Tài liệu Skkn một số biện pháp giúp trẻ ăn ngon miệng ở trường mầm non

  • Số trang: 13 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 989 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

MỤC LỤC PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................................................2 1.Lý do chọn đề tài:...............................................................................................2 2. Đối tượng và phạm vi thực hiền đề tài;.............................................................2 PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.......................................................................3 1. Cơ sở lý luận......................................................................................................3 2. Cơ sở thực tiễn..................................................................................................4 a. Khó khăn............................................................................................................4 b. Thuận lợi...........................................................................................................4 c. Khảo sát thực tế:................................................................................................4 3. Các biện pháp thực hiện:...................................................................................5 * Biện pháp 1: Xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn.........................................5 * Biện pháp 2: Dinh dưỡng về vệ sinh an toàn thực phẩm...................................7 * Biện pháp 3: Kỹ thuật chế biến thức ăn.............................................................8 4: Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm.....................................................................10 PHẦN III. KẾT LUẬN.......................................................................................11 1. Bài học kinh nghiệm........................................................................................11 2. Kiến nghị.........................................................................................................12 1/14 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Lý do chọn đề tài: Như chúng ta đã biết, gia đình là nền tảng của Xã hội. Trong đó, trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình; là tế bào; là mầm xanh; là chủ nhân tương lai của đất nước. Chính vì vậy để giúp trẻ phát triển toàn diện thì việc kết hợp hài hòa giữa việc nuôi dưỡng chăm sóc sức khỏe và giáo dục là điều tất yếu. Mục tiêu giáo dục Mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. Để đạt được mục tiêu giúp trẻ phát triển toàn diện thì việc kết hợp hài hoà giữa nuôi dưỡng, chăm sóc sức khoẻ và giáo dục và điều tất yếu, giúp cơ thể trẻ khoẻ mạnh, phát triển cân đối, giúp trẻ biết tự bảo vệ, giữ gìn sức khoẻ. Ngày nay cùng với sự phát triển chung của xã hội, mỗi gia đình đều có cuộc sống đầy đủ sung túc hơn. Chính vì vậy trẻ em được hưởng sự chăm sóc đặc biệt của gia đình và toàn xã hội. Thế nhưng nhiều ông bố, bà mẹ vẫn phàn nàn rằng “Không hiểu tại sao con mình lại biếng ăn"? Như vậy, chế độ ăn như thế nào là hợp lý, là khoa học? làm thế nòa để giúp trẻ ăn ngon miệng? Đó cũng là vấn đề được rất nhiều các bậc phụ huynh quan tâm. Là cô nuôi trong trường và là một người mẹ có con đang học tại trường mầm non Tân Ước tôi cũng có nỗi băn khoan như họ. Chính điều này đã thôi thúc tôi chọn đề tài " Một số biện pháp giúp trẻ ăn