Tagor … nhiều khi lại vô tình trở thành gánh nặng hoặc sự thờ ơ lãnh đạm của giáo viên và học sinh trong mỗi giờ lên lớp. Cho nên cần phải đặt vấn đề giảng dạy VHNN trong một hệ thống lý luận về phương pháp dạy học VHNN ở trường THCS một cách chính thống và trong sự đổi mới về phương pháp dạy học Văn học hiện nay. Bởi lẽ phương pháp dạy học VHNN tuy cùng nằm trong một hệ thống chung về các phương pháp dạy học, nhưng do những nét riêng biệt của VHNN nên bên cạnh những tương đồng, còn có những điểm khu biệt mang tính chất đặc trưng. Chính vì thế, tìm ra một phương pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng giảng dạy VHNN, đặc biệt là thơ nước ngoài là vấn đề cần thiết tuy có nhiều khó khăn phức tạp. Thực hiện được mong muốn trên, những người nghiên cứu không chỉ cần có năng lực tổng hợp ( như kiến thức về VHNN, trình độ ngoại ngữ, văn hóa, triết học …) mà còn cần cả thời gian tìm hiểu, thử nghiệm để rút ra những kết luận xác đáng, đủ độ tin cậy. Trang 2 Trong đề tài này, với trình độ còn hạn chế của mình, tôi mới chỉ bước đầu tìm hiểu phương pháp giảng dạy thể loại Thơ trong chương trình VHNN ở trường THCS, từ đó đề ra một số biện pháp có tính chất lí thuyết nhằm góp phần mở ra một hướng dạy thể loại Thơ nước ngoài theo phương pháp mới (trên cơ sở kế thừa và phát huy những phương pháp tốt đã được sử dụng trước đây). II/ THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI. 1. Thuận lợi - Được sự động viên của BGH nhà trường luôn tạo mọi điều kiện để giáo viên phát huy sáng tạo trong giảng dạy. - Được sự góp ý của đồng nghiệp. - Tài liệu sách tham khảo hiện nay khá nhiều. - Kinh nghiệm thực tế đúc kết trong những năm dạy học của bản thân. 2. Khó khăn - Là trường Bán công nên đầu vào học sinh yếu, trung bình chiếm số lượng khá lớn, học sinh khá giỏi ít. - Một số học sinh ý thức học tập chưa cao, không thích học môn Ngữ Văn, học tập còn mang tính đối phó. - Sĩ số lớp đông, thời gian có hạn, giáo viên không thể kiểm tra vở soạn và khả năng tiếp thu thường xuyên, liên tục được. 3. Số liệu thống kê Năm học 2006 – 2007 Trang 3 Lớp 74 Điểm trên trung bình Tổng số HS 50 8-10 3 5- 6,5-7,9 11 (+) 6,4 18 32 Điểm dưới trung bình % 64 0- 3 - 4,9 13 2,9 5 (+) 18 % 36 III/ NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài : Có giáo viên cho rằng : đối với Thơ nước ngoài, cách dạy hay nhất là cho học sinh học thuộc lòng bài thơ và ghi chép những lời văn mà giáo viên sẽ đọc cho các em trong quá trình diễn giảng và bình chú bài thơ. Đó là một thực tế đáng buồn. Bình tâm suy nghĩ, tôi thấy một trong những nguyên nhân quan trọng khiến giáo viên lúng túng khi dạy thơ nước ngoài là họ chưa xác định được thực chất của phương pháp dạy học Thơ nước ngoài : Phương pháp dạy học thơ nước ngoài có những đặc điểm gì, khác với phương pháp dạy học thơ Việt Nam như thế nào ? Thơ là tiếng nói cảm xúc mà Thượng đế đã ban tặng cho loài người từ buổi sơ khai. Nhà thơ là một khái niệm không biên giới. Tác phẩm thơ của các thi nhân Việt Nam hay Trung Hoa, Ấn Độ, Pháp, Tây Ban Nha … đều có thể gặp nhau ở thể loại, cảm hứng, phương thức biểu thị cảm xúc, tâm trạng … Nhưng thơ còn là khúc tâm trạng của mỗi cá nhân, là nỗi niềm tâm sự của từng thi sĩ, là sự thể hiện cách cảm, cách nghĩ độc đáo của nhà thơ, được nuôi dưỡng trong cái nôi văn hóa, lịch sử của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Cho nên từ cái thế giới tưởng như rất riêng tư của nhà thơ, đặc biệt là những nhà thơ lớn, chúng ta lại hiểu được tâm hồn của một dân tộc, dấu ấn của một thời đại. Mặt khác, nếu coi phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện đạt tới một mục đích nhất định để giải quyết những nhiệm vụ nhất định thì Trang 4 tính mục đích là dấu hiệu cơ bản của phương pháp. Mục đích nào phương