Tài liệu Skkn nghiên cứu lựa chọn bài tập nhằm nâng cao hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay cho vđv bóng bàn trường thpt b hải hậu

  • Số trang: 33 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 815 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH TRƯỜNG THPT B HẢI HẬU BÁO CÁO SÁNG KIẾN “Nghiên cứu lựa chọn bài tập nhằm nâng cao hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay cho VĐV Bóng bàn Trường THPT B Hải Hậu”. Tác giả : Trần Văn Thưởng : Nguyễn Văn Tịch Trình độ chuyên môn : Đại học Chức vụ : Giáo viên Thể dục Nơi công tác : Trường THPT B Hải Hậu Nam Định, ngày 28 tháng 5 năm 2016 1 1. Tên sáng kiến: Nghiên cứu lựa chọn bài tập nhằm nâng cao hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay cho VĐV Bóng bàn Trường THPT B Hải Hậu”. 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: VĐV Bóng bàn trường THPT B Hải Hậu. 3. Thời gian áp dung sáng kiến: Đề tài của chúng tôi được nghiên cứu từ tháng 8/2015 đến tháng 5/2016 và được chia làm 3 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Từ tháng 8/2015 đến tháng 11/2015: Chọn tên đề tài, làm đề cương. - Giai đoạn 2: Từ tháng 11/2015 đến tháng 03/2016: Đọc và tham khảo tài liệu có liên quan, hoàn thiện sư phạm, lấy số liệu phục vụ đề tài và giải quyết 2 nhiệm vụ của đề tài. - Giai đoạn 3: Từ tháng 03/2015 đến tháng 5/2016: Hoàn thiện dề tài. 4. Tác giả: Họ và tên: Trần Văn Thưởng Năm Sinh: 1983 Nơi thường trú: Xã Hải Phú – Hải Hậu – Nam Định Trình độ chuyên môn: Đại học TDTT Chức vụ công tác: Giáo Viên Nơi làm việc: Trường THPT B Hải Hậu 5. Đồng tác giả: Họ và tên: Nguyễn Văn Tịch Năm Sinh: 1985 Nơi thường trú: Xã Hải Phú – Hải Hậu – Nam Định Trình độ chuyên môn: Đại học TDTT Chức vụ công tác: Giáo Viên Nơi làm việc: Trường THPT B Hải Hậu 2 I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN: Thể dục thể thao là một bộ phận của nền văn hóa xã hội. Nó được hình thành từ thực tiễn lao động sản xuất, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì sự phát triển của TDTT không chỉ đáp ứng yêu cầu mở rộng quan hệ quốc tế mà còn để đáp ứng sự quan tâm cổ vũ và lòng mong mỏi của nhân dân cả nước. TDTT trước hết là nhằm nâng cao sức khỏe, hoàn thiện phẩm chất trí tuệ và phát triển con người một cách toàn diện con người mới xã hội chủ nghĩa có đủ năm phẩm chất: Trí, Đức, Thể, Mỹ, Lao. Vì vậy, việc phát triển một nền TDTT xã hội chủ nghĩa đã và đang là trách nhiệm vô cùng nặng nề của Đảng và Nhà nước nhưng đó cũng là rất vinh quang. Hồ Chí Minh một nhà lãnh tụ, một người cha già của dân tộc Việt Nam khi còn sống đã kêu gọi toàn dân tập TDT: “mỗi người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu đi một phần, mỗi người dân khỏe mạnh là làm cho cả nước khỏe mạnh. Vậy tập luyện TDTT bồi dưỡng sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”. (Trích lời kêu gọi toàn dân tập TDTT của Hồ Chí Minh tháng 3 năm 1946). Cùng với việc phát triển TDTT thì môn Bóng bàn xuất hiện sớm ở Anh 1880 và ngay sau đó đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, nó gia nhập vào Việt Nam vào khoảng năm 1920 và phát triển rất mạnh ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, TP Hồ Chí Minh… Vì nó xuất hiện sớm như vậy cho nên nó đã nhanh chóng trở thành một trong những môn thể thao mũi nhọn của thể thao Việt Nam. Nó đã đem lại cho thể thao Việt Nam nhiều thành tích vẻ vang và cũng là môn đem lại thành tích sớm nhất cho thể thao Việt Nam. Năm 1938 tại giải Bóng bàn vô địch Đông Dương tổ chức ở Campuchia VĐV Lý Ngọc Sơn vô địch đơn nam. Các kỳ Seagames Bóng bàn cũng đã đạt được nhiều thành công rực rỡ như Vũ Mạnh Cường vô địch đơn nam Seagames 18, Vũ Mạnh Cường – Ngô Thu Thủy vô địch đôi nam nữ tai Seagames 