ngon miệng" để phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Để trẻ phát triển tốt về thể chất thì chúng ta phải cân đối hài hòa hợp lí giữa các chất dinh dưỡng với nhau đẻ chế biến những món ăn ngon, giúp trẻ ăn ngon miệng và ăn hết xuất của mình, nhằm giúp trẻ tăng cường sức khỏe làm cơ sở cho sự phát triển của nhiều hoạt động mà trẻ tham gia ở gia đình cũng như ở nhà trường một cách tốt nhất, quan trọng hơn là sự phát triển nhân cách cho trẻ. 2. Đối tượng và phạm vi thực hiền đề tài; - Đối tượng: là các cháu nhà trẻ và mẫu giáo trường mầm non Tân Ước. - Phạm vi: Thực hiện tại trường mầm non Tân Ước Từ tháng 9 năm 2015 đến hết tháng 4 năm 2016 2/14 PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận Dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của con người, đặc biệt là trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển thể lực và trí tuệ còn người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự sống và làm việc, hay nói cách khác dinh dưỡng quyết định sự tồn tại và phát triển của cơ thể mà đặc trưng cơ bản của sự sống là sinh trưởng, phát triển, sinh sản, cảm ứng, vận động, trao đổi chất và năng lượng. Như chúng ta cũng đã biết con người là một thực thể sống nhưng sự sống không thể tồn tại được nếu con người không ăn và uống. Từ đó cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của việc ăn và uống, đây là nhu cầu hàng ngày, một nhu cầu cấp bách, bức thiết không thể thiếu được đối với mỗi con người chúng ta, đặc biệt là trẻ em vì trẻ em lúc này đang trong thời kỳ phát triển mạnh. Vì vậy nhu cầu dinh dưỡng rất lớn. Nếu thiếu ăn trẻ sẽ là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả của các bệnh về dinh dưỡng như: suy dinh dưỡng, còi xương, gầy yếu, sức đề kháng kém… Bên cạnh đó, tình trạng trẻ biếng ăn cũng đang được rất nhiều các bậc phụ huynh phàn nàn và quan tâm. Vậy chúng ta hãy tự hỏi: “Vì sao trẻ biếng ăn”? Có rất nhiều nguyên nhân, có thể là do thức ăn không phù hợp khẩu vị, không phù hợp với lứa tuổi của trẻ, hay trẻ bị ép ăn theo một chế độ cứng nhắc tạo nên tâm lí sợ an, hay ăn uống vặt, không đúng bữa, cũng có thể do trẻ bị nhiễ ký sinh trùng đường ruột, hay trẻ bị thiếu một số vitamin… Chúng ta biết rằng tình trạng dinh dưỡng tốt của mọi người phụ thuộc vào khẩu phần dinh dưỡng thích hợp thì mới cho chúng ta một cơ thể khoẻ mạnh, ngoài ra còn phụ thuộc vào các kiến thức ăn uống khoa học của mỗi người. Vì vậy chúng ta phải có khẩu phần dinh dưỡng phù hợp với lứa tuổi, phù hợp với quá trình lao động….Sẽ giúp cho con người phát triển khoẻ mạnh và phòng tránh được các bệnh. Trong cuộc sống của chúng ta muốn được thành đạt trong công việc của mình thì đầu tiên là chúng ta phải có sức khoẻ tốt, tinh thần thoải mái… Điều đó đối với trẻ mầm non là rất quan trọng vì trẻ thơ là “tương lai của đất nước” là “nền tảng”, là “lòng cốt” cho tất cả qúa trình phát triển của trẻ để trẻ có thể tham gia vào học tập, vui chơi và tham gia vào các hoạt động khác một cách tích cực, thoải mái và hứng thú. Để làm được điều đó thì nền giáo dục mầm non không những quan tâm đến vấn đề dạy dỗ trẻ những kiến thức sơ đẳng để hình thành phát triển nhân cách đầu tiên cho trẻ mà bên cạnh đó chúng ta những người làm giáo dục cần quan 3/14 tâm hơn nữa về công tác chăm lo cho trẻ một cách phù hợp để giúp trẻ có được một cơ thể khoẻ mạnh để giúp trẻ phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ. 