Tài liệu Skkn kết hợp phương pháp hỏi đáp và phương pháp kể chuyện trong dạy học phân môn lịch sử lớp 4

  • Số trang: 14 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 1161 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

A. PHẦN MỞ ĐẦU I. Lí do chọn đề tài: Việc xác định mục tiêu Giáo dục Tiểu học, luật Giáo dục đã quy định rõ: “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những kiến thức cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẫm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên bậc Trung học cơ sở”. Do vậy, bậc tiểu học được coi là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và toàn diện của con người. Những kiến thức, kỹ năng học sinh (HS) được tiếp thu được sẽ là nền tảng vững chắc để các em học tốt ở những bậc cao hơn. Phát triển các kỹ năng cơ bản cho HS ở bậc tiểu học sẽ giúp các em tự tin, không cảm thấy lúng túng khi học các môn học có kiến thức liên quan, vì vậy sẽ tạo hứng thú học tập cho học sinh. Trong chương trình Giáo dục Tiểu học, phân môn Lịch sử được giảng dạy ở hai khối lớp 4 và 5. Đây là phân môn dựng lại quá khứ của dân tộc thông qua các sự kiện nhân vật lịch sử, thể hiện tình yêu quê hương đất nước qua thời kì xây dựng đất nước và chống giặc ngoại xâm. Về mặt nhận thức ở lứa tuổi này, tri giác của các em thường gắn liền với hoạt động thực tiễn. Hơn nữa, đối với học sinh tiểu học, chú ý chủ định của các em còn yếu. Vì vậy, để nâng cao sự tập trung chú ý của các em đòi hỏi trong quá trình giảng dạy giáo viên cần sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Đối với học sinh lớp 4 các em thích được kể chuyện, thích hỏi đáp nhau nên chúng tôi nhận thấy rằng: trong các phương pháp dạy học, sự kết hợp giữa hai phương pháp hỏi đáp và phương pháp kể chuyện trong dạy học phân môn Lịch sử có vai trò quan trọng: vừa giúp công tác quản lí lớp học của giáo viên được thực hiện tốt hơn, tạo môi trường thân thiện giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh qua việc trao đổi kiến thức trong và ngoài lớp; vừa thay đổi không khí lớp học, có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho học sinh. Từ những lí do trên, tôi quyết định chọn “ Kết hợp phương pháp hỏi đáp và phương pháp kể chuyện trong dạy học phân môn Lịch Sử lớp 4 ” làm sáng kiến kinh nghiệm . II. Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ việc vận dụng phương pháp hỏi đáp kết hợp với phương pháp kể chuyện vào dạy học phân môn Lịch sử lớp 4 phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử ở tiểu học. III. Đối tượng nghiên cứu: Vận dụng phương pháp hỏi đáp kết hợp với phương pháp kể chuyện thông qua các nội dung bài học cụ thể trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4. IV. Đối tượng khảo sát thực nghiệm: Lớp 4C trường Tiểu học Trung Hải thuộc xã Trung Hải. V. Phương phápnghiên cứu: Để hoàn thành tôi sử dụng một số phương pháp sau đây: 2 Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu: nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài gồm các tài liệu tâm lí thông qua nhiều nguồn khác nhau như sách báo, báo cáo khoa học, mạng Internet, đặc biệt là các sách chuyên ngành như sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu bồi dưỡng giáo viên. Phương pháp điều tra: điều tra, trưng cầu ý kiến của giáo viên Trường về thực trạng sử dụng kết hợp giữa các phương pháp dạy học trong quá trình giảng dạy. Phương pháp quan sát. Phương pháp thực nghiệm: vận dụng vào một số bài dạy trong chương trình sách giáo khoa lớp 4, trên cơ sở đó kiểm định phương án đề xuất của đề tài. Phương pháp thống kê: thống kê những số liệu thu được để từ đó phân tích, đánh giá, rút ra kết luận (nhằm xử lí số liệu điều tra và kết quả thực nghiệm), B. NỘI DUNG I. Cơ sở lí luận: 1. Phương pháp hỏi đáp Phương pháp hỏi đáp là hình thức đối thoại giữa giáo viên và học sinh nhằm gợi ý, dẫn dắt học sinh đi đến những kết luận khoa học bằng những hiểu biết của