pháp ấy, phương pháp giúp con người thực hiện mục đích của mình. Vì thế, quan niệm phương pháp dạy học Thơ nước ngoài cũng hoàn toàn giống như phương pháp dạy thơ Việt Nam thì không hợp Lý, không giúp đạt được mục đích của việc dạy thơ nước ngoài. Mục đích của việc dạy VHNN, đặc biệt là Thơ nước ngoài là nhằm bồi dưỡng tình cảm và nhận thức thẩm mĩ cho học sinh, giúp các em tiếp nhận được những giá trị lung linh mới lạ của những tác phẩm vô giá trong kho tàng văn chương nhân loại. Qua những tác phẩm ấy, các em không chỉ được mở rộng tầm hiểu biết về văn chương nghệ thuật mà còn được bồi dưỡng những tình cảm cao thượng, tình yêu đất nước, con người, bồi dưỡng ý chí, nghị lực, niềm tin, nhân cách … Được thực hiện bằng những phương pháp tốt, việc phân tích, tìm hiểu những bài Thơ nước ngoài giúp cho học sinh không chỉ biết yêu cái đẹp của nghệ thuật văn chương mà còn “chạm” được vào thế giới tâm hồn, tình cảm của một dân tộc khác. Từ những suy nghĩ ấy, tôi xin đề xuất một số biện pháp giảng dạy thơ nước ngoài sau đây. 2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài Dạy và học Thơ nước ngoài ở trường THCS hiện nay là dạy và học qua các bản dịch. Chúng ta đều biết rằng ngôn ngữ mỗi dân tộc có những đặc điểm riêng biệt tạo nên mối quan hệ phong phú giữa lớp vỏ ngôn từ với nội dung biểu đạt. Mối quan hệ ấy lại gắn liền với đặc trưng của thi ca và không dễ chuyển dịch sang một ngôn ngữ khác. Bản dịch văn xuôi hoàn hảo đã khó, bản dịch thơ hoàn hảo lại càng khó hơn. Bởi lẽ thơ là sự dồn nén của cảm xúc, ngôn ngữ thơ chứa nhiều tầng ý nghĩa và thường “ý tại ngôn ngoại” nên sẽ rất khó tìm được sự tương đồng với một ngôn ngữ khác. Trang 5 Nhưng khó dịch thơ không đồng nghĩa với không thể dịch được thơ. Giống như một họa sĩ vẽ chân dung, dịch giả thơ có thể làm cho bản sao xấu hơn hay đẹp hơn, nhưng vẫn giữ được những nét giống nguyên mẫu và bằng tài năng của mình, có thể lột tả được cái thần của nguyên mẫu. Dịch không chỉ cần truyền đạt đúng và chính xác nội dung tác phẩm mà còn phải truyền đạt sao cho dễ hiểu đối với người đọc. Nghĩa là văn bản dịch phải đạt mức độ chuẩn xác và trong sáng về ngôn ngữ. Dạy Thơ nước ngoài trong nhà trường là dạy những tác phẩm nghệ thuật mà nội dung tác phẩm và tâm hồn thi sĩ được biểu hiện một cách đa dạng qua những hệ thống ngôn từ không phải bản ngữ. Vì thế, việc xem xét, nghiên cứu văn bản dịch sẽ là yếu tố đầu tiên cần được coi trọng và đưa vào hệ thống những phương pháp giảng dạy Thơ nước ngoài. a. Việc xem xét văn bản dịch Nói chung, các bản dịch Thơ nước ngoài được tuyển chọn trong SGK là những bản dịch có chất lượng khá tốt. Nhưng việc dịch thơ, nhất là thơ cổ điển, thì vì nhiều lí do không mấy dịch giả thực sự thành công. Cho nên cần phải thận trọng khi sử dụng những thành quả dịch thuật của họ. Theo tôi, trong trường hợp này, giáo viên cần nghiên cứu bản dịch ở hai mức độ : - Mức độ thứ nhất : Nghiên cứu kỹ bản dịch và nếu có điều kiện thì so sánh với nguyên bản để hiểu được tác phẩm một cách đầy đủ hơn. Từ đó, xác định xem người dịch đã có những đóng góp gì trong việc thể hiện cái hay, cái đẹp của bài thơ và những tình điệu đặc sắc của tâm hồn thi sĩ. Mặt khác, giáo viên xem xét bản dịch kĩ lưỡng sẽ phát hiện được những lời thơ dịch nào làm cho ý thơ không sát với nguyên bản, từ đó có định hướng đúng đắn để phân tích và bình giá một cách chính xác những “nhãn tự”, những “cảnh cú” trong tác phẩm thơ. Trang 6 - Mức độ thứ hai : Nghiên cứu để tìm ra cách thức sử dụng bản dịch trong giờ dạy như thế nào để học sinh vừa có thể hiểu bài thơ, vừa được bồi dưỡng thêm về kiến thức văn chương và năng lực cảm thụ tác phẩm. Trong những thao tác trên, người giáo viên có những khó khăn về hàng rào ngôn ngữ, vì thế thường chỉ có thể thực hiện được