19 và tại Seagames 21 Vũ 3 Mạnh Cường vô địch đơn nam. Trong năm 2002 khi mà Seagames 22 được tổ chức tại Việt Nam tay vợt Trần Tuấn Quỳnh đã giành được huy chương vàng đơn nam. Để nâng cao trình độ Bóng bàn thì đòi hỏi các VĐV phải có kỹ thuật toàn diện kết hợp với sức xoáy, sức mạnh, tốc độ cùng với việc điều chỉnh điểm rơi một cách khéo léo hợp lý, áp dụng các chiến thuật, chủ động tấn công nhanh chóng dứt điểm. Có như vậy thì mới làm chủ được trận đấu ngay cả trong những lúc khó khăn. Trong môn Bóng bàn thì các kỹ thuật đều quan trọng và cấp thiết trong đó phải nói đến việc sử dụng hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay, né giật bóng thuận tay. Kỹ thuật gò bóng trái tay là kỹ thuật dùng để đối phó với bóng xoáy xuống mạnh của đối phương để điều chỉnh điểm rơi, biết vận dụng ta sẽ dồn đối phương vào thế bị động tạo cơ hội cho quả đánh dứt điểm. Giật bóng thuận tay là kỹ thuật có thể đối phó với bất kỳ loại bóng nào của đối phương, tốc độ nhanh làm cho đối phương lúng túng khi đối phó. Ngày nay, Các VĐV sử dụng quả giật bóng như một kỹ thuật dứt điểm hiệu quả nhất. Qua thời gian xem xét và quan sát các VĐV Bóng bàn tập luyện và thi đấu tại nội dung Bóng bàn hội khỏe phù đổng Trường THPT B Hải Hậu, cũng như thi đấu nội dung Bóng bàn tại giải thi học sinh giỏi TDTT cấp THPT Tỉnh Nam Định chúng tôi nhận thấy các bài tập kỹ thuật của các VĐV chưa đầy đủ đặc biệt là chiến thuật gò bóng trái tay, né giật bóng thuận tay. Sự phong phú của các bài tập chưa cao, chưa có sự tích cực sáng tạo của các VĐV. Muốn đạt được thành tích thì các VĐV phải thực hiện các kỹ thuật cơ bản ở mức độ tự động hóa. Bởi vì bất kỳ một môn thể thao nào thì chiến thuật cũng là một yếu tố quan trọng góp phần vào sự thắng lợi của VĐV. Trong những năm phụ trách môn bóng bàn của trường THPT B Hải Hậu và những năm tháng học tập tại Trường Đại học TDTT I, chúng tôi xác định được tầm quan trọng của việc nghiên cứu các bài tập chiến thuật gò bóng trái tay, né giật bóng thuận tay cho các VĐV. 4 Mặc dù đề tài này đã và đang có nhiều người quan tâm nghiên cứu song chưa có ai bắt tay vào việc nghiên cứu lựa chọn bài tập nhằm nâng cao hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay, né giật bóng thuận tay cao nhất. Được sự giúp đỡ và chỉ đạo của Ban giám hiệu cũng như các bạn bè đồng nghiệp tổ Thể dục và Giáo dục quốc phòng – An ninh trường THPT B Hải Hậu. Chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn bài tập nhằm nâng cao hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay cho VĐV Bóng bàn Trường THPT B Hải Hậu”. 5 II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN 1. ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ LỨA TUỔI 1.1. Đặc điểm tâm lý Trong môn thể thao nói chung và Bóng bàn nói riêng, tâm lý đóng một vai trò hết sức quan trọng. Nó cùng với các yếu tố khác như kỹ thuật, chiến thuật, thể lực tạo nên thành tích thể thao. Lứa tuổi này, các em có bước nhảy vọt về mặt thể chất và tinh thần. Các em đang tách dần tuổi ấu thơ để chuyển sang giai đoạn trưởng thành. Vì vậy, thời kỳ này được gọi là thời kỳ quá độ chuyển từ trẻ con sang người lớn. Ở giai đoạn này, sự phát triển của trẻ diễn ra khá phức tạp, đời sống tâm lý có nhiều mâu thuẫn và có những thay đổi lớn về mặt thể chất và tinh thần, nhiều phẩm chất dần được hoàn thiện như: Trí tuệ, tình cảm, ý chí… Các hoạt động học tập và trí tuệ của các em đang phát triển mạnh mẽ. So với lứa tuổi nhi đồng thì trí nhớ trừu tượng của các em phát triển hơn hẳn, các khái niệm trở nên chính xác hơn, các em biết áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, chú ý của các em là chú ý có chủ định, nhờ đó các em có thể tập trung chú ý vào những vấn đề cần thiết