Tài liệu Skkn một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm về vai trò của giáo viên chủ nhiệm đối với sự phát triển, hoàn thiện nhân cách của học sinh

  • Số trang: 43 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 1292 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

1 1./ TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM VỀ VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN, HOÀN THIỆN NHÂN CÁCH CỦA HỌC SINH 2./ ĐẶT VẤN ĐỀ: 2.1./ Lí do chọn đề tài: - Chúng ta đang sống trong thời đại văn minh, khoa học, với sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ thông tin, nó đã làm cho cuộc sống con người ngày được nâng cao. Nhưng kéo theo đó thì giới trẻ ngày nay chạy theo lối sống hưởng thụ mà họ cho là hợp thời, sành điệu, họ chưa thực sự coi trọng, quan tâm đến những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. - Học sinh hôm nay sống bàng quan, ích kỉ, thiếu trách nhiệm với gia đình, bản thân; chay lười học tập, đua đòi, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp; dùng mạng xã hội Facebook chỉ để “nói nhảm” và giết thời gian. - Điều này đang là vấn đề cấp bách đối với các nhà giáo dục cũng như những người có trách nhiệm. - Một học sinh ngoan ngoãn, chăm chỉ, hiền lành không phải sinh ra đã được như vậy mà nhờ được chăm sóc giáo dục. Bác Hồ cũng đã từng viết “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên”. - Một đứa trẻ lớn lên, hình thành được một tính cách tốt hay xấu trước hết nó phụ thuộc vào sự giáo dục của người lớn trong gia đình, nhà trường, môi trường xã hội, các hoạt động xã hội mà các em tham gia. Mà ở trường thì người gần gũi các em nhiều nhất và có thể có sự ảnh hưởng lớn nhất đến các em là giáo viên chủ nhiệm (GVCN). - Vì vậy, tôi khẳng định rằng vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp rất quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. - Nhưng nếu như công tác chuyên môn của người giáo viên được các nhà trường sư phạm chú trọng đào tạo thì công tác chủ nhiệm của giáo viên chủ nhiệm chưa thực sự được quan tâm. Nhiều giáo viên chủ nhiệm gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. 2 - Và tôi không muốn chỉ nói lên nhìn nhận về thực trạng hiện nay, mà tôi muốn nêu lên những biện pháp khắc phục, những kinh nghiệm, những thành công nho nhỏ trong việc giáo dục nhân cách học sinh THCS của bản thân tôi, mong được chia sẻ và nhận được những đóng góp từ quí thầy, cô giáo. - Đó là lí do để tôi chọn viết sáng kiến kinh nghiệm này : “MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM VỀ VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN, HOÀN THIỆN NHÂN CÁCH CỦA HỌC SINH”. 2.2./ Mục đích viết sáng kiến kinh nghiệm này: Tôi viết sáng kiến kinh nghiệm này với mong muốn : 2.2.1. Ghi lại những biện pháp mình đã làm để suy ngẫm, để chọn lọc và đúc kết thành kinh nghiệm của bản thân. Từ đó đề xuất những biện pháp giáo dục học sinh có hiệu quả, xây dựng và phát triển nhân cách tốt đẹp cho học sinh THCS, giúp các em trở thành những người có ích cho xã hội. 2.2.2. Được chia sẻ với đồng nghiệp những việc đã làm và đã thành công trong công tác chủ nhiệm lớp. 2.2.3.Nhận được những lời góp ý, nhận xét từ đồng nghiệp, cán bộ quản lí nhà trường, Ban Giám khảo của Phòng Giáo dục – Đào tạo, để tôi phát huy những mặt mạnh, điều chỉnh, khắc phục những thiếu sót, để đảm nhận tốt hơn nữa vai trò chủ nhiệm của mình. 2.2.4. Rèn luyện tinh thần năng động, giữ lòng say mê, sáng tạo, cố gắng học tập, tự cải tạo mình để theo kịp sự tiến bộ của thời đại. 2.3./ Đối tượng nghiên cứu: - Công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THCS - Quá trình rèn luyện, phát triển nhân cách của học sinh THCS - Vai trò của giáo viên chủ nhiệm đối với sự hình thành, phát triển nhân cách học sinh. 2.4./ Phạm vi nghiên cứu: - Môi trường giáo dục học sinh trường THCS Nguyễn Trãi - Đại Lộc – Quảng Nam. 3 - Thời gian nghiên cứu: từ năm 2008 (khi bắt đầu được phân công làm công tác chủ nhiệm) đến nay. 2.5./ Nhiệm vụ nghiên cứu: - Phân tích vấn đề nhân cách và vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THCS. Từ đó nêu những nguyên nhân ảnh hưởng, bài học kinh nghiệm và những vấn đề đang đặt ra. -Tiến hành điều tra thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh, phân tích nguyên nhân, tìm ra những yếu tố liên quan đến công tác giáo dục đạo đức học sinh để từ đó đề ra biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay. 2.6./ Phương pháp nghiên cứu 2.6.1/Phương pháp nghiên cứu lý luận Nghiên cứu những kiến thức về tâm lý lứa tuổi, tâm lí sư phạm, cách giải quyết các tình huống sư phạm. 2.6.2/Phương pháp quan sát - Nhìn nhận về công tác giáo dục đạo đức học sinh của trường THCS Nguyễn Trãi và thực trạng nhân cách học sinh hiện nay. - Từ đó đưa ra các biện pháp rèn luyện, giáo dục đạo đức học sinh. 2.6.3/Phương pháp thực nghiệm sư phạm - Vạch ra những kế hoạch, biện nhằm rèn