mình hoặc giải thích các vấn đề của lịch sử nói riêng, tự nhiên và xã hội nói chung. Trong phương pháp này, lời nói là nguồn dẫn đến kiến thức. Bằng phương pháp hỏi đáp giáo viên dẫn dắt học sinh tìm ra kiến thức mới nên giúp học sinh dễ hiểu bài, nhớ bài lâu và phấn khởi hơn vì thấy mình như tự tìm ra kiến thức mới. Đây là môn học liên quan đến nhiều sự kiện, nhân vật, biến cố lịch sử học sinh chưa biết hoặc đã biết. Vì vậy, sử dụng phương pháp này có tác dụng gây hứng thú học tập cho học sinh, kích thích lòng say mê, khai thác được vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh. Với phương pháp này, giáo viên dễ dàng duy trì thái độ phân hóa với từng học sinh. Tức là qua đàm thoại giáo viên phát hiện được năng lực của các em thông qua cách trả lời, từ đó kịp thời bồi dưỡng đối với học sinh khá giỏi hay bồi dưỡng đối với học sinh yếu, kém. Thông qua phương pháp này, giáo viên rèn luyện cho học sinh cách trả lời, giúp phát triển ngôn ngữ cho học sinh. Khi sử dụng phương pháp hỏi đáp chúng ta phải xây dựng được các hệ thống câu hỏi như sau: câu hỏi phải rõ ràng, chính xác, dễ hiểu, ngắn gọn; phải logic, phù hợp với tiến trình bài học; phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, phải gây hứng thú học tập, kích thích suy nghĩ, động não ở học sinh (nên dùng những câu hỏi bắt đầu tại sao?, vì sao?). Tránh những câu hỏi trả lời “có” hoặc “không”, tránh những câu hỏi chung chung, quá khó hay quá dễ. Hình thức hỏi có thể bằng lời, bằng hình vẽ (tranh vẽ sẵn hoặc học sinh vẽ), bằng câu đố (đa dạng cách hỏi). Chúng ta có thể phân loại câu hỏi theo đối tượng để hỏi và theo yêu cầu sư phạm. Theo đối tượng để hỏi là câu hỏi chỉ về người và vật (ai?, cái gì?); về thời gian và địa điểm (khi nào?, ở đâu?); về tính chất, nguyên nhân (như thế 3 nào?, tại sao?). Theo yêu cầu sư phạm là loại câu hỏi đơn thuần để tái hiện kiến thức đã học (cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng xảy ra trong bối cảnh lịch sử như thế nào?). Loại câu hỏi, tìm tòi khám phá đòi hỏi phải có hoạt động tư duy, hoặc quan sát, thí nghiệm mới trả lời được (quan sát bức tranh trên bảng em hãy kể lại cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng). Loại câu hỏi trắc nghiệm (lựa chọn, đúng – sai, điền thêm, trả lời ngắn, tìm sự tương ứng, tìm các yếu tố phù hợp với nhau…). Khi đặt câu hỏi, giáo viên đòi hỏi toàn bộ học sinh phải suy nghĩ và sẵn sàng ở tư thế trả lời. Khi học sinh trả lời, cần rèn luyện cho học sinh cách trả lời một câu hoàn chỉnh, tác phong bình tĩnh và đĩnh đạc. Kết thúc hỏi đáp giáo viên phải có sự tổng kết ý kiến và nêu ra kết luận. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp hỏi đáp - Khi xây dựng hệ thống câu hỏi cần chú ý hệ thống câu hỏi phụ để gợi ý khi cần thiết. Ví dụ: Xã hội Văn Lang có những tầng lớp nào? Giáo viên có thể gợi ý như sau: giúp vua Hùng cai quản đất nước gồm có những ai? Dân thường thì được gọi là gì? - Khi học sinh trả lời, giáo viên cần chú ý để sữa chữa câu, ý sai. Tránh nóng vội, cắt ngang câu trả lời của học sinh hoặc có thái độ không tôn trọng học sinh, từ đó sẽ gây tâm lý sợ hãi, lo lắng khi trả lời vì thế sẽ hạn chế tính tích cực học tập của học sinh. - Giáo viên luôn tự bồi dưỡng để nâng cao trí thức nhằm thỏa mãn nhận thức ở học sinh. - Phương pháp hỏi đáp được đánh giá là công cụ tốt nhất để dẫn dắt học sinh rút ra kết luận. Phương pháp này thường được phối hợp sử dụng với hầu hết các phương pháp dạy học khác. Để tăng thêm hiệu quả của việc sử dụng phương pháp hỏi đáp, giáo viên cần tổ chức đối thoại theo nhiều chiều: giáo viên với học sinh (giáo viên nêu ra câu hỏi); học sinh với học sinh (học sinh sữa chữa, bổ sung cho nhau); học sinh với giáo viên (học sinh nêu thắc mắc với giáo viên). Giáo viên không được tỏ ra khó chịu khi học sinh có ý kiến trái ngược với giáo viên hoặc khi học sinh nêu thắc mắc. 2. Phương pháp kể chuyện Phương pháp kể chuyện là