và có thích thú. Các em là những người ham học hỏi, ham sáng tạo nhưng thiếu tính kiên trì, bền bỉ khi gặp khó khăn mệt mỏi trong quá trình tập luyện thường nảy sinh tâm trạng chán nản, không có hứng thú để thực hiện các bài tập phối hợp hoặc những bài tập thể lực với khối lượng lớn thời gian kéo dài. Do đó, những bài tập nhằm nâng cao và hoàn thiện các động tác kỹ thuật cần chú ý nhiều về thời gian, lượng vận động, hình thức và phương pháp tập luyện cần phải được sắp xếp hợp lý .Các bài tập phải mang tính đa dạng và phong phú gây được trạng thái hưng phấn thoải mái trong giờ tập luyện để các em hoàn thành tốt bài tập. 6 Trong khi đó, mối quan hệ của các em với người xung quanh cũng đã gần gũi hơn, các em có khuynh hướng học tập người lớn về vốn hiểu biết, cách cư xử với người xung quanh, bạn bè, thích hoạt động tập thể. Ý thức của bản thân được coi là bước chuyển căn bản trong việc hình thành và phát triển nhân cách của các em. Đồng thời tính độc lập trong suy nghĩ cũng được phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, ở lứa tuổi này vẫn còn một số tồn tại về mặt tâm lý như: - Tính hiếu động tương đối cao nên tính kỷ luật chưa cao, dễ xuất hiện hành động thô lỗ vô kỷ luật. - Năng lực tập trung còn kém, do tính hưng phấn chiếm ưu thế nên các em dễ bị phân tán khi có tác động của ngoại lực. - Tính tự ái còn cao, ưa thích nhẹ nhàng hơn nặng nề và căng thẳng. Đồng thời tính tự trọng lại rất cao, tính ganh đua, hiếu thắng, các em hoàn toàn chưa có những nét cá tính bền vững. Chính vì vậy, nắm được đặc điểm tâm lý lứa tuổi là điều rất quan trọng và cần thiết cho các huấn luyện viên và các nhà sư phạm. Cần phải thường xuyên quan sát giáo dục cho phù hợp dựa trên cơ sở tính tích cực, phát huy sáng tạo, biết điều chỉnh và tổ chức hoạt động cho các em. Biết giáo dục giáo dưỡng các em trở thành con người có năng lực và lý tưởng sống cao đẹp. 1.2. Đặc điểm sinh lý Trong quá trình sống và phát triển, cơ thể có những biến đổi đa dạng, phức tạp về cấu tạo và chức năng sinh lý dưới tác động của các yếu tố môi trường sống và di truyền. Chính vì vậy, tập luyện TDTT sẽ có ảnh hưởng tốt tới cơ thể người tập nếu như hoạt động đó phù hợp với lứa tuổi, giới tính và trình độ tập luyện. 1.2.1. Hệ thần kinh Não bộ của các em đang trong thời kỳ hoàn chỉnh, hoạt động thần kinh chưa ổn định, hưng phấn chiếm ưu thế. Vì vậy, khi học tập các em tập trung tư tưởng, nhưng nếu thời gian kéo dài, nội dung nghèo nàn, hình thức hoạt động đơn điệu thì thần 7 kinh sẽ nhanh chóng mệt mỏi và dễ phân tán sức chú ý. Do vậy khi tiến hành giảng dạy cũng như huấn luyện cần phải làm cho nội dung tập luyện phong phú, phương pháp giảng dạy tổ chưc giờ học phải linh hoạt, không cứng nhắc, đơn điệu giảng giải và làm mẫu có trọng tâm chính xác và đúng lúc, đúng chỗ. 1.2.2. Hệ tuần hoàn Tim các em phát triển chậm hơn so với sự phát triển của mạch máu, sức co bóp còn yếu, khả năng điều hòa hoạt động của tim chưa ổn định nên khi hoạt động quá nhiều, quá căng thẳng sẽ chóng mệt mỏi. Vì vậy tập luyện TDTT thường xuyên sẽ ảnh hưởng tốt đến hoạt động của hệ tuần hoàn, hoạt động của tim dần được thích ứng và có khả năng chịu đựng với khối lượng lớn. Nhưng trong quá trình tập luyện TDTT cần phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và nguyên tắc tăng dần các yếu tố trong GDTC tránh hoạt động quá sức và quá đột ngột. 1.2.3. Hệ hô hấp Phổi các em phát triển chưa hoàn thiện, phế nang còn nhỏ, các cơ hô hấp chưa phát triển đầy đủ, dung lượng phổi còn bé. Vì vậy khi hoạt động các em còn thở nhiều, thở nhanh nên chóng mệt mỏi. Rèn luyện thể chất cho các em phải toàn diện, phải chú ý tới phát triển các cơ hô hấp, hướng dẫn các em biết cách thở sâu, thở đúng và biết