với những bản dịch thơ Đường có in kèm cả bản phiên âm Hán Việt và bản dịch nghĩa. Mặt khác, chỉ nên xem xét ở những câu chữ đắt nhất, có ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung, ý nghĩa của bài thơ. Nếu không, sẽ dễ rơi vào tình trạng biến giờ phân tích tìm hiểu bài thơ thành giờ đánh giá cách dịch thơ. VD : Khi hướng dẫn học sinh phân tích bài Tĩnh dạ tứ (cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) của Lí Bạch, giáo viên nên cho học sinh đối chiếu với nguyên văn và bản dịch nghĩa để thấy nếu chỉ phân tích ở bản dịch thơ thì ý nghĩa của câu (1) và (2) sẽ không đúng với cảm xúc, tâm trạng của chủ đề trữ tình. Nguyên văn : Sáng tiền minh nguyệt quang Nghi thị địa thượng sương. Dịch nghĩa : Ánh trăng sáng đầu giường Ngỡ là sương mặt đất Dịch thơ : Đầu giường ánh trăng rọi Ngỡ mặt đất phủ sương. Trong bản dịch, người dịch đã thêm hai động từ rọi và phủ làm biến thái nội dung câu thơ. Bài thơ Tĩnh dạ tứ được viết trong hoàn cảnh Lí Bạch đang sống xa quê hương. Trăng trong cảnh sống của nhà thơ khi ấy không bao giờ chỉ thuần là cảnh. Từ trăng sang sương đã thể hiện một khoảnh khắc suy tư của thi sĩ. Sự quan sát bằng thị giác đã chuyển thành sự cảm nhận mang màu sắc tâm trạng : trăng sáng đẹp nhưng sao như lạnh Trang 7 lẽo cái lạnh của kẻ cô đơn xa nhà. Do đó, thêm bất cứ động từ nào cho trăng và đất đều là thừa và làm giảm mất ý vị trữ tình của bài thơ. Từ sự tìm hiểu này, chúng ta nhắc học sinh không nên lưu ý các từ rọi và phủ trong bản dịch thơ và hướng các em phân tích câu (1) và (2) từ bản dịch nghĩa. Cách xem xét văn bản dịch kiểu như trên có thể thực hiện ngay từ lúc bắt đầu thao tác phân tích bài thơ hoặc khi hướng dẫn học sinh phân tích những câu thơ có những từ ngữ cần xem xét. Trong việc xem xét bản dịch của các bài thơ Đường, chúng ta cần so sánh các bản dịch khác nhau của cùng một bài thơ. Mục đích so sánh không phải để xem xét khâu dịch mà để giúp học sinh hiểu và cảm thụ bài thơ một cách thấu đáo hơn. b. Liên hệ, so sánh với các tác phẩm khác Các tác giả, tác phẩm VHNN thường khá xa lạ với học sinh phổ thông. Lứa tuổi THCS không dễ dàng cảm nhận được bức tranh đời sống, bức tranh tâm trạng trong các tác phẩm VHNN. Vì thế, cho các em tiếp cận tác phẩm ở nhiều hướng khác nhau là một cách làm cần thiết. Một trong những hướng ấy là cho học sinh liên hệ, so sánh đối chiếu tác phẩm đang học với các tác phẩm khác cùng hoặc khác tác giả. Khi tiếp xúc với các tác phẩm Thơ nước ngoài, biện pháp so sánh này sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về tác giả, tác phẩm. VD : Khi dạy bài Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch, ta nên cho các em so sánh với bài dân ca Nam triều sau đây : Gió thu luồn qua cửa Tấm màn lụa bay tung. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Trang 8 Gửi tình theo ánh trăng. Có thể nói dân ca Nam triều (đầu TK V – cuối TK VI) đã ảnh hưởng rất sâu đến Lí Bạch. Nhiều bài thơ rất hay của Lí Bạch, trong đó có Tĩnh dạ tứ đã chịu ảnh hưởng của dân ca Nam triều. thực hiện thao tác so sánh, các em sẽ thấy cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lí Bạch đã có cách bộc lộ tâm sự khá độc đáo. Có thể tìm thấy nét độc đáo này trong câu thứ 3 và câu kết : Cử đầu vọng minh nguyệt Đê đầu tư cố hương Từ vọng mang sắc thái biểu cảm rõ hơn từ khán của dân ca Nam triều (ss: Ngưỡng đầu khán minh nguyệt). Hình ảnh cúi đầu nhớ cố hương trong thơ Lí Bạch cũng thể hiện một mối tình quê trĩu nặng hơn. Đó là một cách bộc lộ nỗi nhớ quê hương đến khắc khoải đau đớn chứ không nhẹ nhàng mông lung như trong câu kết của dân ca Nam triều (ss : Kí tình thiên lí quang). Biện pháp so sánh trong tiếp nhận tri thức bao giờ cũng góp phần làm nảy sinh những khám phá mới, từ đó giúp cho giáo viên có thể