luyện, giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh. - Tiến hành thực hiện, đánh giá hiệu quả của những phương pháp đó. - Phương pháp quan sát - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm GD 2.7./ Những điểm mới của nghiên cứu - Điểm mới của sáng kiến là những kinh nghiệm thực tế của GVCN trong quá trình rèn luyện, giáo dục nhân cách học sinh. 2.8./ Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài: Góp phần vào việc nhận thức đầy đủ hơn vai trò của giáo viên chủ nhiệm đối với quá trình xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THCS. 4 Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giáo dục học sinh trong trường THCS, công tác chỉ đạo của các cán bộ quản lý giáo dục ở trường THCS. 3./ CƠ SỞ LÍ LUẬN: - Nhà trường, gia đình, xã hội có vai trò giáo dục khác nhau đối với sự hình thành, phát triển phẩm chất, đạo đức, lối sống cho học sinh. Trong đó nhà trường được xem là trung tâm, chủ động, định hướng trong việc phối hợp với gia đình và xã hội. - Nhà trường là môi trường giáo dục toàn diện nhất, là cơ quan nhà nước thực hiện chức năng giáo dục chuyên nghiệp nhất, nên nhà trường là lực lượng giáo dục hiệu quả nhất, hội tụ những yếu tố cần thiết để có thể huy động sức mạnh giáo dục từ gia đình, xã hội. Không ai khác người trực tiếp hiện thực hóa những chức năng trên trong trường THCS chính là GVCN. - SKKN này nhằm xác định ý nghĩa, vai trò của GVCN và nhà trường trong hoàn cảnh môi trường xã hội, quan hệ xã hội ngày càng đa dạng, phong phú. Đó không chỉ là việc tổ chức tốt giáo dục trong nhà trường, mà còn tổ chức phối hợp tất cả các hoạt động, các lực lượng của xã hội tạo ra sự thống nhất trong môi trường giáo dục, phát huy mọi tiềm năng của xã hội, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp đến quá trình phát triển, hoàn thiện nhân cách học sinh. - Cơ sở lí luận chủ yếu của tổ chức hoạt động giáo dục giúp phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh là lí luận dạy học và giáo dục, là các vấn đề của tâm lí học về sự phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh thông qua quá trình tổ chức các hoạt động và giao lưu. Đó cũng là luận điểm cơ bản về mối quan hệ giữa cá nhân với hoàn cảnh xã hội và tự nhiên. Nó cũng nói lên mối quan hệ biện chứng giữa quá trình tác động có định hướng của giáo dục xã hội với sự hoạt động, tự giáo dục, tự rèn luyện của cá nhân. - Hiệu quả của hoạt động giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện khách quan và chủ quan của chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục. - Quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống (học tập, lao động, vui chơi, sinh hoạt tập thể, giải trí,….) cho học sinh. Là một quá trình chuyển hóa tự giác, tích cực, những yêu cầu, chuẩn mực xã hội thành hành vi, thói quen tương ứng ở người học dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên. 4./ CƠ SỞ THỰC TIỄN: 5 - Cơ sở thực tiễn của đề tài là thực trạng về lối sống thờ ơ, thiếu trách nhiệm, vô cảm ở một bộ phận học sinh và thực tiễn về vai trò của giáo viên chủ nhiệm đối với sự phát triển, hoàn thiện nhân cách của học sinh - Bên cạnh gia đình thì trường học là mái nhà thứ hai nuôi dưỡng trí tuệ, nhân cách cho học sinh, và ở trường người có thời gian gần gũi, tiếp xúc với các em nhiều nhất chính là GVCN. Chính vì thế mà GVCN có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển, hoàn thiện nhân cách. - Thực tế đã chứng minh rằng người giáo viên chủ nhiệm có phẩm chất và năng lực luôn được đồng nghiệp, phụ huynh tín nhiệm, học sinh kính trọng họ có ảnh hưởng mạnh sự phát triển, hoàn thiện nhân cách học sinh. - Những kinh nghiệm, bài học giáo dục mà tôi rút ra trong quá trình đi dạy, quá trình chủ nhiệm của bản thân. 5./ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: CHƯƠNG 1. VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM. VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH 5.1.1/Vai trò của giáo viên chủ nhiệm (GVCN). Giáo viên chủ nhiệm là người làm công tác quản lí toàn diện lớp học, là người quyết định đến thành công hay thất bại của công tác giáo dục trong nhà trường, là người trực tiếp theo dõi những biến đổi tâm tư, nguyện vọng và tình cảm của mỗi học sinh nên GVCN đại diện cho quyền lợi, nghĩa vụ của tập thể học sinh. GVCN còn là cầu nối giữa học sinh với giáo viên bộ môn (GVBM), gia đình, nhà trường, xã hội, hoàn thiện hệ thống các mối quan hệ, biết phối hợp và thống nhất các tác động để giáo dục học sinh. Để xây dựng được tập thể đoàn kết và giáo dục toàn diện học sinh trong lớp, GVCN phải gương mẫu, có năng lực, có phẩm chất đạo đức, tâm huyết với nghề, yêu thương tận tụy với học sinh. GVCN phải tìm hiểu, nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt, cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, phối hợp với GVBM, tổ chức Đoàn đội để giáo dục học sinh trong lớp mình chủ nhiệm. Xác định mục tiêu, phương hướng và đưa ra những chỉ tiêu, phấn đấu về hạnh kiểm, học tập