phương pháp lôi cuốn học sinh ở tiểu học, đặc biệt đối với học sinh lớp nhỏ, khi các em chưa có kỹ năng đọc tốt, khẩu ngữ chưa phát triển nên thích nghe kể. Lớp 4, 5 phương pháp này dùng nhiều trong phân môn Lịch sử. Phương pháp kể chuyện là một hình thức truyền đạt đặc biệt trong đó người kể chia sẻ với người nghe những nhận thức, thái độ, tình cảm, những kinh nghiệm, khuyến cáo đã được đúc rút. Tác dụng của phương pháp kể chuyện là: kể chuyện tạo nên bức tranh sinh động về những biến cố lịch sử, về các danh nhân, nhân vật lịch sử hoặc về những miền đất xa lạ (Bắc cực, Nam cực…) nên góp phần phát triển ở học sinh trí tưởng tượng, sự sáng tạo, tính sáng tạo phát triển. Việc yêu cầu học sinh kể lại có tác dụng giúp học sinh phát triển trí nhớ, cách diễn đạt theo ý tưởng và ngôn ngữ của mình giúp phát triển ngôn ngữ cho học sinh. 4 Khi sử dụng phương pháp kể chuyện chúng ta cần đảm bảo các yêu cầu: - Cần tôn trọng tính chân thật lịch sử, tránh cường điệu, phóng đại, “hiện đại hóa” câu chuyện. - Kể chuyện sinh động và tình cảm. Để làm được điều này học sinh cần nắm vững xuất xứ, thời gian, không gian xảy ra câu chuyện (giúp cho người kể dẫn dắt vào câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn hơn); nắm vững nội dung câu chuyện để dự kiến cách diễn đạt phù hợp. Trước khi kể phải đưa ra dự kiến các cách kể (kể một mạch hết cả câu chuyện hay phân đoạn để kể, kể chuyện kết hợp với đọc truyện, kể chuyện kết hợp với băng hình, tranh vẽ,…bằng cách thuyết minh cho tranh); chuẩn bị những tranh ảnh, sơ đồ, bản đồ,…để minh họa. Chuẩn bị hệ thống câu hỏi để sử dụng đúng lúc, đúng chổ nhằm gợi ý cho học sinh suy nghỉ, biết cách phân tích câu chuyện. Dành thời gian cho học sinh thảo luận hoặc cho các em có dịp kể lại câu chuyện. Trình tự tiến hành - Dẫn chuyện (giới thiệu bài): cần ngắn gọn, rõ ràng. Trong đó phải định rõ nội dung, nhân vật, thời gian, không gian xảy ra câu chuyện. - Kể chuyện (giảng bài mới): khi kể cần chú ý nêu câu hỏi xoáy sâu vào phần chính của mỗi đoạn hay của cả câu chuyện; thông qua câu hỏi xây dựng dàn ý chi tiết cho từng đoạn hay cho cả câu chuyện để học sinh dễ theo dõi và kể lại tốt. - Hướng dẫn học sinh cảm nhận câu chuyện (cũng cố bài): giáo viên nêu câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời những ý cơ bản; cho học sinh kể lại câu chuyện theo nhiều cách (từng em kể từng đoạn, học sinh đóng vai khi kể, kể lại toàn bộ câu chuyện bằng chính ngôn ngữ của các em). - Tổng kết: giáo viên tóm tắt toàn bộ nội dung và rút ra ý nghĩa giáo dục của câu chuyện (nếu có). Khi sử dụng phương pháp kể chuyện chúng ta cần lưu ý những điểm sau đây: - Đối với phần lịch sử thời gian kể chuyện không nên kéo dài quá 15 - 20 phút. Nên chú ý dành nhiều thời gian để học sinh tiếp xúc với cứ liệu lịch sử để tự hình thành các biểu tượng lịch sử. - Trong khi truyền thụ các kiến thức về lịch sử, tránh cho học sinh học thuộc từng câu, từng chữ trong sách giáo khoa, mà học sinh phải kể lại được câu chuyện lịch sử bằng chính ngôn ngữ của mình. - Kể chuyện được coi là sự sao chép có sáng tạo, có tác dụng phát triển khả năng tưởng tượng, tái tạo cho học sinh. Để tránh học sinh học thuộc lòng có thể sử dụng hai biện pháp: học sinh đọc trước sách giáo khoa, dựa theo các câu hỏi của giáo viên để nắm các ý chính; giáo viên nêu ra những câu hỏi đòi hỏi phải tập hợp nhiều chi tiết trong câu chuyện mới trả lời được, hay những câu hỏi mang tính khái quát. II. Thực trạng dạy và học phân môn Lịch sử ở lớp 4 1. Giới thiệu sơ lược về trường tiến hành điều tra Cơ sở vật chất của nhà trường Về cơ sở vật chất của trường cơ bản đã được kiên cố hóa 100% phòng học, có phòng vi tính, thư viện, thiết bị khuôn viên điều kiện dạy tốt , môi trường “ Xanh, sạch, đẹp”. Các phương tiện dạy học đầy đủ (tranh ảnh, sơ đồ, máy chiếu, vật 5 mẫu…) đảm bảo thực hiện tốt cho công tác giảng dạy của giáo viên và công việc học tập của học sinh. Hoàn cảnh và thái độ học tập của học sinh Về hoàn cảnh đa số các em học sinh có điều kiện thuận lợi để học tập vì kinh tế ổn định, tuy nhiên cũng có nhiều em có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Về thái độ học tập của học sinh đa số các em hứng thú học tập, chăm ngoan. Tuy nhiên, một số em tiếp thu bài còn chậm, còn lúng túng khi trả lời câu hỏi của giáo viên, chưa ý thức được tâm quan trọng của việc học phân môn Lịch sử. III. Giải pháp 1. Các nguyên tắc kết hợp phương pháp hỏi đáp và phương pháp kể chuyện a. Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học Nguyên tắc này đòi hỏi trong dạy học phải cung cấp cho người học những tri thức khoa học chân chính, phản ánh những thành tựu khoa học, công nghệ văn hóa hiện đại, phải dần dần giúp học sinh tiếp cận với những phương pháp học tập, nhận thức thói quen suy nghĩ và làm việc một cách khoa học. Thông qua đó mà dần hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, tình cảm và những phẩm chất đạo đức cao quý của con người hiện đại. Dạy học không chỉ phát triển lý chí của con người và cung cấp cho người học một khối lượng kiến thức nào đó mà phải làm cháy lên ở họ lòng khát khao học tập một cách nghiêm túc. Ảnh hưởng giáo dục của khoa học là người đồng hành không tránh khỏi của dạy học. Song từ đó sẽ không đúng khi cho rằng dạy học bao giờ cũng có tác động như nhau đến học sinh và nỗ lực một cách tự giác, nghệ thuật của nhà giáo dục không có ý nghĩa quan trọng. Trái lại, tính chất giáo dục của dạy học, phương hướng tư tưởng và sức mạnh ảnh hưởng của nó tới học sinhh là do nội dung, phương pháp dạy học, sự tổ chức tiết học và do tác động của chính nhân cách người giáo viên quyết định. Chính vì vậy, để thực hiện nguyên tắc này cần phải: - Cung cấp cho người học những tri thức khoa học chân chính, hiện đại nhằm giúp cho họ nắm được quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy, có cách nhìn và thái độ hành động đúng đắn đối với hiện thực. - Cung cấp cho họ những hiểu biết sâu sắc về thiên nhiên, xã hội, con người Việt Nam, những truyền thống tốt đẹp trong lịch sử dựng nước và bảo vệ đất nước của dân tộc ta qua hàng ngàn năm, đặc biệt truyền thống đó ngày càng phát triển mạnh mẽ dưới sự lành đạo của Đảng. Từ đó giáo dục cho học sinh tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ công dân trước sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong học tập và tu dưỡng. - Bồi dưỡng cho học sinh ý thức và năng lực phân tích, biết phê phán một cách đúng mức những thông tin đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, những quan niệm khác nhau về một vấn đề. - Vận dụng các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học theo hướng giúp học sinh làm quen với một số phương pháp nghiên cứu khoa học ở mức độ đơn giản nhằm dần dần tiếp cận với hoạt động khoa học, rèn luyện những tác phong, phẩm chất của người nghiên cứu khoa học. 6 Ví dụ: Khi dạy học lịch sử 4 phần 1, buổi đầu dựng nước và giữ nước (Khoảng 700 năm TCN đến năm 179 TCN) ngoài dựa trên tính khoa học của lịch sử cung cấp những kiến thức lịch sử cho học sinh. Trên đất nước ta, từ xa xưa đã có người sinh sống. Khoảng 700 năm trước Công nguyên (TCN), trên địa phận Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ hiện nay, nước Văn Lang đã ra đời. Nối tiếp Văn Lang là nước Âu Lạc. Đó là buổi đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Lịch sử gọi đây là thời đại Hùng Vương – An Dương Vương. Giáo viên phải giáo dục hình thành phẩm chất đạo đức cho học sinh về ý thức bảo vệ về nét đẹp của nền văn hóa Văn Lang – Âu Lạc bằng cách là thi đua học tập, tìm hiểu, học hỏi về lịch sử của dân tộc nước nhà giữa học sinh trong lớp, giữa các lớp khác. Hoặc có thể tổ chức cho học sinh thi nhau kể tên những thành tựu về công trình - văn hóa lịch sử của dân tộc ta từ trước đến nay. b. Đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải phát huy cao độ tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học dưới tác dụng vai trò chủ đạo của giáo viên, tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động dạy và học. - Tính tự giác nhận thức thể hiện ở chỗ người học ý thức đầy đủ mục đích, nhiệm vụ học tập mà qua đó nỗ lực nắm vững tri thức, tránh chủ nghĩa hình thức trong quá trình lĩnh hội tri thức. - Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề học tập, nhận thức. Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện, vừa là là điều kiện để đạt được mục đích và vừa là kết quả của hoạt động. Tích cực nhận thức cũng là phẩm chất hoạt động cá nhân. Cần phải phân biệt tích cực và trạng thái hành động, về bề ngoài chúng giống nhau nhưng bản chất khác nhau. Tùy theo sự huy động những chức năng tâm lý nào và mức độ huy động đó mà có thể diễn ra tính tích cực tái hiện, tính tích cực tìm tòi và tính tích cực sáng tạo. - Tính độc lập nhận thức về nghĩa rộng là sự sằn sàng tâm lý đối với tự học. Theo nghĩa hẹp, tính độc lập nhận thức là năng lực, phẩm chất, nhu cầu học tập và năng lực tổ chức học tập, cho phép người tự học phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động học tập của mình và qua đó cho phép người học hình thành sự sẵn sàng về mặt tâm lý cho việc tự học. Qua đó có thể nhận thấy tính độc lập nhận thức là sự thống nhất giữa phẩm chất và năng lực, giữa ý thức, tình cảm, giữa động cơ, tri thức và phương pháp hoạt động độc lập. Tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập nhận thức có mối liên hệ mật thiết với nhau. Tính tự giác nhận thức là cơ sở của tích cực và độc lập nhận thức. Tính tích cực nhận thức là điều kiện, là kết quả, là định hướng và là biểu hiện của sự nảy sinh và phát triển của tính độc lập nhận thức. Tính độc lập nhận thức là sự thể hiện tính tự giác, tính tích cực ở mức độ cao. 7 - Trong quá trình dạy học người giáo viên càng giữ vai trò chủ đạo của mình khi học phát huy cao độ tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học. Còn người học càng thể hiện tính tự giác, tính tích cực, độc lập, sáng tạo của mình, nghĩa là càng thể hiện vai trò trung tâm của mình trong hoạt động nhận thức - học tập, và qua đó càng tạo điều kiện để giáo viên phát huy vai trò chủ đạo. Kết hợp tính tích cực của giáo viên và học sinh một cách hài hòa trong hoạt động phối hợp nhau sẽ cho phép đạt được những kết quả dạy học và giáo dục trong một thời gian ngắn nhất. Trong hoàn cảnh đổi mới ở nước ta nói chung và đổi mới sự nghiệp giáo dục nói riêng, trong điều kiện nhân tố con người là động lực phát triển của xã hội thì tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập sáng tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Để thực hiện nguyên tắc này, trong quá trình dạy học cần: - Quan tâm đúng mức đến việc giáo dục cho người học ý thức đầy đủ và sâu sắc mục đích, nhiệm vụ học tập nói chung và từng môn học nói riêng để học sinh xác định động cơ và thái độ học tập. - Khuyến khích, động viên và tạo điều kiện cho học sinh mạnh dạn trình bày ý kiến, ý tưởng và những thắc mắc của mình, đề cao tinh thần hoài nghi khoa học, óc phê phán, tác phong độc lập suy nghĩ, chống lối học vẹt, học đối phó, chủ nghĩa hình thức học tập. - Cần tăng cường sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức dạy học. - Cần kết hợp tính tự giác, tính tích cực học tập với việc nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập của người học, cần tổ chức kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, đánh giá việc lãnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của người học. - Hình thành cho người học nhưng thao tác tư duy, những hành động thực hành, những biện pháp hoạt động sáng tạo và tạo điều kiện cho họ thể hiện khả năng hoạt động sáng tạo trong quá trình nghiên cứu, học tập những cơ sở khoa học, nghệ thuật và lao động. c. Đảm bảo tính vững chắc và sự phát triển năng lực nhận thức của học