khắc sâu nhận thức cho học sinh một cách khá dễ dàng. VD : Khi dạy Xa ngắm thác núi Lư của Lí Bạch, giáo viên cho các em so sánh với bài Thác nước Lư Sơn của Từ Ngưng – một nhà thơ khác ở đời Đường. Bài thơ của Từ Ngưng cũng rất hay, hình ảnh thác nước Lư Sơn cũng rất độc đáo nhưng so với hình ảnh thác nước trong thơ Lí Bạch thì không lung linh lì ảo bằng. Trong Xa ngắm thác núi Lư, Lí Bạch đã kết hợp được một cách tài tình cái ảo và cái chân, cái hình và cái thần, tạo nên được cảm giác diệu kì từ hình ảnh thác nước. Còn hình ảnh thơ của Từ Ngưng thì dường như chỉ có cái hình mà thiếu mất cái thần, chỉ có cái chân mà Trang 9 chưa có sự lung linh của cái ảo … cách so sánh này vừa giúp học sinh khám phá thêm về bài thơ, vừa làm cho các em hiểu thêm về tác giả. Trong khi dùng biện pháp so sánh, giáo viên có thể cho các em so sánh các bài thơ của cùng một tác giả. VD : Khi dạy bài thơ Mây và sóng, chúng ta có thể so sánh với bài Buổi sơ khai trong tập thơ Trăng non, cũng của R. Tagor. Nếu như Mây và sóng thể hiện sâu sắc tình cảm hồn nhiên trong sáng của em bé với người mẹ thương yêu thì Buổi sơ khai lại là tiếng nói tâm tình của bà mẹ với đứa con yêu quý của mình. Mẹ ơi, con đến từ đâu vậy ? Mẹ đã nhặt được con ở tận nơi nào ? Đó chính là câu hỏi trẻ thơ muôn thuở mà Tagor đã lấy làm thi tứ. Người mẹ trong bài thơ đã nói cho bé biết em được sinh ra từ chính những nỗi niềm sâu kín, những thèm khát, những ước mơ của mẹ. Trong trái tim thương yêu của mẹ, con là hình ảnh của Chúa Đời, là bản thân cuộc sống, là niềm hạnh phúc, là sự kì diệu mà mẹ khó lí giải hết bằng lời. Bởi lẽ : Không biết sự kì diệu nào Đã chiếm lĩnh kho tàng trên cõi thế Và đặt vào đôi tay mảnh khảnh của mẹ đây. Những câu kết ấy của bài thơ Buổi sơ khai như cứ ngân vang mãi … Mây và sóng và Buổi sơ khai, hai bài thơ, hai cách thể hiện độc đáo, khi được đặt trong mối quan hệ mang dụng ý so sánh, sẽ giúp học sinh có thêm điều kiện để rèn luyện năng lực cảm thụ văn chương. Ở một trường hợp khác, khi dạy bài thơ Mây và sóng của R. Tagor, giáo viên có thể cho các em so sánh với bài thơ Em bé và mặt trăng của Trang 10 nhà thơ Huy Cận. Đây là một bài thơ không có trong chương trình Văn học THCS nên ta có thể trích đoạn : Mẹ là trăng, con bá cổ hôn, Con là trăng nở, mẹ ôm vào lòng. Mẹ đùa con dưới trang trong, Trăng cao con với mẹ bồng lên cao. Bé đã hái được trăng nào, Mà nghe lòng mẹ rào rào cánh trăng. Chỉ cần tiếp cận với những vần thơ như thế học sinh cũng dễ có sự liên hệ so sánh để thấy được sự độc đáo của mỗi nhà thơ. Xét về nhịp và tiết tấu, thể thơ lục bát với giai điệu mượt mà trong Em bé và mặt trăng thật khác với thể thơ văn xuôi giàu chất suy tư của Mây và sóng. Nhưng xét ở góc độ đề tài và chủ đề, hai bài thơ lại có sự tương đồng khi thể hiện chân lí vĩnh hằng về tình mẫu tử thiêng liêng cao đẹp. Nói tóm lại, có thể tiến hành biện pháp so sánh đối chiếu này ở hầu hết các bài dạy về Thơ nước ngoài trong chương trình THCS. Người dạy có thể thực hiện biện pháp này ở phần đầu, sau khi đã cho các em đọc tác phẩm hoặc trong quá trình hướng dẫn phân tích từng ý, từng câu của bài thơ. c. Tiếp cận bài thơ từ đặc trưng thể loại Nói đến tìm hiểu tác phẩm là nói đến vấn đề thể loại. Thể loại văn học thuộc về phương thức, về cách thể hiện cuộc sống trong văn học, cũng như cách cấu tạo và biểu hiện nội dung trong tác phẩm văn học cụ thể. Không có tác phẩm nào tồn tại ngoài hình thức quen thuộc của thể loại. Phân tích một tác phẩm văn học không thể xem nhẹ đặc trưng thể loại. Trong dạy Trang 11 học văn học, coi trọng đặc trưng thể loại còn là một nguyên tắc dạy học quan trọng. Là một thể loại văn học nằm trong phương thức trữ tình, nhưng bản chất của thơ lại rất đa dạng với nhiều biến thái và màu sắc phong phú, dễ tác