của học sinh lớp chủ nhiệm. GVCN là người triển khai các giải pháp cụ thể để đạt được kết quả tốt nhất trong công tác. 6 5.1.2/ Vai trò của giáo dục đạo đức, nhân cách - Mục tiêu mà giáo dục hướng đến đó chính là sự trưởng thành của đối tượng giáo dục ở tất cả các mặt: tri thức, hiểu biết, kĩ năng, đạo đức, nhân cách trong đó đạo đức, nhân cách là quan trọng nhất. - Tri thức và nhân cách vốn là hai mặt của một con người, trong đó nhân cách có vị trí đặc biệt quan trọng. Quan niệm này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong câu nói: “ Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. - Đạo đức là tiêu chí đánh giá sự văn minh, cao thượng của xã hội, con người. Người có đạo đức là người cao thượng; một dân tộc, mặc dầu kinh tế còn lạc hậu, nhưng có được đạo đức cần, kiệm, liêm, chính thì vẫn xứng đáng là một dân tộc văn minh. - Đạo đức giúp cho con người luôn giữ được nhân cách, bản lĩnh làm người trong mọi hoàn cảnh, không dễ bị thay đổi trước những xoay vần, biến thiên của thời cuộc: Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể lay chuyển, sức mạnh không thể khuất phục. - CHƯƠNG 2. NHÂN CÁCH, SỰ PHÁT TRIỂN, HOÀN THIỆN NHÂN CÁCH HỌC SINH. 5.2.1./ Khái niệm về nhân cách: - Nhân cách: Là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, qui định bản sắc và giá trị xã hội của con người. - Sự phát triển nhân cách: Biểu hiện qua các dấu hiệu cơ bản sau: + Sự phát triển về mặt tâm lý: biểu hiện ở những biến đổi cơ bản trong các quá trình nhận thức, tình cảm, ý chí, ,hành động, đặc biệt là sự hình thành và hoàn thiện các thuộc tính tâm lí, các quá trình, các trạng thái tâm lý của cá nhân + Sự phát triển về mặt xã hội: Thể hiện ở những biến đổi trong cách ứng xử của cá nhân đối với những người xung quanh, sự tích cực của cá nhân khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội. 5.2.2./Những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách: Di truyền, môi trường, giáo dục, hoạt động cá nhân a) Di truyền: Đó là sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những thuộc 7 tính nhất định. b) Môi trường: là hệ thống phức tạp, đa dạng các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh cần thiết cho sinh hoạt và phát triển của con người. Vai trò của môi trường đối với sự phát triển nhân cách: + Nhờ môi trường cá nhân chiếm lĩnh được các kinh nghiệm xã hội loài người để hình thành và phát triển nhân cách của mình. c) Giáo dục: Là quá trình hình thành cho người được giáo dục lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu. d) Hoạt động cá nhân: Đóng vai trò quyết định trực tiếp tới sự hình thành và phát triển nhân cách của con người. 5.2.3./ Vai trò chủ đạo của giáo dục trong sự phát triển, hoàn thiện nhân cách: Trong những tác động đó thì giáo dục là sự tác động có mục đích, có tổ chức nên nó là nhân tố chủ đạo trong sự phát triển nhân cách. + Giáo dục là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch nhằm thực hiện có hiệu quả các mục đích đã đề ra. + Giáo dục có thể mang lại những tiến bộ mà các nhân tố khác như bẩm sinh, di truyền hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể có được. + Giáo dục còn có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu và làm cho nó phát triển theo chiều hướng mong muốn của xã hội. Đó chính là hiệu quả của công tác giáo dục lại đối với trẻ em hư hoặc những người phạm pháp. CHƯƠNG 3. CÁC MẶT GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC ĐỂ PHÁT TRIỂN, HOÀN THIỆN NHÂN CÁCH HỌC SINH. 5.3.1./Giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc. - Thực tế có một bộ phận học sinh mang tư tưởng sùng bái tư tưởng, cuộc sống phương Tây. Coi nhẹ và lãng quên những truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc, của người Á Đông. - Đó là giáo dục niềm tự hào về một Đất nước đang trong quá trình đổi mới và niềm tự hào về những thành quả mà nhân dân ta, dân tộc ta đã đạt 8 được, được thế giới công nhận như ở các lĩnh vực Toán học ( giải Field), thể thao ( Cờ vua, bơi lội..), các kì thi Olympic thế giới.. - Giáo dục cho học sinh tinh thần yêu nước là giáo dục cho các em về những truyền thống cao đẹp của dân tộc như sống giàu tình cảm, hài hòa giữa lí và tình, gắn bó với tổ tiên, quê hương, cội nguồn. Cần có ví dụ cụ thể nhằm giúp học sinh nhận thức được những phẩm chất truyền thống của dân tộc chẳng hạn ngày lễ tết, người Việt thường chọn về quê sum họp trong không khí đầm ấm của gia đình thay cho việc đi tham quan, du lịch như các nước phương Tây. Nhận thức được vẻ đẹp truyền thống của dân tộc sẽ giúp học sinh thêm tự hào về đất nước, dân tộc mình. Từ đó nâng cao niềm tin ở tương lai và khơi gợi ý thức đóng góp, cống hiến của thế hệ học sinh hôm nay. 5.3.2./Giáo dục lí tưởng sống: - Giáo dục lí tưởng sống cho học sinh cũng là một trong những nội dung quan trọng của công tác phát triển, hoàn thiện nhân cách học sinh. Rèn luyện cho học sinh sống có lí tưởng và theo đuổi lí tưởng cao đẹp là