cách thở trong khi hoạt động. Như vậy mới có thể hoạt động với cường độ lớn lâu dài và có hiệu quả. 1.2.4. Hệ xương Hệ xương đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về chiều dài. Hệ thống sụn tại các khớp đang đòi hỏi điều kiện phát triển và hoàn thiện. Vì vậy, tập luyện TDTT có tác động tốt tới sự phát triển của hệ xương. Tuy nhiên, phải chú ý đến tư thế, sự cân đối trong hoạt động để tránh phát triển sai lệch của hệ xương và sự kìm hãm phát triển về chiều dài. 8 1.2.5. Hệ cơ Hệ cơ của các em phát triển chậm hơn so với hệ phát triển của hệ xương, chủ yếu phát triển về chiều dài, thiết diện cơ chậm phát triển nhưng đến tuổi 15-16 thì thiết diện cơ lại phát triển nhanh hơn đặc biệt là các cơ to. Do sự phát triển không đồng bộ, thiếu cân đối nên các em không phát huy được sức mạnh và chóng mệt mỏi. Vì vậy, trong quá trình tập luyện TDTT cần chú ý tăng cường phát triển cơ bắp bằng những bài tập có cường độ thích hợp và phát triển toàn diện. 2. CƠ SỞ CỦA HUẤN LUYỆN THỂ LỰC Trong quá trình tập luyện và thi đấu Bóng bàn ngoài việc phát triển hoàn thiện các yếu tố về kỹ thuật, chiến thuật, tâm lý… thì huấn luyện thể lực là yếu tố đặc biệt quan trọng. Huấn luyện thể lực không chỉ nâng cao được các chức năng của cơ quan nội tạng mà còn có tác dụng tốt đối với việc nắm vững và nâng cao kỹ thuật, phòng ngừa chấn thương. Vì vậy, huấn luyện thể lực là một nhiệm vụ của quá trình đào tạo và huấn luyện TDTT. 2.1. Tố chất sức mạnh Sức mạnh trở thành một yếu tố quan trong tập luyện và thi đấu Bóng bàn. Đánh bóng đi có độ chuẩn xác, điểm rơi hợp lý mà bóng đi không có sức mạnh thì không đạt được hiệu quả cao nhất đặc biệt là quả bóng dứt điểm. 2.2. Tố chất tốc độ và linh hoạt Tốc độ và linh hoạt là yếu tố quan trọng trong thi đấu Bóng bàn, VĐV phải phán đoán phản ứng nhanh, di chuyển nhanh, lựa chọn động tác đánh trả nhanh, chỉ có vậy mới dành được quyền chủ động tấn công đối phương. Bóng đánh đi với tốc độ nhanh, dễ làm cho đối phương bị động, lúng túng khi sử lý bóng. Tốc độ trong đánh bóng là VĐV phải phản ứng nhanh tốc độ của động tác riêng lẻ, chẳng hạn giật bóng cần tốc độ để vung tay và góc độ vợt hợp lý để đánh bóng. Khi thi đấu bóng bàn sự linh hoạt và khéo léo là năng lực cần thiết, tính linh hoạt được đánh dấu bởi tốc độ di chuyển từ động tác này sang động tác khác nhanh 9 hay chậm, phán đoán hướng bóng đến nhanh cũng như động tác đánh trả nhanh. Trong thi đấu VĐV Bóng bàn phải điều chỉnh tốc độ, biên độ vung tay, phạm vi di chuyển của chân và mức độ dùng sức hợp lý khi đánh bóng thì mới có hiệu quả tốt. 2.3. Tố chất sức bền chuyên môn Mỗi môn thể thao có yêu cầu sức bền mang tính chuyên môn riêng biệt, Bóng bàn lại là môn thể thao thi đấu cá nhân, mỗi một giải thi đấu thường kéo dài từ 3-4 ngày. Càng đến giai đoạn cuối của giải càng căng thẳng và quyết liệt. Vì vậy, yêu cầu về sức bền chuyên môn của VĐV phải cao, phải đáp ứng được yêu cầu về kỹ chiến thuật trong các trận đấu cuối cùng. Sức bền chuyên môn mà môn Bóng bàn đòi hỏi là sức bền chuyên môn có cường độ biến đổi, kết hợp chặt chẽ với tốc độ và sự linh hoạt. 3. CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN CỦA CHIẾN THUẬT GÒ BÓNG TRÁI TAY NÉ GIẬT BÓNG THUẬN TAY Chiến thuật bóng bàn bao gồm nhiều kỹ thuật đơn lẻ như kỹ thuật gò bóng, líp bóng, chặn bóng, giật bóng, bạt bóng… Việc thự hiện các kỹ thuật trên phải được rèn luyện thành kỹ năng kỹ xảo mà Bóng bàn có nét nổi bật riêng biệt đó là sự liên kết của mỗi kỹ thuật đơn lẻ tạo thành. Trong đó, sự phối hợp của kỹ thuật gò bóng trái tay, né giật bóng thuận tay là kỹ thuật cơ bản và quan trọng trong lối đánh tấn công nhanh của bóng bàn. Để thực hiện tốt chiến thuật này đòi hỏi VĐV phải thực hiện tốt các kỹ thuật đơn lẻ và đặc biệt quan trọng là sự phối hợp của hai kỹ thuật đơn lẻ sao cho thật tốt thuần thục để tạo thành chiến thuật thì mới đạt hiệu quả cao. Cơ sở của kỹ thuật gò bóng là dùng để đối phó với bóng xoáy xuống mạnh của đối phương đánh sang. Đánh bóng ở giai đoạn 3, 4 của đường vòng cung do vậy gò bóng trái tay sẽ đảm bảo được độ chính xác khi đánh bóng và dễ điều khiển điểm rơi dồn đối phương vào thế bị động tạo cơ hội dứt điểm. 10 Cơ sở của kỹ thuật giật bóng thuận tay là kỹ thuật tấn công chủ yếu dùng sức mạnh, sức xoáy nhanh để uy hiếp đối phương có khả năng dứt điểm cao hoặc tạo cơ hội dứt điểm. Đây là một kỹ thuật tấn công nhanh phổ biến và có uy lực. 4. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ GÒ BÓNG TRÁI TAY NÉ GIẬT BÓNG THUẬN TAY Để xác định được nguyên nhân chi phối tới hiệu quả gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay chúng tôi tiến hành hai phương pháp đó là: - Phương pháp phỏng vấn tọa đàm. - Phương pháp tổng hợp tài liệu. Qua tổng hợp các sách như sách Bóng bàn hiện đại, sách giáo khoa Bóng bàn, sách lý luận và phương pháp TDTT… chúng tôi thấy hầu hết các sách đều đề xuất yếu tố chi phối tới bất kỳ một kỹ thuật nào cũng đều có 4 yếu tố chính: - Mức độ thành thạo kỹ thuật cơ bản. - Trình độ thể lực để đảm bảo duy trì tính ổn định của kỹ thuật. - Trình độ kết hợp giữa kỹ thuật và chiến thuật. - Trạng thái tâm lý khi thực hiện động tác. 5. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÁC BÀI TẬP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHIẾN THUẬT GÒ BÓNG TRÁI TAY NÉ GIẬT BÓNG THUẬN TAY CHO VĐV BÓNG BÀN TRƯỜNG THPT B HẢI HẬU. Để dánh giá thực trạng việc sử dụng các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay cho cho VĐV Bóng bàn Trường THPT B Hải Hậu chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát sư phạm. Những vấn đề cơ bản mà chúng tôi cần tìm hiểu trước hết là nghiên cứu khoa học để xác định xem yếu tố nào chi phối tới hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay. Từ đó đánh giá thực trạng, phân tích cụ thể về mức độ phát triển của từng yếu tố. Sự tác động của các bài tập tới chiến thuật đó ra sao? Mặt nào tốt mặt nào xấu? Trên cơ sở đó mới xây dựng được các bài tập chung, khắc phục những 11 mặt còn yếu, phát huy những mặt mạnh, sửa đổi hoặc thay thế những bài tập cũ chưa phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay cho VĐV trong tập luyện cũng như trong thi đấu. Kế hoạch huấn luyện được xây dựng theo chu kỳ tuần, chu kỳ tháng. Với các nội dung huấn luyện cơ bản như: Huấn luyện kỹ chiến thuật, huấn luyện thể lực, huấn luyện tâm lý… Trong đó, phần huấn luyện kỹ chiến thuật bao gồm các kỹ thuật như: Vụt nhanh thuận tay, vụt nhanh trái tay, giật trái, giật phải, gò bóng, bạt bóng…và các chiến thuật như giao bóng tấn công, đẩy trái né bạt phải, gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay. Trong các buổi tập luyện chiến thuật, đặc biệt là chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay là chiến thuật khó, khi thực hiện rất hay hỏng. Nên thời gian bóng hỏng phải đi nhặt bóng để thực hiện lại sẽ rất nhiều. Mà theo chúng tôi thấy trong qua trình tập luyện chỉ được sử dụng 1 quả bóng. Bên cạnh đó số lượng VĐV khoảng 14 người mà bàn bóng chỉ có 2 bàn. Buộc các VĐV phải chia đều ra 2 bàn để tập luyện với phương pháp một người phục vụ sau đó đổi phiên nhau. Do đó, cường độ buổi tập quá thấp và ít có hiệu quả. Như vậy, cần lựa chọn phương pháp cho phù hợp như tăng số lượng bóng, thay đổi phương pháp tập luyện như cho các em tiếp xúc và tập luyện với bóng nhiều, như thế thời gian bóng chết sẽ giảm đi, thời gian tập luyện kỹ chiến thuật sẽ tăng lên để nâng cao hiệu quả trong qua trình tập luyện. Để nắm được thực trạng công tác huấn luyện Bóng bàn của HLV Trường THPT B Hải Hậu. Bằng quan sát chúng tôi đã tổng hợp được các bài tập như sau. Kết quả thống kê được 22 giáo án trình bày ở bảng 3.1 12 Bảng 3.1. Thực trạng về việc sử dụng bài tập trong 22 giáo án của huấn luyện viên Trường THPT B Hải Hậu. STT Bài tập Khối lượng 1. 