động đến người đọc. Dạy thơ Việt Nam hay thơ nước ngoài, người dạy cũng cần chú ý đến đặc trưng của thơ, nhất là chú ý đến cái Tôi trong cảm xúc và suy nghĩ. Cốt lõi của thơ là trữ tình. Mọi biểu hiện cuộc sống được nói đến trong thơ đều gắn với tâm hồn, tình cảm, tư tưởng của con người, đều thông qua cảm nhận chủ quan của nhà thơ, bộc lộ khá đậm nét cái Tôi của người cầm bút. Đối với thơ Việt Nam, tìm hiểu thế giới tâm hồn của nhà thơ đã là một công việc khó khăn bởi thơ là chiều sâu, là sự chắt lọc, kết tinh những gì tinh tế nhất của tình cảm con người. Đối với Thơ nước ngoài, học sinh càng không dễ dàng cảm nhận được chiều sâu tâm trạng, nỗi niềm, suy nghĩ của tác giả. Bên cạnh trở ngại về ngôn ngữ, học sinh còn gặp phải những khác biệt về cách cảm, cách nghĩ, lối sống, truyền thống và hàng loạt những yếu tố khác trong tình cảm, tư tưởng … Do vậy, có thể : (1) Lưu ý học sinh đến đặc điểm thời đại, hoàn cảnh sống, tính cách, nỗi niềm tâm sự của nhà thơ ở ngoài đời để từ đó giúp các em tìm hiểu tâm trạng của họ trong thơ. Tuy điều này cũng là cần thiết với việc dạy thơ ca nói chung, nhưng riêng đối với thơ nước ngoài, việc tìm hiểu này cần đậm hơn, sâu hơn và công phu hơn. Dạy bài thơ Mây và sóng, giáo viên cần hiểu được những nét cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả. R. Tagor – nhà văn hóa lỗi lạc của Ấn Độ và thế giới đã để lại một gia tài văn học phong phú : 52 tập thơ, 42 Trang 12 vở kịch, 12 bộ tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn, bút kí, luận văn, diễn văn, thư tín cùng hàng ngàn ca khúc và tranh ảnh nghệ thuật. Đặc biệt tập Thơ Dâng (Gitanjali) của ông đã được tặng Giải thưởng Nobel văn học năm 1913. Từ đó, thế giới hướng về Ấn Độ, ngưỡng mộ và tôn kính Tagor, xem ông là một trong những thiên tài của thế kỉ XX. Tác phẩm của Tagor thấm nhuần tư tưởng nhân đạo cao quý. G. Nehru, nhà cách mạng lỗi lạc của Ấn Độ, đã từng coi Tagor là nhà nhân đạo vĩ đại. Ở Tagor, lòng tin yêu Con Người đã trở thành một Đức Tin. Ông từng nói : “Tôi có một lòng tin mạnh mẽ vào Con Người. Lòng tin đó cũng như Mặt trời, chỉ có thể bị mây che chứ không bao giờ tắt”. Con Người luôn luôn là đề tài, là nguồn cảm hứng tuôn trào trong những tác phẩm bất hủ của Tagor. Hơn nữa, giáo viên còn cần hiểu được hoàn cảnh ra đời đặc biệt của tập thơ Trăng non (The crescent moon, 1915). Lúc đầu, tập thơ có tên Sisu (Trẻ thơ), được viết bằng tiếng Belgan, ra đời khoảng năm 1909, đến năm 1915 được dịch ra tiếng Anh, đổi tên là Trăng Non. Tập thơ được sáng tác sau những nỗi đau lớn của nhà thơ : vợ mất ( 1905), đứa con trai đầu lòng cũng rời bỏ ông mãi mãi (1907) … Tất cả những hiểu biết đó sẽ giúp người giáo viên dễ tìm ra tiếng nói tri âm với tác giả và thêm tự tin khi lí giải cho học sinh rõ vì sao bài thơ Mây và sóng lại có giọng điệu ngây thơ hồn nhiên và trí tưởng tượng diệu kì đến thế. Vì sao em bé trong bài thơ lại có thể từ chối những trò chơi mà hầu hết trẻ em mới nghe đã đều mơ ước ? Và vì sao một người cha vừa chịu một nỗi đau đớn khôn cùng lại đã hào hứng làm thơ cho con trẻ ? Có phải đó là vì ở thiên tài Tagor, tình yêu thương con người đã giúp ông vượt qua mọi bất hạnh ? Nỗi đau riêng của người cha hòa với tình yêu con trẻ nói chung đã giúp Tagor khao khát sáng tác và trở thành nhà thơ của trẻ thơ … Trang 13 (2) Lưu ý đến những nét đặc sắc nhất, tiêu biểu nhất trong tâm trạng nhân vật trữ tình của bài thơ. Trong bài Mây và sóng, đó là niềm khao khát của em bé về tình mẫu tử. Đối với em, mẹ là người đáng yêu nhất. Chỉ có ở bên mẹ, được chơi với mẹ và được mẹ yêu thương, em mới cảm thấy hạnh phúc. Trong thơ Lí Bạch, cả hai bài Xa ngắm thác núi Lư và Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh đều ẩn chứa những rung động của nhà thơ trước vẻ đẹp