một việc có ý nghĩa lớn lao đối với người GVCN. - Trước hết cần giúp học sinh hiểu rõ khái niệm “lí tưởng sống” là gì? Lí tưởng sống là mục đích sống cao nhất, tốt đẹp nhất mà con người muốn vươn tới. Lí tưởng sống là thước đo phẩm chất con người. - Mỗi một thế hệ theo đuổi một mục đích sống riêng. Trong thời đại chống giặc ngoại xâm , hàng triệu thanh niên đã lên đường ra trận vơi bài ca “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”, dâng hiến tuổi xuân cho Đất nước. Đó là một thế hệ đã sống với một lí tưởng cao cả:chiến đấu và hi sinh cho độc lập, tự do của Tổ Quốc. - Trong số những anh hùng liệt sĩ đã hi sinh vì nền độc lập dân tộc, Anh hùng Liệt sĩ Lý Tự Trọng đã để lại câu nói nổi tiếng về lí tưởng sống “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng chứ không thể là con đường nào khác”. Câu nói nổi tiếng ấy cùng với sự hi sinh cao cả của Anh hùng Lý Tự Trọng đã trở thành biểu tượng cao đẹp của Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng, thôi thúc thế hệ thanh niên đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. - Cho đến hôm nay, đất nước đã bước sang thập niên thứ hai của thế kỉ 9 XXI. Lịch sử đã sang trang mới với những cơ hội, thách thức mới. Bắt kịp sự phát triển của thời đại hay thụt lùi, lạc hậu – đó là câu hỏi đặt ra cho các thế hệ hôm nay. Trả lời được câu hỏi ấy nghĩa là đã nhận thức và tìm được một mục đích sống đúng đắn, cao đẹp. - Tuy nhiên nhìn vào thực tế lại thấy đang có sự khủng hoảng về lí tưởng sống ở một bộ phận không nhỏ trong thế hệ ngày nay. Không xác định được mục đích sống, sống vị kỉ, cá nhân, vô nghĩa, ngập chìm trong những trò game, online vô bổ...đó là những vấn đề đáng báo động ở giới trẻ học đường. - Mục tiêu phấn đấu của chúng ta hiện nay là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Để đạt được mục tiêu đó, mỗi cá nhân, con người phải phấn đấu thành đạt trong cuộc sống riêng, để cống hiến cho xã hội. - Cần tuyên truyền, nêu gương những tấm gương sáng: những người lao động phát minh ra công cụ phục vụ, cải tiến sản xuất; những Tiến sĩ, phó Giáo sư tuổi đời mới ngoài 30, sẵn sàng từ chối công việc với mức lương hấp dẫn ở nước ngoài để về phụng sự Đất nước. Đó là những người có lí tưởng sống cao đẹp, đúng đắn mà chúng ta cần giáo dục để học sinh noi theo. - Có thể nói rằng, lý tưởng sống chính là chiếc chìa khoá để mở cửa tương lai của mỗi người. Tương lai thế nào phụ thuộc chủ yếu vào lý tưởng sống của bản thân mỗi con người chúng ta. - Đối với học sinh, chúng ta càng nên định hướng cho các em một lí tưởng sống tốt đep. Đó sẽ là nguồn động lực để các em cố gắng học tập, vươn lên trong học tập và đạt được nhiều thành tích, đem lại niềm vinh dự cho bản thân, gia đình và Tổ quốc. 5.3.3./Giáo dục tình cảm đạo đức: - Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết :” Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên” - Một người trở thành lương thiện hay bất lương “phần nhiều do giáo dục mà nên”. Điều này cho thấy người GVCN có vai trò như thế nào trong việc giáo dục nhân cách cũng như tình cảm đạo đức học sinh. - Tình cảm đạo đức thể hiện biểu hiện ra bên ngoài bằng thái độ, cảm xúc, hành động. Chẳng hạn trước những hành vi đen tối, bỉ ổi, con người thường 10 căm giận, ghê tởm. Trước những nghĩa cử cao đẹp, con người sẽ thán phục, tự hào. - Một khía cạnh trong giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh đó là giáo dục và bồi dưỡng lòng yêu thương, sự quan tâm, chia sẻ. - Cơ chế thị trường đã đem đến cho con người cuộc sống hiện đại, phát triển, nhịp điệu hối hả, vội vàng. Thế nên mặt trái của nó là khiến cho sự lạnh lùng, vô cảm đang có nguy cơ gia tăng trong xã hội. Điều đó đặt ra cho ngành giáo dục nói chung và GVCN nói riêng một nhiệm vụ hết sức quan trọng là giáo dục lòng nhân ái, yêu thương giữa con người với con người trong xã hội. - Việc giáo dục lòng nhân ái, yêu thương cho học sinh là công việc đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ. Trước hết cần thông qua những việc làm cụ thể để bồi dưỡng tình yêu thương ở các em. Tránh giáo dục lí thuyết, áp đặt. Hãy từ một hoàn cảnh cụ thể trong lớp, trong trường khơi gợi ở các em sự quan tâm, chia sẻ, từ việc làm nhỏ đến ý thức trách nhiệm lớn. - Học sinh cần nhận thức được rằng: tình cảm yêu thương, tấm lòng nhân ái là một khía cạnh đạo đức con người. Bắt đầu từ sự lắng nghe, quan tâm, sau đó là chia sẻ, giúp đỡ, cao hơn hết là sự hi sinh. - Một khía cạnh nữa trong giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh đó là giáo dục ý thức và thái độ kính trọng, yêu quí người lớn tuổi, thầy cô giáo... - Để giáo dục học sinh ý thức, thái độ kính trọng, lễ phép đối với người lớn, với thầy cô giáo phải có biện pháp cụ thể. Ví dụ như: trong mỗi học kì, cần tổ chức những buổi sinh hoạt chuyên đề về tình cảm thầy-trò, về mái trường và tập thể lớp. - Giáo viên phải là người thấu hiểu, nâng niu, trân trọng những cử chỉ, hành vi biểu lộ tình cảm cao đẹp giữa thầy và trò. Không nên có lời nói, cử chỉ khiến học trò cảm thấy bị tổn thương. Từ những cử chỉ, hành vi, lời nói biểu lộ tình cảm đơn sơ, mộc mạc, GVCN cần biết cách nâng lên thành ý thức về đạo lí thầy trò, về mối quan hệ cao đẹp trong xã hội. 5.3.4./Giáo dục bổn phận, trách nhiệm: - Trong đời sống xã hội, quyền lợi bao giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ, hưởng thụ đi đôi với bổn phận, trách nhiệm. Nếu con người chỉ biết đòi hỏi quyền lợi của mình và hưởng thụ mà không nghĩ đến nghĩa vụ và bổn phận, trách nhiệm của mình thì dần dần sẽ trở thành những kẻ ích kỉ, thờ ơ, vô trách nhiệm. 