2. 3. 4. 5. 3lần x 100m 1lần x 800m 3tổ x 120lần 3 x 20lần 25-30 phút Chạy 100m(s) Chạy 800m Nhảy dây Bật bục đổi chân Gò trái ne giật phải với bóng xoáy lên 1 điểm sang 1 điểm 6. Giật bóng thuận tay với bóng xoáy lên 1 điểm sang 1 điểm 7. Gò trái né giật phải sang góc trống 8. Vụt bóng thuận tay kết hợp với giật bóng 9. Giao bóng tấn công 10. Thi đấu đối khán Qua bảng trên chúng tôi nhận thấy Nghỉ giữa Số giáo án sử dụng 5-6 phút 3/22 5-6 phút 2/22 1 phút 8/22 1 phút 7/22 11/22 10 phút 12/22 15 phút 10 phút 13/22 7/22 20 phút 16/22 30 phút 10/22 các huấn luyện viên đã dùng các bài tập mang tính chất cơ bản để nâng cao trình độ gò trái né giật phải và nâng cao thể lực cho VĐV. Qua số liệu thống kê ở bảng trên ta có thể dễ dàng nhận thấy: - Bài tập sử dụng chưa thật hoàn thiện, thiếu các bài tập sức nhanh phản ứng. Đặc biệt các bài tập kết hợp di chuyển không được áp dụng nhiều. Các bài tập chuyên môn cũng như thể lực chuyên môn còn ít. - Tỷ lệ thời gian dành cho các bài tập nâng cao chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay còn ít. Chỉ có 20-25 phút khoảng 20% buổi tập. - Việc sử dụng lượng vận động còn nhỏ ở các bài tập thể hiện ở một số lần lặp lại, sự vận dụng chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay trong các bài tập còn kém chưa hiệu quả. 6. LỰA CHỌN TEST ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ CHIẾN THUẬT GÒ BÓNG TRÁI TAY NÉ GIẬT BÓNG THUẬN TAY CHO VĐV TRƯỜNG THPT B HẢI HẬU. 13 Để lựa chọn các test ứng dụng trong công tác kiểm tra đánh giá thành tích của VĐV Bóng bàn dựa trên quá trình thu thập tài liệu tham khảo. Chúng tôi thấy các test kiểm tra cần tuân thủ các nguyên tắc sau: - Nguyên tắc 1: Các bài tập test lựa chọn phải được đánh toàn diện về một số kỹ thuật, chiến thuật, phù hợp với VĐV. - Nguyên tắc 2: Việc lựa chon các test phải đảm bảo độ tin cậy và mang tính thông báo cần thiết của đối tượng nghiên cứu. Dựa vào 2 nguyên tắc đã được tổng hợp trên, chúng tôi tiến hành phỏng vấn 18 người gồm giáo viên giáo dục thể chất và các VĐV có kinh nghiệm kết quả được trình bày ở bảng 3.2. Bảng 3.2. Kết quả phỏng vấn các test đánh giá trình độ chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay cho VĐV Bóng bàn Trường THPT B Hải Hậu (n=18). TT 1 2 3 4 Tên test Có sử dụng Số người Tỷ lệ % Gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay 18 100 với bóng xoáy lên 1 điểm sang 1 điểm theo đường chéo cơ bản (Thực hiện 20 lần tính số lần thực hiện tốt). Gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay 17 94 với bóng xoáy lên 1 điểm sang 2 điểm, gò bóng trái tay theo đường thẳng, né giật bóng thuận tay theo đường chéo cơ bản ( Thực hiện 20 lần tính số lần thực hiện tốt). Gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay 17 94 với bóng xoáy lên 1 điểm sang 2 điểm, gò bóng trái tay theo chéo cơ bản đường thẳng, né giật bóng thuận tay theo đường thẳng (Thực hiện 20 lần tính số lần thực hiện tốt). Gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay 11 61 với bóng xoáy lên 1 điểm sang 1 điểm theo đường thẳng (Thực hiện 20 lần tính số lần thực hiện tốt). Không sử dụng Số người Tỷ lệ % 0 0 1 6 1 6 4 39 Thông qua kết quả phỏng vấn ở trên chúng tôi thấy test thứ 2 và test thứ 3 đều có số phiếu đồng ý bằng nhau và 2 test này đều có một đặc điểm chung là gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay từ một điểm sang 2 