của cảnh sắc. Nhưng nếu Xa ngắm thác núi Lư, ta cảm nhận được tâm trạng phấn chấn hào hứng của nhà thơ trước cái kỳ vỹ mỹ lệ của thác Núi Lư thì trong Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh, tâm trạng nhà thơ lại đi vào chiều sâu của thế giới nội tâm đầy suy tư trăn trở. Từ những điều nêu trên, ta nhận thấy việc tiếp cận bài thơ từ đặc trưng thể loại rất cần thiết. Người giáo viên cần đặc biệt quan tâm và có ý thức thực hiện thường xuyên khi giảng dạy các bài thơ nước ngoài. d. Liên hệ giữa tác phẩm với bút pháp nhà thơ Phần thơ nước ngoài chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong chương trình VHNN. Thế nhưng những tác phẩm được tuyển chọn lại là tinh hoa của thi ca nhân loại. Cho nên sẽ là thiếu sót nếu người dạy không làm cho các em thích thú say mê với tác phẩm, không nắm được hết cái hay, cái đẹp của tác phẩm và tài năng của nhà thơ. Phải cho các em có ấn tượng về nhà thơ, phải hiểu được một số nét đặc sắc trong bút pháp tác giả thì việc tìm hiểu bài thơ mới dễ dàng. Mặt khác, chúng ta đều biết những bài thơ được chọn trong chương trình đều thể hiện đậm đặc bút pháp của nhà thơ. Trong quá trình hướng dẫn phân tích, giáo viên cho HS liên hệ với bút pháp của nhà thơ thì các em sẽ hiểu sâu, nắm vững tác phẩm hơn. Bút pháp vốn là thuật ngữ của thư pháp – nghệ thuật viết chữ Hán, chỉ cách cầm bút, cách đưa đẩy nét Trang 14 bút để tạo dáng chữ đẹp. Nhưng khi sử dụng trong văn học, bút pháp được hiểu là cách thức hành văn, dùng chữ, bố cục, cách sử dụng các phương tiện biểu hiện để tạo thành một hình thức nghệ thuật nào đó. Ở đây, bút pháp cũng tức là cách viết, lối viết. Khái niệm bút pháp, do trực tiếp gắn với cách viết, lối viết nên có phần tương đồng với khái niệm phong cách, văn phong. Nội dung phong cách nay đã được hiểu một cách rộng hơn, có tính hệ thống hơn. Khái niệm bút pháp mà tôi sử dụng trong đề tài này là một yếu tố đặc sắc về cách viết, cách sử dụng các phương tiện biểu hiện mà tác giả đã tạo nên trong tác phẩm thơ nước ngoài. Xét ở góc độ khác, khi học tập các bài thơ trong chương trình Văn Học Việt Nam, HS có điều kiện tiếp xúc với tác giả, tác phẩm qua sách báo, tài liệu, truyền hình và có thể còn được trực tiếp gặp gỡ các nhà thơ. Trong việc học VHNN thì tất cả các sự tiếp xúc nói trên đều vô cùng khó khăn. Các em chủ yếu tiếp cận với tác phẩm qua việc học tập trên lớp với một bản dịch. Vì thế, trong quá trình tìm hiểu bài thơ, cho các em liên hệ bút pháp nhà thơ sẽ giúp các em có ấn tượng sâu sắc về tác phẩm. Dạy bài Mây và Sóng của Tagor, người dạy cho HS biết đặc điểm bút pháp thơ của Tagor khi viết cho thiếu nhi là trí tưởng tượng dồi dào bay bổng. Nét bút pháp đặc sắc ấy rất phù hợp với đầu óc mộng mơ khoáng đạt ngộ nghĩnh của tuổi thơ, với một thế giới bao la vừa quen vừa lạ, vừa thực vừa ảo, lung linh hình ảnh và màu sắc. Nhưng dù viết cho thiếu nhi hay người lớn thì các bài của Tagor cũng thường chứa đựng một nội dung tình cảm nồng ấm mang tính nhân đạo sâu sắc. Thơ ông là tiếng hát, tiếng ru ngọt ngào, mê say của một trái tim yêu thương đối với con người và cuộc sống. Trang 15 Bài thơ Mây và Sóng đã thể hiện khá rõ đặc điểm bút pháp trên của ông qua câu chuyện giữa em bé với Mây và Sóng. Một sự tưởng tượng vừa bay bổng, vừa hợp lý mà lại rất ngộ nghĩnh. Bài thơ vẽ ra hai cảnh : Cảnh đầu là cuộc trò chuyện của em bé với Mây, cảnh sau là với Sóng. Những trò chơi mà Mây và Sóng gợi ra để rủ rê em bé thật là kỳ thú khiến cho em dường như không thể cưỡng lại được. Điều này đòi hỏi nhà thơ phải có óc tưởng tượng phong phú và nắm vững tâm lý tuổi thơ. Sự tưởng tượng càng phong phú bao nhiêu thì sức quyến rũ của trò chơi càng mạnh bấy nhiêu và việc em bé từ chối càng chứng tỏ sức mạnh tình yêu của em bé đối với mẹ lớn đến