11 Chính vì vậy, giáo dục cho học sinh ý thức về bổn phận, trách nhiệm của cá nhân là một yêu cầu quan trọng. - Học sinh cần có ý thức về bổn phận, trách nhiệm của mình trong từng mối quan hệ của cuộc sống. Đó là bổn phận của con cái trong gia đình, bổn phận của cá nhân đối với tập thể, trách nhiệm của mỗi người đối với cộng đồng xã hội. - Trong tập thể, những học sinh ích kỉ, quen được chiều chuộng là những học sinh chỉ biết quan tâm đến quyền lợi của mình. - Để giáo dục ý thức về bổn phận, trách nhiệm, GVCN cần đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với từng học sinh trong lớp. - Đối với cán bộ lớp, ý thức trách nhiệm biểu hiện ở chỗ gương mẫu thực hiện nội quy nhà trường, hoàn thành nhiệm vụ được giao. - Đối với các thành viên trong tập thể, ý thức trách nhiệm thể hiện ở việc nghiêm túc chấp hành nề nếp,nội quy, tham gia đầy đủ, tích cực phong trào hoạt động của lớp. - Để làm được điều đó, GVCN là người đưa ra yêu cầu để phát hiện học sinh gương mẫu, có phương pháp học tập khoa học, có tác phong mẫu mực, sẵn sàng nhận trách nhiệm, biết chịu trách nhiệm trước tập thể, biết tập hợp các bạn. Nhận xét trước lớp, khen ngợi, động viên các em, đồng thời cũng nhắc nhở, phê bình những bạn chưa tốt để giáo dục các em. 5.3.5./Giáo dục tính tập thể: - Tính tập thể là một trong những phẩm chất quan trọng đối với thế hệ học sinh hôm nay. Bởi vì tính tập thể ở mỗi cá nhân là một yếu tố có tính quyết định cho sự phát triển, lớn mạnh của một tập thể, dù ở đâu. - Tinh thần tập thể thể hiện ở tinh thần, ý thức tự giác trong công việc, cũng như cuộc sống cá nhân; ở việc tự giác, nhiệt tình tham gia các hoạt động chung, hết mình vì quyền lợi chung và gắn bó với các thành viên trong tập thể. Tính tập thể không phải là thuộc tính có sẵn mà là kết quả của quá trình giáo dục, rèn luyện lâu dài vơi những phương pháp cụ thể, thích hợp. - Trong công việc cần phân công theo nhóm, theo tổ để tạo sự gắn bó giữa các thành viên, hướng tới hoàn thành nhiệm vụ chung. Hướng dẫn các em tổ chức, phân công công việc cụ thể, tránh việc đùn đẩy, ỷ lại, dẫn đến vô trách nhiệm. 12 - Lấy ví dụ một việc nhỏ như kê xếp ghế lớp trong những giờ chào cờ, nếu không giao việc, không rèn luyện ý thức tập thể thì sẽ dẫn đến tình trạng chỉ có vài cá nhân gánh vác việc này. Những học sinh còn lại trong lớp sẽ thản nhiên thừa hưởng công sức của người khác và không tự giác chuẩn bị. - Trong các công việc tập thể, cần triển khai trước lớp dưới hình thức lấy ý kiến các cá nhân để tạo ra mối quan tâm ở tất cả học sinh trong lớp. Tránh tình trạng chỉ có cán bộ lớp biết việc và tự giải quyết công việc. Các thành viên khác được tham gia sẽ thấy được vai trò, trách nhiệm của các em trong tập thể, thì các em sẽ trở nên gần gũi hơn, tinh thần và ý thức tập thể dần dần được hình thành. - Trong quá trình giáo dục tính tập thể cho học sinh, GVCN cần quan tâm tìm hiểu và phát hiện kịp thời những biểu hiện sai trái, tồn tại trong tập thể gây ảnh hưởng đến việc giáo dục tính tập thể cho học sinh. Chẳng hạn: gây bè kéo cánh hoặc chủ nghĩa cá nhân trong học sinh. Người GVCN cần kiên quyết loại bỏ, ngăn chặn những hành vi này trên tinh thần giáo dục cho học sinh nhận thức được hậu quả những hành vi ấy. 5.3.6./Giáo dục tính độc lập: - Tính độc lập là sự tự tin ở năng lực bản thân, là khả năng tự giải quyết các tình huống xảy ra trong cuộc sống và tinh thần tự giác tự chịu trách nhiệm về bản thân. - Hiện tượng học sinh trước khó khăn, cũng như trước cơ hội của mình thường lúng túng không biết phải làm gì là hiện tượng khá phổ biến. - Bên cạnh những học sinh năng động, sáng tạo vẫn còn một bộ phận không nhỏ rụt rè, thụ động. - Điều này đặt ra cho GVCN một nhiệm vụ quan trọng, đó là phải giáo dục, rèn luyện cho học sinh tính độc lập, tự chủ trong cuộc sống. - Tính độc lập thể hiện ở chỗ khi tổ chức một phong trào hoạt động học sinh có khả năng tự mình xây dựng kế hoạch mà không chờ sự giúp đỡ của người khác. - Những học sinh có tính độc lập sẽ nhanh chóng tìm ra cách xử lí nhanh nhất cho dù cách xử lí đó chưa phải là hay nhất. 13 - Một trong những biểu hiện của tính độc lập là khi mắc sai lầm và phạm lỗi, học sinh tự mình phân tích được nguyên nhân, hậu quả, cách khắc phục. Đây là một trong những yếu tố rất quan trọng của nhân cách con người. CHƯƠNG 4. CÁC