2. Cơ sở thực tiễn a. Khó khăn - Cơ sở vật chất của nhà trường còn hạn chế, diện tích bếp chật hẹp. - Trẻ ăn bán trú chưa đạt 100% - Vẫn còn trẻ không ăn hết xuất của mình b. Thuận lợi - Ban giám hiệu nhà trường đã mua sắm đầy đủ trang thiết bị, đồ dùng để phục vụ cho công tác chế biến món ăn cho trẻ. - Trẻ ngoan ngoãn, biết nghe lời cô. - Được sự quan tâm đặc biệt của ban giám hiệu nhà trường là nguồn động viên tinh thần giúp tôi và các chị em trong tổ bếp khắc phục những khó khăn hoàn thành tốt các công việc. c. Khảo sát thực tế: Từ đầầu tháng 10 năm 2015 tôi đã th ực nghi ệm kh ảo sát theo dõi sôố tr ẻ mầẫu giáo c ủa l ớp 5 tuổi (A2) ở khu Bông Hôầng với tổng sôố trẻ là: 40 và đ ược đánh giá theo têu trí sau: STT TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ SỐ TRẺ ĐẠT TỶ LỆ % 1 Số trẻ ăn ngon miệng, hết suất 26 65 2 Số trẻ lười ăn thịt 11 27,5 3 Số trẻ không ăn rau 10 25 Số trẻ khồng thích ăn những món ăn có mùi 8 20 5 thơm như: nấm hương… Số trẻ không ăn hết suất của mình 8 20 6 Số trẻ không thích chất tanh như: Tôm cá… 6 15 7 Số trẻ không thích ăn cháo 5 12,5 4 3. Các biện pháp thực hiện: Để có một bữa ăn ngon, hợp lý cho trẻ chúng ta phải thực hiện tuần tự theo các bứơc sau: 4/14 * Biện pháp 1: Xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn Nhận thức được tầm quan trọng chăm sóc dinh dưỡng của trẻ, tôi đã phối hợp cùng chị em tổ nuôi xây dựng thực đơn của trẻ hợp lý, thay đổi theo tuần, phù hợp theo mùa, cân đối về dinh dưỡng. Nghĩa là phải đủ chất, đủ lượng, cân đối giữa thức ăn thực vật và động vật, đầy đủ 4 nhóm thực phẩm sau: - Nhóm cung cấp chất đạm như: Thịt, cá, tôm, cua, các loại đỗ hạt, đậu tương giúp xây dựng cơ bắp tạo khoáng thể đặc biệt là sự phát triển của các tế bào. - Nhóm cung cấp chất béo (litpít) như: Dỗu, mỡ, lạc vừng, nhóm vừa cung cấp năng lượng cao vừa làm tăng cảm giác ngon miệng giúp trẻ hấp thu sử dụng tốt các vitamin trong chất béo như vitamin A, D, E, K - Nhóm chất bột đường (gluxit) như: Bột, cháo, cơm, mỳ, bún… nhóm cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể và cơ bắp - Nhóm cung cấp vitamin và khoáng chất như: Rau quả đặc biệt các loại rau có màu xanh thẫm như rau ngót, rau muống, rau dền, rau cải, mồng tơi…. và các loại quả có màu đỏ hoặc vàng như chuối, đu đủ, xoài, cam, cà chua, gấc,… nhóm cung cấp các loại vi dưỡng chất đóng vai trò là chất xúc tác giữa các thành phần hoá học trong cơ thể. Thực đơn tuần chẵn của trẻ mẫu giáo và nhà trẻ, ví dụ: PHÒNG GD&ĐT THANH OAI TRƯỜNG MẦM NON TÂN ƯỚC THỰC ĐƠN CỦA TRẺ MẪẪU GIÁO VÀ NHÀ TRẺ Thứ Thời gian Thứ 2 - Cơm Sáng Phụ NT - Thịt lợn Cơm hầm củ quả. NT + MG - Canh rau ngót nấu thịt. - Sữa GOLD. Thứ 3 Thứ 4 - Cơm - Cơm - Thịt lợn đậu - Thịt kho phụ rim cà tàu. chua. - Canh bí - Canh cua, xanh nấu rau dền, thịt. mồng tơi . - Sữa GOLD. 5/14 - Sữa GOLD. Thứ 5 Thứ 6 - Cơm - Cơm - Thịt lợn mộc nhĩ nấm hương. -Thịt, rim trứng vịt . - Canh thịt nấu chua thả giá. - Sữa GOLD. - Canh khoai tây, cà rốt nấu thịt. - Sữa GOLD. - Cơm NT Chiều - Chè đỗ xanh - Cháo gà đỗ đen, gạo nếp - Thịt lợn trứng đảo bông. - Cháo thịt lợn hầm rau củ. - Chè sen. - Thịt lợn sốt cà chua. - Canh rau ngót nấu thịt lợn - Canh rau cải nấu thịt. Phụ MG - Cơm. - Chè đỗ xanh đỗ đen, gạo nếp - Cháo gà - Phở, thịt lợn - Chè sen. canh chua. Thực đơn tuần lẻ cho trẻ mẫu giáo và nhà trẻ: PHÒNG GD&ĐT THANH OAI TRƯỜNG MẦM NON TÂN ƯỚC THỰC ĐƠN CỦA TRẺ MẪẪU GIÁO VÀ NHÀ TRẺ Thứ Thời gian Thứ 2 - Cơm. Sáng - Thịt kho Cơm tầu, trứng NT + chim cút. MG - Canh khoai tây, cà rốt nấu thịt. Phụ NT - Sữa GOLD. Chiều Thứ 3 Thứ 4 Thứ 5 - Cơm. - Cơm. - Cơm. -Thịt