thế nào. Trí tưởng tượng của nhà thơ còn đặc sắc ở chỗ hai cảnh có vẻ như lặp lại, nhưng thực ra là có chỗ khác nhau. Mây ở trên cao, Sóng ở dưới thấp, bầu trời tác động chủ yếu vào thị giác tạo nên sự hấp dẫn mang màu sắc tiên cảnh, còn biển cả thì kích thích vào thính giác làm nên nét hấp dẫn ở giai điệu du dương và dường như gần gũi với hạ giới hơn. Chỗ khác nhau ấy bổ sung cho nhau càng làm tăng sức cuốn hút của trò chơi. Sức tưởng tượng của tác giả không chỉ biểu hiện ở những trò chơi do Mây và Sóng gợi ra mà còn ở trò chơi của em bé với mẹ. Sự tưởng tượng này hấp dẫn ở chỗ nó thật bất ngờ : bất ngờ ở sự thông minh chủ động của em bé, bất ngờ ở việc em bé cũng chơi trò chơi Mây và Sóng nhưng lại chơi ngay trong mái ấm gia đình, bên cạnh người mẹ thân yêu. Thêm một sự tưởng tượng nữa là Tagor đã kết thúc bài thơ bằng một hình ảnh thật đẹp : Con lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào. Tiếng cười xóa mờ tất cả, bao trùm lên tất cả trong một niềm hạnh phúc khôn cùng. Mẹ và con đang ở đâu, trên trời cùng mây, dưới biển Trang 16 cùng sóng, hay ở khắp mọi nơi mà không ai biết… rõ ràng tình yêu mẹ đã chắp cánh cho trí tưởng tượng của em bé và trò chơi của em hay hơn của Mây và Sóng rất nhiều. Bút pháp Tagor đã thực sự tạo cho bài thơ một vẻ đẹp thật kỳ diệu. e. Vấn đề dạy và học tác phẩm trên cơ sở thi pháp. Hiện nay qua tài liệu một số vấn đề về thi pháp học hiện đại, khái niệm thi pháp và thi pháp học đã không còn xa lạ với giáo viên Văn ở trường trung học cơ sở và đã giúp họ có cơ sở bước đầu để tiếp cận với hướng dạy học tác phẩm từ góc độ thi pháp. Tuy nhiên, đối với việc dạy VHNN nói chung và dạy thơ nước ngoài nói riêng thì vấn đề này lại xuất hiện nhiều bất cập. Nguyên nhân chủ yếu có lẽ do giáo viên chưa có đủ lực cần thiết để làm chủ được những kiến thức về thi pháp mà họ tiếp nhận. Thi pháp có dung lượng kiến thức phong phú và khá phức tạp. Chỉ riêng những yếu tố cơ bản, những kiến thức cần thiết về thi pháp tác phẩm mà giáo viên cần nắm vững để giảng dạy cũng đòi hỏi ở họ nhiều tâm huyết và thời gian. Đó là chưa kể những khó khăn thiếu thốn trong việc tiếp cận tác giả tác phẩm và các tài liệu tham khảo thơ nước ngoài… Tình hình này đã dẫn đến thực trạng ở các trường THCS, hướng phân tích tác phẩm thơ nước ngoài từ góc độ thi pháp hầu như đang được bỏ ngỏ. Một tình hình bất cập như trên đòi hỏi chúng ta phải đưa việc dạy và học VHNN đặc biệt là thơ nước ngoài trên cơ sở thi pháp vào nhà trường THCS. Nhưng vì đây là vấn đề khó nên cần nghiên cứu đầy đủ và thực Trang 17 hiện ứng dụng ở từng cấp độ. Ở phần này, tôi chỉ xin đề cập việc dạy và học các bài thơ Đường trên cơ sở thi pháp và bước đầu đề xuất một số ý kiến sau. Trước hết, để có thêm tư liệu cho giảng dạy, giáo viên nên tìm đọc một số những tài liệu như : - Văn học Trung Quốc ( 2 tập ) của GS Trương Chính, GS Nguyễn Khắc Phi. - Thơ Đường của Nam Trân. - Văn học Trung Quốc trong trường phổ thông. - Thi pháp thơ Đường. - Chữ Tâm trong thơ Đường. Ba tác phẩm trên của Nguyễn Thị Bích Hải. Ngoài ra, trong quá trình giảng dạy, người dạy cần trang bị cho HS một số kiến thức chủ yếu vận dụng để tiếp cận tác phẩm. Trong thi pháp thơ Đường, nổi bật là quan niệm về con người. Con người trong thơ Đường trước hết là con người vũ trụ : con người là một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ. Quan niệm như thế nên tiếng nói của nhà thơ là tiếng nói “Tiểu thiên địa” giữa lòng thiên địa mênh mông. Nhà thơ bao giờ cũng thấy vũ trụ thật lớn lao, mênh mông, vô hạn, còn con người thì bé nhỏ, cô đơn và hữu hạn. Hiểu được quan niệm về con người như thế, sẽ giúp HS hiểu được điểm nhìn của Lí Bạch, tiếng nói tri âm của ông trước thiên nhiên, sự khát khao thoát khỏi cõi đời tầm thường và cả tâm sự u