TIÊU CHÍ CỦA MỘT GVCN Theo tôi, người GVCN cần có những tiêu chí sau: 5.4.1./ Lấy bản thân là tấm gương cho học sinh: -Trong thực tiễn giáo dục nói chung và trong công tác chủ nhiệm nói riêng không có phương pháp giáo dục nào hiệu quả và thuyết phục bằng bản thân nhà giáo dục. Bản thân tôi cho rằng chủ nhiệm là quá trình “chinh phục” học sinh của giáo viên. Nên trước nhất giáo viên chủ nhiệm phải có năng lực chuyên môn thật vững vàng. Năng lực chuyên môn ở đây bao gồm cả trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm. Đúng như người ta vẫn gọi: giáo viên là những kĩ sư tâm hồn. Người giáo viên chủ nhiệm lại càng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giáo dục học sinh, không chỉ về tri thức mà còn định hình cho các em về nhân cách, lẽ sống, biết yêu thương, sống có trách nhiệm cho bản thân, gia đình và xã hội. Những hành động, cử chỉ, lời lẽ của giáo viên có tác động to lớn đến sự phát triển trí tuệ và nhân cách của học trò. Thói quen ăn mặc chỉnh tề, nói năng từ tốn, cư xử lịch thiệp, đi đứng trang nghiêm… của thầy cô giáo, là “mệnh lệnh không lời”, là tấm gương tốt để học sinh noi theo. Vì vậy, khi lên lớp, giáo viên cần chú ý đến cách đi đứng, nói năng, cách ăn mặc, cách cầm sách, chữ viết, thái độ,...để học sinh noi theo. Không vì bất cứ lí do gì mà cho phép mình cẩu thả hoặc xuề xòa, qua loa trước mặt học sinh. Ngược lại nếu các thầy cô giáo ăn mặc thiếu nghiêm túc, hành xử thiếu tế nhị, thiếu chững chạc, sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động của học sinh, ảnh hưởng không tốt đến môi trường giáo dục vốn lấy đạo đức, thanh liêm, lễ nghĩa làm trọng. Trước mỗi tình huống sư phạm giáo viên phải cố gắng xử lý sao cho khéo léo, vừa đảm bảo hiệu quả giáo dục, nhưng cũng tạo cho các em sự khích lệ, tránh sự căng thẳng trong tiết học. Sau mỗi tình huống xử lý chưa được tốt, nên suy nghĩ lại lúc đó phải làm thế nào mới là tốt nhất, để rút kinh nghiệm, không xảy ra trường hợp tương tự. 14 Người giáo viên đứng lớp được ví như một nghệ sĩ trên sân khấu, nhưng những “kịch bản” đôi lúc lại nằm ngoài giáo án của thầy. Chính vì thế ngoài sự khéo léo truyền đạt cho các em về kiến thức bài vở, người thầy cần nhấn mạnh đến ý thức học tập, ý thức bản thân trước gia đình và xã hội. Để qua mỗi bài giảng, mỗi lời nói, cử chỉ của thầy có những tác động tích cực đến những tâm hồn các em. Đồng thời, trong quá trình giảng dạy, người thầy phải vị tha, biết rắn, biết mềm trong những trường hợp thích hợp để các em vừa kính trọng, nể phục và yêu quý người thầy. Từ đó, giúp các em tiếp cận với tri thức và hiểu sâu sắc hơn về đạo lý làm người. 5.4.2./Giáo dục bằng tình yêu thương của người mẹ. - Theo tôi một trong những phẩm chất cần có ở một người giáo viên chủ nhiệm lớp là tình cảm của một người mẹ. - Mà “Mẹ thì hiền”, “mẹ cũng có thể nghiêm khắc nhưng bao giờ cũng yêu quý con, hiểu con và chia sẻ với con những điều con vướng mắc”, “mẹ luôn là chỗ dựa tin cậy mỗi khi con vấp ngã hoặc sai lầm”… - Thời gian học sinh ở trường có thể bằng, thậm chí nhiều hơn ở nhà, con người nói chung và học sinh cũng vậy, luôn khao khát được yêu thương, được vỗ về, an ủi. Vậy nên, nếu người GVCN nào dành cho học sinh thái độ, tình cảm như của mẹ dành cho con, hiệu quả công tác chủ nhiệm sẽ lớn hơn rất nhiều so với GVCN lạnh lùng, thờ ơ không gần gũi yêu thương học sinh. 5.4.3./Giáo viên chủ nhiệm cần phải là người bạn của học sinh. - Nhu cầu chia sẻ tâm tư, tình cảm, trao đổi phương pháp học tập…của học trò là rất lớn. Có những điều các em không nói với mẹ, không nói với thầy cô mà chỉ tâm sự với bạn. - Bởi vậy, nếu GVCN tạo được niềm tin tưởng, sự thân thiện gần gũi với học sinh, các em sẵn sàng tâm sự, kể cả những điều sâu kín nhất của lứa tuổi. Khi đó, GVCN có cơ hội hiểu các em hơn, tư vấn và gỡ rối cho các em những băn khoăn của tuổi mới lớn, những mâu thuẫn của quan hệ học trò, thậm chí cả những khúc mắc trong gia đình…Khi “là người bạn” của các em, không hề làm giảm vị thế của GVCN mà trái lại, uy tín của người GVCN tăng lên đồng thời tạo lập một môi trường, một không khí gần gũi, thân thiện đoàn kết trong lớp. 15 5.4.4./ Giáo viên chủ nhiệm cần có năng lực của một “luật sư” và “thẩm phán” - Một lớp học trên 30 học sinh với sự đa dạng về tính cách, với sự phức tạp của tâm lý lứa tuổi không thể tránh khỏi những mâu thuẫn xung đột trong tập thể lớp và các phát sinh các tình huống giáo dục - Vì vậy, người GVCN phải là một nhà tâm lý, biết kìm chế căng thẳng và quản lý cảm xúc bản thân, hiểu quy luật phát triển tâm lý và các điều kiện phát triển tâm lí ở lứa tuổi học sinh để từ đó xây dựng Kế hoạch công tác chủ nhiệm cho phù hợp và hiệu quả. - GVCN phải là một “luật sư” nắm rõ các quy định, qui chế giáo dục; một nhà quản lý, một vị“ thẩm phán” công bằng, nghiêm minh giải quyết một cách thuyết phục, thỏa đáng những mâu thuẫn trong tập thể lớp. 5.4.5./GVCN cũng là một nhà khoa học. - Một GVCN thành công trong công tác chủ nhiệm là: lớp chủ nhiệm có nề nếp tốt, có chất lượng học tập tốt, nhiều học sinh đạt được thành tích cao trong học tập. - Muốn vậy, ngoài những phẩm chất trên, người GVCN cũng cần phải là một giáo viên dạy giỏi và luôn luôn biết khích lệ, biết thắp sáng “ngọn nến” say mê trong lòng người học. CHƯƠNG 5. TIẾP NHẬN LỚP CHỦ NHIỆM. 