lợn, đậu phụ sốt cà chua. - Tôm rim thịt lợn ,cà rốt, cà chua. - Thịt lợn - Cá ba sa hầm củ, quả. rim thịt lợn, cà chua. - Canh rau - Canh bí đỏ nấu thịt. - rau cải nấu thịt rền, mồng tơi nấu thịt. - Canh bí xanh nấu thịt. - Sữa GOLD. - Sữa GOLD. - Sữa GOLD. - Sữa GOLD. - Cơm. Cơm NT Phụ MG Thứ 6 - Cơm. - Cơm. - Bún thịt lợn, canh chua thả giá. - Thịt kho tàu. - Bún thịt lợn, canh - Cháo lươn. - Phở thịt lợn rau cải. - Cháo cá quả. - Canh rau cải nấu thịt - Canh bí đỏ nấu thịt - Phở thịt lợn rau cải. 6/14 - Thịt lợn sốt cà chua - Cháo cá quả. - Cháo thịt lợn, rau, củ. chua thả giá. * Biện pháp 2: Dinh dưỡng về vệ sinh an toàn thực phẩm - Khi chọn rau thực phẩm phải tươi ngon, không có thuốc trừ sâu hay chất kích thích, chất xúc tác. Thức ăn chế biến sẵn phải chọn thương hiệu, uy tín về chất lượng đảm bảovệ sinh an toàn thực phẩm Cụ thể: Bằng việc làm hàng ngày tôi cùng chị em thực hiện nghiêm ngặt việc giao nhận thực phẩm với các công việc giao nhận thực phẩm với các công ty cung cấp thực phẩm sạch, an toàn, uy tín có cam kết 2 bên. - Thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm từ khâu sơ chế đến khâu chế biến phảitheo đúng quy trình 1 chiều, không để dụng cụ sống chín lẫn lộn - Rau quả cần rửa sạch dưới vòi nước không nên cắt nhỏ ngâm nước, xương thịt cần trần qua nước sôi rửa sạch sau đó mới đem sơ chế, chế biến để giảm bớt các độc tố. Dưới đây là hình ảnh minh họa: * Biện pháp 3: Kỹ thuật chế biến thức ăn Đây là khâu quyết định một bữa ăn ngon đạt được độ cảm quan cao. - Như chúng ta đã biết, ở mỗi độ tuổi thì trẻ cần nhu cầu dinh dưỡng là khác nhau, Do đó khi chế biến món ăn cho trẻ ở mỗi độ tuổi cần phải hiểu rõ về nhu cầu dinh dưỡng của các cháu ở độ tuổi đó để có thể đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ một cách phù hợp và giúp trẻ phát triển về thể chất tốt nhất. Hơn nữa ở mỗi độ tuổi thì khẩu vị và sở thích của các cháu cũng khác nhau lên 7/14 các cô nuôi cũng phải nắm được các vấn đề này để có thể chế biến món ăn khiến các cháu thích thú khi dến giờ ăn và ăn ngon miệng hết xuất của mình. - Như đối với nhà trẻ thì các cháu thường thích ăn cháo, các loại rau củ khi chế biến phải thái nhỏ, mỏng, thịt xay nhỏ nấu mềm, nhừ vì các cháu mới tập ăn. - Như đối với trẻ mẫu giáo thì các cháu lại không thích ăn cháo, các loại rau củ quả thì thích cắt hình hạt lựu, bởi các chau đang trong độ tuổi khám phá thích những thứ mới lại, đẹp mắt. - Dù chế biến cho nhà trẻ hay mẫu giáo thì khi chế biến chúng tan phải chú ý thực phẩm gần chín thì chúng ta mới cho gia vị nếu cho sớm thì mất tác dụng của muối I ốt. trong khi nấu ăn chúng ta lên tăng cường lượng nước mắm có bổ sung chất sắt, đồng thời phối hợp thêm một số loại rau quả có chứa nhiều vitamin C để có tác dụng cho việc háp thụ sắt tốt hơn. Giúp tăng cường sức đề kháng phòng chống được các bệnh khi chuyển mùa. - Trên đây là cách chế biến món ăn mà tôi đã thực hiện tại trường của mình: Bữa sáng: + cơm thịt lợn trứng cút kho tàu + canh khoai tây, cà rốt nấu thịt Bữa chiều: + bún thịt nấu chua 8/14 Bữa sáng: + Để chế biến được món cơm, thịt trứng chim cút kho tàu thì tôi cần phải sử dụng nguyên liệu sau: thịt lợn, trứng chim cút, đường kính, dầu ăn, bột canh, nước mắm, hạt nêm… Trước khi bắt tay vào chế biến tôi đem các thực phẩm đó rửa sạch rồi sơ chế: thịt thái miếng, trần qua nước sôi rồi đem rửa sạch sau đó cho vào máy xay và xay nhỏ, tẩm ướp gia vị tử 10 đến 15 phút trươc khi nấu. Trứng chim cút cho vào luộc chín đổ ra rổ sóc kĩ cho vỏ trứng dập ra rồi ngâm vào chậu nước 5 – 10 phút nhấc lên để dáo nước rồi bóc. Làm như vậy trứng không bị sát và boc rất nhanh. Trứng bóc xong rửa sạch để ráo nước. Lấy xoong bắc lên bếp để canh đường, cho đường vào xoong đun nhỏ lửa và lấy đũa khuấy đều tay cho đến khi đường chuyển sang màu vàng cánh dán rồi đổ 1 chút nước vào đun sôi là được. Sau đó cho nước hàng đã canh được vào trứng đã bóc sạch đun sôi cho màu ngấm đều vào trứng. Thịt lợn sau khi đã ngấm gia vị cho lên bếp đảo săn thịt sau đó cho trứng vào rồi đỏ thêm nước cho săm sắp thịt và trứng, đun nhỏ lửa cho tới khi thịt chí mềm, trứng đậm đà đẹp mắt là được. + Với món khoai tây, cà rốt nấu thịt: Tôi lựa chọn các thực phẩm sau: Thịt lợn, khoai tây, cà rốt, cà chua, hành, mùi tàu. Tôi đem những thực phẩm đã lựa chọn rửa sạch và sơ chế: thịt thái nhỏ đem say, khoai, cà rốt thái hạt lựu với kích thước khoảng 1cm rồi đem tẩm ướp gia vị rồi cho vào xoong sào cho khoai và cà rốt mềm và ngấm gia vị. Cà chua thái nhỏ và đổ dầu vào đun cho lên mầu. 9/14 Cho thịt đã say vào xoong xào qua lên sau đó cho nước vào đun cho đến sôi, chút cà chua, khoai tây và cà rốt vào nồi thịt đang đun. Và tiếp tục đun cho đến khi thực phẩm chín, nêm gia vị cho vừa rồi bỏ hành mùi tàu vào rồi bắc ra. - Bữa chiều: + Bún thịt nấu chua Với món bún thịt nấu chua thì tôi cần những nguyên liệu sau: Thịt lợn, cà chua, me, hành, rau mùi,…Giống như các món ăn trên đầu tiên tôi đem các thực phẩm rửa. Bún thái nhỏ rồi trần nước đun sôi để ráo rồi chia bún cho các lớp. Me cho vào luộc dằm lấy nước. Cho dầu ăn vào xoong đun cho nóng già thì đổ cà chua vào xào cho có màu, tiếp theo đổ nước và thịt, đổ nước me đã dầm vào rồi đun đến khi nào sôi thì nêm bột canh, hạt nêm cho vừa rồi cho hành, mùi vào. Sau đó chũng ta chia thịt và canh cho từng lớp. Qua quá trình nghiên cứu đã cho tôi thấy rằng để chế biến được một món ăn thì chúng ta phải trải qua biết bao nhiêu công đoạn và theo tôi chúng ta nên chế biến theo quy trình bếp một chiều từ thực phẩm sống  làm sạch  rửa  thái nhỏ  nấu chín  chia ăn …Đây là một quá trình rất phù hợp cho công tác chế biến nó giúp chúng ta rút ngắn được thời gian và công sức. Bên cạnh đó còn đảm bảo an toàn vệ sinh. Khi chế biến các thực phẩm xong chúng ta nên đậy vung lại để đảm bảo không cho các vi khuẩn xâm nhập vào thức ăn. Làm thế nào để trể thích thú với giờ ăn, ăn ngon miệng, hết xuất, thì các cô nuôi phải thường xuyên thay đổi cách chế biến món ăn sao cho phù hợp với trẻ tạo cho trẻ cảm giác ngon miệng khi ăn.( ảnh) 4: Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm Qua quá trình áp dụng và thực hiện một số biện pháp trên đã cho tôi kết quả sau: ST TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ T Đầu năm 1 2 3 Số trẻ ăn ngon miệng, hết suất Số trẻ lười ăn thịt Số trẻ không ăn rau và SỐ TRẺ ĐẠT 26 11 10 TỶ LỆ % 65 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ 10/14 Tỷ lệ đạt % 38 95 35 87,5 32 80 Đầu năm Số trẻ ăn ngon miệng, hết suất 27,5 Số trẻ lười ăn 25 Số trẻ Số trẻ không ăng rau hành Số trẻ khồng thích ăn 4 5 6 7 8 20 và hành Số trẻ không thích những món ăn có mùi những món ăn có mùi thơm như: nấm thơm như: Nấm hương… Số trẻ không ăn hết suất 20 hương… Số trẻ không ăn hết 15 suất của mình Số trẻ không thích ăn của mình Số trẻ không thích chất tanh như: Tôm cá… Số trẻ không thích ăn 8 6 5 chất tanh như: Tôm, cá 12,5 Số trẻ không thích ăn cháo 30 34 75 85 30 75 31 77,5 cháo PHẦN III. KẾT LUẬN 1. Bài học kinh nghiệm Qua quá trình thực