hoài, cô đơn của ông trong hai bài thơ Xa ngắm thác núi Lư, Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh. Dạy thơ Đường, cần cho các em hiểu được không gian và thời gian nghệ thuật của bài thơ. Trong thơ Đường, không gian nghệ thuật là không Trang 18 gian vũ trụ, một không gian mang tính chất đối xứng và con người là tâm đồi xứng trong không gian ấy. Con người trong không gian vũ trụ thường cảm thấy cô độc và luôn luôn có khát vọng chiếm lĩnh, vượt không gian, muốn có mặt khắp nơi trong thiên hạ. Vì thế trong thơ Đường, cảnh thường cao và xa, kích thước cảnh thường lớn. Đặc điểm này có thể cho HS thấy rõ khi dạy bài Xa ngắm thác Núi Lư. Ngược lại với không gian rộng lớn, cao và xa của vũ trụ là không gian đời thường bé nhỏ, chật hẹp, tối tăm. Ở thơ Đường, thời gian nghệ thuật không đứng yên mà luôn luôn có xu hướng vận hành luân chuyển. Có khi là thời gian ngược về quá khứ ( Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh), có lúc hướng về tương lai, nhưng thường ngược về quá khứ nhiều hơn, bởi trong tâm niệm của thi nhân, cái gì thuộc về quá khứ cũng đẹp, cũng tốt lành. Thời gian đời thường trong thơ Đường là thời gian hiện tại, cụ thể, là thời gian của sự kiện, thời gian của sinh hoạt, thời gian trần thuật. Thời gian đời thường thường gấp gáp, tất bật, khẩn trương. Về mặt ngôn ngữ, cấu trúc ngữ pháp trong thơ Đường thường là loại câu chỉ quan hệ nhân quả, điều kiện, nhượng bộ, tăng tiến; vế câu phụ đứng trước, vế câu chính đứng sau; kiểu câu cầu khiến xuất hiện khá nhiều. Riêng về từ vựng, loại thơ thể hiện con người vũ trụ dùng danh từ nhiều; loại thơ thể hiện con người đời thường thì dùng động từ nhiều. Đại từ nhân xưng thường sử dụng ít trong loại thơ thể hiện con người vũ trụ, nhưng lại dùng nhiều trong loại thơ thể hiện con người đời thường. Trong những bài thơ trữ tình, hình ảnh, ngôn từ thường có tính chất ước lệ, ngôn ngữ hàm xúc, nhiều sức gợi. Còn trong những bài thơ hiện thực, hình ảnh, ngôn từ thường cụ thể, sinh động… Trang 19 Những bài thơ Đường trong chương trình VHNN ở THCS đã thể hiện tương đối những đặc điểm thi pháp đã nêu ở trên. Phân tích thơ Đường phải đứng ở góc độ thi pháp thì mới giúp HS cảm nhận được hết vẻ đẹp của bài thơ. Trong số các bài thơ của Lí Bạch được chọn dạy, bài Xa ngắm thác Núi Lư tiêu biểu hơn cả cho hồn thơ Lí Bạch. Hướng dẫn phân tích bài thơ này, trước hết cần cho HS thấy rõ bài thơ đã tuân thủ một cách nghiêm túc, chuẩn mực những luật lệ, quy tắc của thơ Đường, cho thấy sự đa dạng trong mối quan hệ giữa bốn câu thơ và do đó HS có thể khám phá ra vẻ đẹp của từng câu. Ở câu đầu, cảnh được nhìn từ xa nhưng chưa phải là bản thân thác nước. Thác nước chỉ hiện lên vẻ đẹp của nó khi được xuất hiện trên cái nền là ngọn núi Hương Lô. Cái mới mà Lí Bạch mang đến ở đây là miêu tả nó dưới ánh mặt trời, làm cho mỗi vật xung quanh trở nên sống động. Ở câu (2), giáo viên gợi ý để học sinh thấy được ấn tượng ban đầu của nhà thơ đối với thác nước. Nên cho các em đối chiếu với nguyên bản in trong SGK để thấy chữ quải (treo) đã biến động thành tĩnh, biểu hiện một cách sát hợp cảm nhận từ xa về dòng thác, một dòng thác treo cao như dải lụa trên cái nền của đỉnh núi có khói tỏa mịt mờ và chân núi có dòng sông tuôn chảy. Quả là một bức tranh họa tráng lệ, kì vĩ. Ở câu thứ (3), giáo viên lại gợi ý để các em thấy cảnh tĩnh chuyển sang động với động từ kèm theo trạng từ để chỉ thế nước chảy. Ở câu cuối cùng, nhà thơ đã kết hợp khá tài tình giữa cái ảo và cái chân, giữa cái hình và cái thần để tả được cảm giác kì diệu do hình ảnh thác nước gợi lên trong tâm khảm nhà thơ. Giáo viên đặc biệt cho học sinh phân tích hai chữ nghi thị (ngỡ là). “Ngỡ là” tức là biết sự thực không phải như vậy : Nghi thị Ngân hà lạc cửu thiên Trang 20
- Xem thêm -