sinh Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh nắm vững nội dung dạy học với sự căng thẳng tối đa tất cả trí lực của họ, đặc biệt là sự tưởng tượng (tưởng tượng tái hiện và tưởng tượng sáng tạo), trí nhớ (chủ yếu là trí nhớ logic), tư duy sáng tạo, năng lực động viên tri thức cần thiết để thực hiện công việc nhận thức, học tập đề ra. Tâm lý học đã khẳng định việc lĩnh hội nội dung dạy học và phát triển năng lực nhận thức là hai mặt của một quá trình, có liên hệ mật thiết với nhau. Khi lĩnh hội những tri thức khoa học thì trí não đồng thời thực hiện nhiệm vụ nhận thức khác nhau, và cùng với điều đó, năng lực nhận thức của học sinh được phát triển. Trong cách hiểu như trên, nguyên tắc này cần phải kết hợp với nguyên tắc tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh, nghĩa là phải làm cho họ nhớ lại điều đã học một cách tự giác, đã được suy ngẫm, tránh lối học thuộc lòng một cách máy móc và thiếu suy nghĩ sâu sắc về tài liệu đó, và do vậy chẳng hiểu được điều mình học. Để thực hiện nguyên tắc cần : 8 - Cần phải giúp học sinh kết hợp hài hòa giữa ghi nhớ chủ định và không chủ định trong quá trình lĩnh hội tài liệu học tập. - Cần hình thành cho học sinh những kỹ năng tìm ra những tri thức có tính chất tra cứu khác nhau để giúp học tránh học thuộc lòng không cần thiết những tài liệu đó. - Cần đặt ra những vấn đề đòi hỏi học sinh phải tích cực hóa những tri thức đã học để giải quyết, qua đó mà giúp họ nhớ sâu, nắm vững tri thức và tạo điều kiện phát triển năng lực nhận thức. Cùng với điều đó mà việc ôn tập và luyện tập được thực hiện thường xuyên, có hệ thống. - Cần tổ chức quá trình dạy học như thế nào để một bộ phận đáng kể nhưng tri thức, kỹ xảo được củng cố tại tiết học. Muốn vậy, việc trình bày tài liệu của giáo viên phải logic, rõ ràng, dễ hiểu, phải tác động mạnh mẽ về cảm xúc. - Giáo viên phải tiến hành kiểm tra, đánh giá và học sinh phải tiến hành tự kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách đều đặn, toàn diện về mặt số lượng và chất lượng tri thức, kỹ năng hoạt động sáng tạo thông qua bài tập sáng tạo, có tính chất chuẩn đoán. Ví dụ: giáo viên tổ chức thi kể chuyện cho các tổ với yêu cầu sau đây: Em hãy kể lại bằng hình vẽ về một trong ba nội dung sau: + Đời sống người Lạc việt dưới thời Văn Lang (sản xuất, ăn, mặc, ở, ca hát, lễ hội). + Khởi nghĩa Hai Bà Trưng ( hình ảnh Hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận). + Diễn biến của trận quân ta đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (hình ảnh bãi cọc, thuyền lớn, thuyền bé, trên sông Bạch Đằng). 2. Quy trình kết hợp phương pháp hỏi đáp và phương pháp kể chuyện Quy trình thực hiện cụ thể kết hợp phương pháp hỏi đáp và phương pháp kể chuyện được tôi lựa chọn theo từng nội dung bài học phù hợp trong chương trình lịch sử lớp 4 và được thực hiện cụ thể như sau: a. Bài học có nội dung về tình hình chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội Tôi lựa chọn 2 bài sau để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu: Bài 1. Nước Âu Lạc Sử dụng kết hợp PP hỏi đáp và PP kể chuyện trong phần giới thiệu bài và kết thúc bài học. Hướng dẫn HS tìm hiểu những thành tựu về kinh tế sản xuất của nước Âu Lạc b. Bài học có nội dung về nhân vật lịch sử Mỗi một sự kiện cơ bản của lịch sử dân tộc đều gắn liền với các nhân vật lịch sử. Gồm có 6 bài, tôi lựa chọn 2 bài để nói rõ quy trình thực hiện cụ thể kết hợp PP hỏi đáp và PP kể chuyện trong dạy học phân môn Lịch sử. Bài 7. Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân c. Bài học có nội dung về các cuộc khởi nghĩa và kháng chiến Bài 4. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40) Muốn HS nhận thức sâu sắc được truyền thống yêu nước đấu tranh anh dũng của người phụ nữ Việt Nam, GV có thể hỏi HS bằng một câu tục ngữ: tục ngữ Việt Nam có câu: “Giặc đến nhà đàn bà phải đánh” bằng truyền thống lịch sử dân tộc, em hãy nêu những sự kiện Lịch sử mà em biết? (Các nữ anh hùng dân tộc: Hai Bà Trưng, Bà Triệu,…) 9 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu khởi nghĩa Hai Bà Trưng Nguyên nhân: Đầu thế kỉ I, nước ta bị nhà Hán đô hộ. Thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định nổi tiếng tham lam, tàn bạo. Bấy giờ ở huyện Mê Linh (vùng đất nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc và Hà Tây) có hai chị em là Trưng Trắc, Trưng Nhị. Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mắt nhà tan, hai chị em sớm có lòng căm thủ lĩnh quân xâm lược. Trưng Trắc có chồng là Thi Sách bị Tô Định bắt và giết hại. Hai Bà Trưng càng quyết tâm khởi nghĩa để nợ nước, trả thù nhà. Diễn biến: Mùa xuân năm 40, cuộc khởi nghĩa bùng nổ ở Hát Môn (cửa sông Hát, huyện Phúc Thọ - Hà Nội). Khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa liền được đông đảo nhân dân khắp nơi nhiệt liệt hưởng ứng. “ Trưng Trắc, Trưng Nhị hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành trì ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng”. Ngàn tây nổi áng phong trần Ầm ầm binh mã xướng gần Long Biên. (Đại Nam quốc sử diễn ca) Nghĩa quân nhanh chóng làm chủ Mê Linh. Từ Mê Linh, nghĩa quân tiến xuống đánh chiếm Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội); rồi từ Cổ Loa, tấn công Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), trung tâm của chính quyền đô hộ. Bị đòn bất ngờ, quân Hán không dám chống cự, bỏ hết của cải, vũ khí, lo chạy thoát thân. Tô Định sợ hãi đã cắt tóc, cạo râu, mặc giả thường dân, lẫn vào đám tàn quân trốn về Trung Quốc. Được các lạc tướng, tầng lớp quý tộc và nhân dân cả nước ủng hộ và suy tôn, Trưng Trắc cùng em Trưng Nhị đã xưng Vương (Trưng nữ vương), bắt tay ngay vào việc xây dựng chính quyền tự chủ, lấy Mê Linh làm kinh đô của cả nước. Kết quả: trong vòng không đầy một tháng, cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi. Ý nghĩa: sau hơn hai thế kỉ bị phong kiến nước ngoài đô hộ (từ năm 179 TCN đến năm 40), lần đầu tiên nhân dân ta đã giành và giữ được độc lập trong hơn ba năm). Với chiến công oanh liệt như trên, Hai Bà Trưng đã trở thành hai nữ anh hùng chống giặc ngoại xâm đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Khẳng định vai trò và vị trí của người phụ nữ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, làm thay đổi quan niệm về người phụ nữ trong xã hội phong kiến. * Cuối tiết học GV tổ chức cho HS hỏi đáp nhau và thi nhau kể chuyện có liên quan đến nội dung bài học. d. Bài học có nội dung về thành tựu văn hóa, khoa học – kĩ thuật Tôi chọn 1 bài để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu của mình: Bài 13. Nhà Trần và việc đắp đê. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu về nhà Trần và việc đắp đê Yêu cầu HS thực hiện các hoạt động sau: + Em có được chứng kiến hoặc biết câu chuyện nào về cảnh lụt lội không? Hãy kể tóm tắt về cảnh lụt đó. 10 + Tổ chức cho HS tự hỏi đáp và nêu lên sự hiểu biết của mình về công việc đắp đê nhà Trần Như vậy, qua các bài học tôi đã một phần nào làm rõ quy trình kết hợp PP hỏi đáp và PP kể chuyện, có thể sử dụng đầu tiết học, giữa tiết học, cuối tiết học tùy thuộc vào từng nội dung của bài học bên cạnh đó kết hợp giữa các PPDH khác. Để phụ trợ cho công việc dạy học mỗi bài dạy tôi đều có tranh ảnh, sơ đồ minh họa. IV. Kết quả thực hiện: Mặc dù mới ra trường, được phân công chuyên môn không ổn định ở lớp dạy cũng như môn dạy nhưng bản thân tôi đã học hỏi ở các anh chị đồng nghiệp đi trước, bạn bè cũng như trên các trang mạng, tôi đã vừa học hỏi vừa mạnh dạn áp dụng vào việc dạy học Lịch sử trong thời gian qua. Cho đến nay, tôi thấy việc thực hiện phương pháp hỏi đáp và kể chuyện kết hợp với nhau trong tiết dạy học Lịch sử ở tiểu học đạt được một số kết quả khả quan như sau: - Với việc kết hợp này, học sinh thực sự hứng thú trong học tập, giờ học vì thế sinh động, sôi nổi hơn; việc chuẩn bị bài ở nhà của các