điểm nên chúng tôi chỉ chọn một 14 test để kiểm tra. Chúng tôi lựa chọn được 2 test đặc trưng nhất có số phiếu đồng ý cao nhất đó là các test sau: Test 1: Gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay với bóng xoáy lên 1 điểm sang 1 điểm theo đường chéo cơ bản (Thực hiện 20 lần tính số lần thực hiện tốt). Test 2: Gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay với bóng xoáy lên 1 điểm sang 2 điểm, gò bóng trái tay theo chéo cơ bản đường thẳng, né giật bóng thuận tay theo đường thẳng (Thực hiện 20 lần tính số lần thực hiện tốt). Để thêm một bước nữa cho việc lựa chon test được chính xác hơn chúng tôi tiến hành nghiên cứu mối tương quan giữa các test đã phỏng vấn với các test thi đấu vòng tròn một lượt trên 14 VĐV Bóng bàn Trường THPT B Hải Hậu, kết quả được trình bày ở bảng 3.3. Bảng 3.3. Hệ số tương quan giữa test được lựa chọn với thành tích thi đấu của VĐV Bóng bàn Trường THPT B Hải Hậu (n=14). TT 1 Test Hệ số tương quan r Ngưỡng xác suất p 0.823 <0.05 0.812 <0.05 Gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay với bóng xoáy lên 1 điểm sang 1 điểm theo đường chéo cơ bản (Thực hiện 20 lần tính số lần thực hiện tốt). 2 Gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay với bóng xoáy lên 1 điểm sang 2 điểm, gò bóng trái tay theo chéo cơ bản đường thẳng, né giật bóng thuận tay theo đường thẳng (Thực hiện 20 lần tính số lần thực hiện tốt). Qua bảng trên cho thấy hệ số tương quan giữa các test chúng tôi lựa chọn với thành tích thi đấu có mối tương quan r>0.8 ; p<0.05. Như vậy hai test này đã có tính 15 thông báo để đánh giá trình độ chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay cho VĐV Trường THPT B Hải Hậu. Để làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu chúng tôi quan sát 7 VĐV Trường THPT B Hải Hậu thi đấu tại các giải học sinh giỏi TDTT khối THPT Tỉnh Nam Định các năm gần đây. Qua thu thập số liệu chúng tôi đã thống kê được thực trạng trình độ chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay cho VĐV Trường THPT B Hải Hậu, sau đó đem so sánh với hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay của Trường THPT C Hải Hậu, kết quả được trình bày ở bảng 3.4. Bảng 3.4. So sánh hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay (trung bình 5 trận đấu ) của VĐV Bóng bàn Trường THPT B Hải Hậu và Trường THPT C Hải Hậu (n=7). TT Nội dung thống kê Trường Trường THPT B THPT C 1 Hải Hậu Số lần thực hiện chiến thuật gò bóng trái tay né 78 2 3 4 5 giật bóng thuận tay Số bóng vào bàn Số bóng ăn điểm trực tiếp Số bóng dành quyền chủ động Số bóng đánh hỏng 29 4 21 23 Hải Hậu 89 36 9 26 18 Qua bảng trên cho thấy thực trạng hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay cho VĐV Trường THPT B Hải Hậu so với Trường THPT C Hải Hậu là rất thấp thể hiện: Số lần thực hiện chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay trong thi đấu chiếm tỷ lệ ít - Số bóng ăn điểm trực tiếp không nhiều: + Trường THPT B Hải Hậu là: 4 + Trường THPT C Hải Hậu là: 9 16 - Số bóng đánh hỏng chiếm tỷ lệ cao: + Trường THPT B Hải Hậu là: 23 + Trường THPT C Hải Hậu là: 18 Xuất phát từ thực trạng nêu trên là cơ sở thực tiễn để chúng tôi tiến hành lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay cho VĐV Bóng bàn Trường THPT B Hải Hậu. III. CÁC GIẢI PHÁP (trọng tâm) 1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nâng cao hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay cho VĐV Bóng bàn trường THPT B Hải Hậu để nâng cao hiệu quả thi đấu cho các VĐV. 17 2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để giải quyết mục đích trên của đề tài, chúng tôi giải quyết 2 nhiệm vụ sau: 2.1. Nhiệm vụ 1: nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay cho