5.5.1./Nhận lớp chủ nhiệm Những việc làm đầu tiên của tôi khi nhận lớp chủ nhiệm luôn luôn là: a) Phổ biến nội quy trường học, nêu rõ những điều học sinh nên làm và không được làm là gì. -Điều này rất cần thiết, không bao giờ thừa ở đầu mỗi năm học. -Nắm bắt lại những qui định học đường, học sinh sẽ định hướng rõ những việc nên và không nên làm. -Tránh việc sau này vi phạm rồi lại đổ lỗi là : “do em không biết” b) Phổ biến qui chế xếp loại học lực, hạnh kiểm của học sinh - Việc này giúp học sinh có những mục tiêu phấn đấu cụ thể trong năm học. 16 c) Bầu ban cán sự lớp và rèn luyện để ban cán sự làm việc hiệu quả. - Ban cán sự lớp là lực lượng nòng cốt, đảm bảo sự vững mạnh của một tập thể. Hỗ trợ đắc lực cho GVCN trong công chủ quản lý lớp. Do đó phải lựa chọn thật kĩ, có một ban cán sự năng lực là GVCN đã thành công một nửa trong công tác quản lý, giáo dục học sinh của mình. d) Hoàn thành sơ đồ lớp. - Những tưởng việc này không quá quan trọng nhưng thật ra đây chính là “sợi dây thừng vô hình” kì diệu. - Chắc chắn trong một năm học, không thể tránh việc thay đổi sơ đồ lớp, nhưng không vì điều này mà GVCN quá chọn lựa để chậm chạp trong việc hoàn thành sơ đồ lớp đầu năm. - Nếu không có sơ đồ lớp GVCN và cả giáo viên bộ môn rất khó quản lý lớp, chẳng biết em thường phát biểu tên gì, em hay nói chuyện tên gì, em thiếu tập trung là ai…Và học sinh lười cứ thoải mái, tự do vì thầy cô có biết mình là ai đâu mà lo. Còn những em học khá thì cũng không mấy tích cực xây dựng bài, vì vốn dĩ các em thích được gọi bằng tên, được thầy cô biết mình cố gắng…. Tất cả những điều này đều do sơ đồ lớp mà ra. - Ngược lại, ngay từ đầu bước vào lớp, sơ đồ lớp nằm trên bàn thì học sinh sẽ thấy ngay rằng mình đang nằm trong “lòng bàn tay” của giáo viên, cứ thế mà lo chỉn chu, nghiêm túc dần thôi. Học sinh nào chưa ngoan, lười biếng hay học giỏi, tích cực thì giáo viên bộ môn đã nhanh chóng trao đổi với GVCN rồi. GVCN từ đó dễ dàng, nhanh chóng nắm bắt tình hình lớp, đưa ra biện pháp quản lý phù hợp. Như vậy nề nếp chất lượng sao không tốt, giáo dục đạo đức, nhân cách học sinh sao không tốt được. 5.5.2./ Xây dựng nề nếp lớp học: a) Nắm thông tin về học sinh - Mỗi giáo viên chủ nhiệm lớp, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, muốn đề ra các biện pháp giáo dục học sinh phù hợp, đạt hiệu quả thì trước hết giáo viên phải hiểu học sinh, phải nắm được đầy đủ các thông tin cần thiết về từng học sinh. - Do vậy, ngay từ ngày đầu nhận lớp, tôi thực hiện ngay công tác điều tra thông tin về lí lịch, học tập học sinh. 17 - Qua đó tôi nắm được đầy đủ các thông tin cần thiết về từng học sinh để ghi vào Sổ Chủ nhiệm. Và quan trọng hơn cả là tôi đã hiểu một phần về học sinh của mình, điều đó rất hữu ích cho tôi trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh. b) Bầu Ban Cán sự lớp : - Việc bầu chọn và xây dựng đội ngũ Ban Cán sự lớp là một công việc rất quan trọng mà người giáo viên chủ nhiệm nào cũng cần phải làm ngay sau khi nhận lớp mới. - Công việc này quả thật khó khăn khi chưa nắm rõ về các học sinh trong lớp, do đó GVCN phải cố gắng quan sát và chọn lựa thật kĩ để lớp có được những ổn định ban đầu, điều này rất quan trọng để nề nếp kỉ luật, học tập lớp đi vào ổn định. - Trong quá trình làm việc nếu nhận thấy học sinh khác có năng lực tốt hơn thì GVCN có thể thay thế Ban cán sự lớp, nhưng phải thật khéo léo để học sinh bị thay thế không mặc cảm, bị tổn thương. c) Phân công nhiệm vụ cụ thể cho Ban Cán sự lớp: Sau khi đã bầu chọn được Ban Cán sự của lớp, tôi giao nhiệm vụ cụ thể cho từng em như sau: * Lớp trưởng: + Nhiệm vụ của lớp trưởng. - Tổ chức, quản lý lớp thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện của Nhà trường - Theo dõi, đôn đốc lớp chấp hành đầy đủ và nghiêm chỉnh nội quy, quy chế, quy định về học tập. Xây dựng và thực hiện nề nếp tự quản đối với các thành viên trong lớp. - Truyền đạt và tổ chức lớp thực hiện các thông báo Nhà trường - Phản ánh tình hình của lớp, đề xuất những kiến nghị của lớp về những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của học sinh GVCN để giải quyết những vấn đề có liên quan. Tổ chức động viên những học sinh trong lớp gặp khó khăn trong học tập, rèn luyện và đời sống. 18 - Thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm để báo cáo về tình hình lớp; xin ý kiến tư vấn nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến diễn biến tư tưởng, học tập, rèn luyện và sinh hoạt của học sinh trong lớp. - Tổ chức sinh hoạt lớp theo thời khóa biểu, kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ học tập, thực hiện