em chu đáo hơn; khả năng của từng cá nhân được phát huy cao nhất có thể, các em có thể nắm bài ngay tại lớp. - Giáo viên cảm thấy thích thú trong quá trình cùng học sinh khám phá bài học.Với vận dụng cách dạy này buộc giáo viên tự rèn luyện mình hơn khi diễn đạt, chuẩn bị kĩ hơn các lời dẫn và hệ thống câu hỏi. Vì vậy, tôi cảm thấy tự tin hơn khi lên lớp. Kết quả học tập môn Lịch sử của học sinh được nâng lên rõ rệt, thể hiện cụ thể qua từng học kì của năm học 2016-2017,qua chấm bài, tôi đã thống kê chất lượng lớp 4C như sau: Tống số Học kì Hoàn thành Chưa hoàn thành Học kì 1 SL TL SL 15 13 87% 2 23% Học kì 2 15 100% 0 0 V. Bài học kinh nghiệm: Với số năm đứng lớp ít ỏi, kinh nghiệm giảng dạy chưa có bao nhiêu nhưng với sự cố gắng của bản thân, tôi rút ra cho mình một số bài học sau: 1. Muốn đạt được hiệu quả chất lượng trong môn học, giáo viên phải thật sự yêu nghề, hiểu rõ đặc điểm học sinh của lớp mình, tin tưởng vào khả năng học tập của từng em và tôn trọng ý kiến của các em. 2. Phải cố gắng tìm tòi học hỏi và mạnh dạn áp dụng những phương pháp mới vào quá trình dạy học một cách hợp lí. 3. Tùy khả năng học sinh và các trang thiết bị có được để vận dụng sao cho phù hợp với nội dung bài học. 4. Bản thân mỗi giáo viên phải nỗ lực nhiều hơn trong việc nắm chắc các kiến thức lịch sử nước nhà cũng như lịch sử thế giới, làm giàu vốn kiến thức của mình để tự tin hơn khi hướng dẫn học sinh. Hơn thế, giáo viên cần cập nhật những vấn đề thời sự có liên quan và biết đưa vào bài dạy một cách linh hoạt, sáng tạo để bài học hấp dẫn và mang tính thời sự hơn. 11 C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. Kết luận: Qua thực tế kết quả học tập được thể hiện từ khi tôi áp dụng 2 phương pháp này trong môn Lịch sử, tôi thấy đây là phương pháp có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng trong phân môn Lịch sử cho học sinh lớp 4. Kết quả học sinh đã tham gia học tốt môn này , ham thích , tích cực thực hành và kết qủa nâng lên đáng kể. Bên cạnh đó ta cần phối hợp các phương pháp dạy học khác một cách lính hoạt để học sinh hứng thú trong khi học. Tôi nghĩ rằng, phương pháp này rất đơn giản, dễ sử dụng và có hiệu quả cao và còn mang tính khoa học, tính sư phạm và tính thực tiễn. II. Kiến nghị: Để sử dụng tốt phườn pháp kể chuyên kết hợp hỏi đáp trong giảng dạy môn Lịch sử lơp 4 nhằm nâng chất lượng môn học này, tôi xin đề nghị nhà trường tạo điều kiện cho: 1. Giá treo bản đồ, lược đồ, tranh. 2. Nhà trường cung cấp đầy đủ thiết bị dạy học như: tranh ảnh các nhân vật, các sự kiện lịch sử, bản đồ, lược đồ, … 3. Nhà trường cần tổ chức những buổi ngoại khóa, thăm quan các khu di tích lịch sử trong điều kiện có thể. Trên đây, tôi đã giới thiệu một số kinh nghiệm trong việc kết hợp phương pháp hỏi đáp và phương pháp kể chuyện mà tôi đã thực hiện hơn hai năm qua. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các cấp lãnh đạo - của Ban giám hiệu nhà trường và các bạn đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thành và xác định có hiệu quả. Trung Hải, ngày 26 tháng 10 năm 2017 Người thực hiện Nguyễn Thị Lan Anh 12 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Thị Côi (2008), các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm. 2. Lê Ngọc Diệp (chủ biên), Lý Thu Thủy, Phụng Hoàng, Hồng Ngọc (2005), Thực hành Lịch sử 4, NXB Giáo dục. 3. Nguyễn Anh Dũng (chủ biên), Nguyễn Tuyết Nga, Nguyễn Minh Phương, Phạm Thị Sen (2006), Lịch sử và Địa lí lớp 4, NXB Giáo dục. 4. Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh (2011), Đại cương Lịch sử Việt Nam (Tập một), NXB Giáo dục. 5. Nguyễn Trại (chủ biên) – Nguyễn Lê Hoài Thu (2012), thiết kế bài giảng lịch sử 4, NXB Hà Nội. 13 Số thứ tự 1 2 3 4 5 6 MỤC LỤC Nội dung Tên đề tài Phần mở đầu Nội dung Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Mục lục Trang 1 2, 3 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 12 13 14 14
- Xem thêm -