VĐV Trường THPT B Hải Hậu. 2.2. Nhiệm vụ 2: Đánh giá hiệu quả chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay cho VĐV Trường THPT B Hải Hậu. 3. Phương pháp nghiên cứu Để giải quyết các nhiệm vụ trên chúng tôi dự kiến sử dụng các phương pháp sau: 3.1. Phương pháp đọc và phân tích tài liệu Phương pháp này chúng tôi sử dụng để nghiên cứu tổng hớp các tài liệu có liên quan đến đề tài nhằm tìm ra các cơ sở lý luận, sinh lý, tâm lý và thực tiễn. Chính nhờ việc tham khảo tài liệu mà chúng tôi đã xác định được tầm quan trọng của phương pháp nghiên cứu. Cái mới chỉ được xây dựng trên nền tảng của cái cũ. Nhờ cái cũ mà chúng ta biết được quy luật vận động và phát triển của cái mới. Chính vì vậy, mà phương pháp đọc và phân tích tài liệu để khám phá ra cái mới từ cái cũ là một phương pháp quan trọng trong qua trình nghien cứu, xác định được tầm quan trọng của phương pháp này nên chúng tôi đã đọc và tham khảo những tài liệu chuyện môn như sách giáo trình Bóng bàn, sách Bóng bàn hiện đại và một số tài liệu có liên quan như: Lý luận và phương pháp TDTT, tuyển tập nghiên cứu khoa học TDTT, Sách toán học thống kê. 3.2. Phương pháp quan sát sư phạm Qua việc quan sát trực tiếp các buổi tập của các VĐV Bóng bàn Trường THPT B Hải Hậu hay gián tiếp qua phim ảnh của các cuộc thi đấu trong nước hay quốc tế. Chúng tôi tìm hiểu và rút ra được nhiều vấn đề về kỹ chiến thuật nói chung, chiến thuật gò bóng trái tay né giậy bóng thuận tay nói riêng. Chúng tôi quan sát về 18 cơ cấu động tác, đặc điểm của các VĐV khi thực hiện chiến thuật, quan sát thời gian tập luyện và thời gian nghỉ ngơi để thực hiện cho quá trình nghiên cứu. 3.3. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm Trong qua trình nghiên cứu chúng tôi đã đưa ra một số vấn đề để phỏng vấn một số giáo viên giáo dục thể chất, huấn luyện viên và các VĐV. Qua phỏng vấn chúng tôi đã nắm được định hướng phát triển môn Bóng bàn của Trường THPT B Hải Hậu. Đồng thời hiểu thêm những kinh nghiệm, bài tập có liên quan đến đề tài mà chúng tôi đang tiến hành. 3.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Sau khi tham khảo các tài liệu liên quan đến chiến thuật, cơ sở lý luận và tổng kết các bài tập qua quá trình quan sát, chúng tôi xây dựng lên hệ thống các bài tập và đi sâu vào thực nghiệm cho VĐV Trường THPT B Hải Hậu, chúng tôi chia các em thành 2 nhóm. Đó là nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm, sau đó nhóm đối chứng tập luyện theo các bài tập do huấn luyện viên của trường đề ra, nhóm thực nghiệm được tập các bài tập do chúng tôi lựa chọn và xây dựng lên. Các chế độ sinh hoạt, thời gian tập luyện và các điều kiện khác nhau. 3.5. Phương pháp kiểm tra sư phạm Là phương pháp chúng tôi sử dụng nhằm mục đích kiểm tra chiến thuật gò bóng trái tay né giật bóng thuận tay thông qua các bài tập đã lựa chọn. Quá trình kiểm tra sư phạm được chúng tôi mô tả cụ thể ở phần giải quyết nhiệm vụ. 3.6. Phương pháp toán học thống kê Qua quá trình thực nghiệm với kết quả thu được qua việc kiểm tra thực nghiệm với kết quả thu được qua việc kiểm tra thành tích VĐV thực nghiệm, chúng tôi đã dùng các công thức toán học thống kê để xử lý số liệu phục vụ cho quá trình so sánh, đánh giá quá trình nghiên cứu: 19 - Tính trị số trung bình: n X  xi (n  30) i 1 n - Hệ số tương quan: r   ( X  X )(Y  Y ) ( X  X ) 2  (Y  Y ) 2 - Tính phương sai:  ( xi  x)2 n 1 - Tính độ lệch chuẩn:   2 - So sánh hai số trung bình ở mẫu bé: t XAXB    nA nB 2 C 2 C (n  30) 4. Tổ chức nghiên cứu 4.1. Thời gian nghiên cứu Đề tài của chúng tôi được nghiên cứu từ tháng 8/2015 đến tháng 5/2016 và được chia làm 3 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Từ tháng 8/2015 đến tháng 11/2015: 20
- Xem thêm -