các nội quy, quy định của trường trong tháng, bình xét điểm rèn luyện tháng, đề ra nhiệm vụ cho tháng tiếp theo; tổ chức họp lớp đột xuất khi có việc. - Liên hệ với giáo viên để chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho học tập; đôn đốc các bạn trong lớp đi học đầy đủ, đúng giờ, nghiêm túc. Phối hợp cùng giáo viên để điểm danh và ghi sổ theo dõi giảng dạy. - Liên hệ để nhận kế hoạch học tập và thời khóa biểu. - Phối hợp với Đoàn đội trong các hoạt động của lớp cũng như hoạt động của Trường. - Thực hiện các nhiệm vụ khác do GVCN trực tiếp giao cho. - Chịu trách nhiệm trước GVCN về tình hình lớp. + Tiêu chuẩn: Là người nhanh nhạy, có trách nhiệm với công việc, có thể thu xếp được thời gian. * Lớp phó học tập (LPHT) + Nhiệm vụ của LPHT: - Lớp phó phụ trách học tập là người giúp lớp trưởng điều hành, quản lý các hoạt động liên quan đến học tập của lớp và của từng thành viên trong lớp. - Giúp lớp trưởng điều hành và quản lý lớp, đôn đốc lớp thực hiện nghiêm túc Quy chế và các Quy định của Nhà trường. - Tổ chức lớp thực hiện đầy đủ và hoàn thành kế hoạch học tập. - Liên hệ với giáo viên phụ trách môn học để chuẩn bị thiết bị phục vụ cho môn học. - Ðôn đốc các bạn đi học đầy đủ, đúng giờ, đảm bảo học tập nghiêm túc; điểm danh, ghi sổ theo dõi giảng dạy đầy đủ, kịp thời. - Liên hệ với thư viện để đăng ký mượn tài liệu học tập và phân bổ tài liệu cho các bạn lớp. 19 - Chọn 1 nhóm các bạn học khá để hình thành cán sự môn học, giúp các bạn khác học tập. - Vì đây là chức vụ xử lý nội bộ, nên biểu hiện và cách làm của LPHT sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của lớp, từ đó ảnh hưởng đến sự đoàn kết trong lớp (Nếu LPHT chỉ chơi với 1 nhóm, nhóm đó học tốt hơn các nhóm khác sẽ dần làm cho lớp bị chia rẽ). - Đây là một chức vụ quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của lớp và sự đoàn kết của tập thể. + Tiêu chuẩn: người có lực học tốt, có uy tín với lớp và hòa đồng. Đây là chức vụ quan trọng nên không được chỉ chọn 1 người chỉ biết học cho mình mà không biết giúp bạn khác. * Thủ quỹ + Nhiệm vụ của thủ quỹ: - Phụ trách các khoản kinh phí của lớp. - Đây là chức vụ quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến sự đoàn kết của tập thể. - Công việc chủ yếu: Phụ trách thu, chi các khoản phí, đóng góp và quản lý tiền quỹ. - Việc minh bạch trong thu, chi và quản lý các khoản quỹ sẽ làm cho tập thể an tâm hơn các hoạt động, làm cho lớp đoàn kết hơn. - Nếu thu, chi không minh bạch, không công bố đầy đủ cho tập thể biết, quản lý quỹ không an toàn, cẩn thận sẽ dễ làm nảy sinh các nghi vấn về tiền bạc. - Đây là một điều rất khó xử lý vì nó còn liên quan đến gia đình của các thành viên, nên sẽ rất dễ làm mất đoàn kết trong lớp. Nếu thủ quỹ chơi với 1 nhóm nào đó và không minh bạch thu chi, các thành viên khác sẽ rất dễ nghi ngờ số tiền đóng góp của mình được dùng để chi cho người khác. Điều này rất nguy hiểm trong tập thể. + Tiêu chuẩn: Là người cẩn thận, kỹ lưỡng, biết tính toán, có uy tín trong tập thể, hòa đồng với mọi thành viên trong tập thể. *Lớp phó thể mỹ: - Là người chịu trách nhiệm mảng Thể thao , Văn nghệ của lớp. 20 - Công việc cụ thể: Cùng với lơp trưởng tổ chức, điều hành các phong trào của Chi đội. + Tiêu chuẩn: Là người có năng khiếu về mặt thể thao hoặc văn nghệ, biết cách tổ chức cho tập thể các hoạt động đó. * Lớp phó lao động: - Chịu trách nhiệm tổ chức, điều hành lớp trong các buổi lao động do trường, lớp tổ chức. - Phân công, theo dõi và kiểm tra các tổ trực nhật và chịu trách nhiệm tắt đèn, quạt khi ra về. - Phối hợp với lớp trưởng giữ trật tự lớp. + Tiêu chuẩn: là người có năng lực tổ chức, điều hành, có uy tín với tập thể, xông xáo trong công việc. Nhiệm vụ của mỗi em, tôi ghi rõ ràng trong một cuốn sổ, sau đó phát cho các em. Tôi hướng dẫn từng em cách ghi chép trong sổ một cách khoa học, cụ thể, rõ ràng. Mỗi em sẽ làm đúng các nhiệm vụ của mình. Ngoài ra, Ban cán sự trưởng phải đoàn kết và hợp tác chặt chẽ với nhau trong công việc chung. Đầu mỗi tuần, vào tiết sinh hoạt lớp ngày thứ hai, Ban cán sự lớp báo cáo các mặt hoạt động của lớp. Căn cứ vào báo cáo của từng em, tôi nắm được khả năng quản lí lớp của từng em. Và cứ cuối mỗi tháng, tôi tổ chức họp Ban Cán sự lớp 1 lần để tổng kết các mặt làm được của lớp, động viên khen ngợi những việc các em đã làm tốt, đồng thời chỉ rõ những thiếu sót và hướng dẫn các em cách khắc phục. CHƯƠNG 6. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC NHẰM PHÁT TRIỂN, HOÀN THIỆN NHÂN CÁCH HỌC SINH. Công tác chủ nhiệm đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt, có nhiều phương pháp để giáo dục học sinh. Ở đây, tôi xin nêu một số những phương pháp cần thiết: 5.6.1./Uy tín của giáo viên quyết định sự thành công trong việc giáo dục nhân cách học sinh. - Thực tiễn đã chứng minh rằng giáo dục học sinh là “dùng nhân cách để giáo dục nhân cách”, do đó muốn thực hiện tốt công tác của mình thì người
- Xem thêm -