nghiệm các biện pháp trọng tâm tại trường đã cho tôi cũng như các chị em cùng trong tổ bếp của trường học hỏi và trau dồi được rất nhiều kinh nghiệm chế biến món ăn cho các cháu nhà trẻ và mẫu giáo trong trường mầm non giúp các cháu ăn ngon miệng và hết xuất của mình. Đồng thời, chị em chúng tôi cũng ứng dụng được những kinh nghiệm trong chế biến món ăn về gia đình đẻ cải thiện nấu cho các con của mình ở nhà được ăn những món ngon, mới lạ để các con ăn ngon, khỏe mạnh và lớn nhanh. Từ những kinh nghiệm đã học hỏi và làm việc trong trường tôi và chị em trong tổ bếp luôn linh hoạt và sáng tạo trong chế biến để tạo ra nhiều món ăn mới lạ, kết hợp các loại rau thơm với nhau làm giảm mùi đặc trưng của các món ăn, lamg giảm mùi tanh của tôm cá và làm cho món ăn thơm ngon hơn. Bên cạnh đó các cô luôn phải tìm tòi học hỏi để trau rồi kiến thức và vận dụng vào công việc của mình đồng thời các cô phải linh hoạt và sáng tạo chế biến ra nhièu món ăn mới lạ để thu hút sự hứng thú của trẻ, làm cho trẻ lúc nào cũng có cảm giác muốn đến trường. Cho tôi kinh nghiệm khi đi mua thực phẩm phải lựa chọn những thực phẩm tươi ngon đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và vận dụng những thực phẩm có sẵn ở địa phương để chế biến những món ăn phù hợp với trẻ, giúp trẻ ăn ngon miệng hết xuất. Biết xây dựng thực đơn và tính khẩu phần có đầy đủ các chất dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ trong ngày. Đồng thời thường xuyên 11/14 thay đổi thực đơn theo mùa giúp thay đổi khẩu vị cho các cháu và lựa chọn được những thực phẩm tươi ngon theo mùa vụ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Biết phối hợp và trao đổi với các cô trên lớp để hiểu hơn về tâm lý của các cháu để từ đó có thể chế biến ra các món ăn phù hợp với các cháu giúp các cháu ăn ngon miệng. 2. Kiến nghị - Tôi muốn đề nghị với phòng giáo dục và đào tạo huyện Thanh Oai quan tâm hơn nữa đến trường mầm non Tân Ước chúng tôi, giúp trường tôi nhanh chóng xây dựng xong trường mới, có khu tập chung để các cô nuôi chúng tôi không phải vất vả trở cơm đi 3 khu lẻ giữa trời mưa rét và nắng nóng như bây giờ nữa. Và có bếp mới theo quy định bếp một chiều để thuận lợi cho công tác chế biến các món ăn cho trẻ và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. - Tôi mong phòng giáo dục đào tạo và ban giám hiệu nhà trường ttrong huyện Thanh Oai phối hợp mở lớp bồi dưỡng thêm về chuyên môn nấu ăn cho trẻ trong các nhà trường. Đồng thời thường xuyên cho các cô nuôi đi tập huấn ở các trường bạn để học hỏi thêm về kinh nghiệm chế biến của các trường bạn từ đó rút ra được kinh nhiệm cho trường mình. - Tôi rất mong được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường, các cô giáo cùng các chị em trong tổ bếp ủng hộ và giúp đỡ tôi để tôi có thể hoàn thành công việc ở nhà cũng như ở trường. - Đây là những kinh nghiệm nhỏ của tôi, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các cô, các chị trong trường cũng như các cô, các chị ở trường bạn để tôi được hoàn thiện hơn trong nhiệm vụ của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2016. XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG Tôi xin cam đoan đây là SKKN của ……………………………………… mình viết, không sao chép nội dung ……………………………………… của người khác. ……………………………………… Người viết ……………………………………… ……………………………………… ……………………………………… ……………………………………… Nguyễn Thị Hải 12/14 TÀI LIỆU THAM KHẢO - Sách dinh dưỡng trẻ em (Tác giả: Lê Thị Mai Hoa và Lê Trọng Sơn) - Thực đơn ở trường 13/14
- Xem thêm -