Tài liệu Skkn giới thiệu âm nhạc quảng ngãi trong chương trình sinh hoạt ngoại khóa ở trường thcs

  • Số trang: 36 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 56 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . MỤC LỤC NỘI DUNG I. TRANG TÓM TẮT………………………………..……………………………. 2 II. GIỚI THIỆU……..…………………………………………………….. 3 III. PHƯƠNG PHÁP……………………………………………… …… 4 1. Khách thể nghiên cứu ……………………………………….…..... 4 2. Thiết kế nghiên cứu …………………………………………. ….. 4 3. Quy trình nghiên cứu ……………………………………………… 5 4. Đo lường và thu thập dữ liệu ………………………………………25 IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN BẠC KẾT QUẢ ……….……..……25 V. KẾT LUẬN VÀ KHIẾN NGHỊ …………………………….…...……..27 1. Kết luận…………………………………………………..……….. 27 2. Đề xuất và khuyến nghị ………………………………………….. 27 VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………….. 28 VII. PHỤ LỤC CỦA ĐỀ TÀI……………………………………………… 29 1. Đề và đáp án kiểm tra sau tác động………………………………. 29 2. Bảng điểm …………………………………………………………30 Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 1 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . I. TÓM TẮT Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Âm nhạc trong trường THCS, tôi luôn trăn trở để làm sao giới thiệu được Âm nhạc Quảng Ngãi nói chung và Âm nhạc dân tộc quảng Ngãi nói riêng tới các em học sinh. Tuy nhiên, Địa bàn xã Bình Dương là địa bàn ít có phương tiện thông tin đại chúng, nên học sinh cũng ít có cơ hội tiếp cận với những thông tin bổ ích về Âm nhạc tỉnh nhà, hơn nữa với lưu lượng thời gian trong chương trình môn Âm nhạc, không đủ để giới thiệu rộng rãi đến học sinh nhiều nội dung hay, Tôi bắt đầu khảo sát tình hình hiểu biết về Âm nhạc Quảng Ngãi (Các làn điệu dân ca, các nhạc sĩ, các bài hát về Quảng Ngãi) của các em học sinh tại Trường, và một thực trạng đáng quan tâm là hầu như tất cả các em học sinh biết rất ít về Âm nhạc của địa phương. Trước hiện trạng đó, tôi luôn ấp ủ một đề tài nghiên cứu khoa học để ứng dụng trong nhà trường nhằm đưa các em đến gần với Âm nhạc của địa phương hơn. Tôi bắt đầu đi sưu tầm, thu thập những thông tin, tài liệu (bao gồm cả âm thanh và hình ảnh) cần thiết cho việc nghiên cứu, và bắt đầu nghiên cứu với đề tài: “Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS”. Lớp 9 của trường là đối tượng tôi lựa chọn để nghiên cứu vì mức độ cảm thụ âm nhạc cũng như khả năng diễn đạt tốt nhất để cho kết quả khách quan nhất. Nghiên cứu được tiến hành ở hai lớp 9 trường THCS Bình Dương, lớp 9A là lớp thực nghiệm và lớp 9B là lớp đối chứng. Lớp thực nghiệm được thực hiện học tập, giới thiệu Âm nhạc kết hợp trong chương trình ngoại khóa, gồm 4 buổi (1tiết/buổi), cụ thể: - Tiết 1: Giới thiệu một số nhạc cụ dân tộc Quảng Ngãi. - Tiết 2: Giới thiệu một số làn điệu dân ca Quảng Ngãi. - Tiết 3: Giới thiệu một số nhạc sĩ nỗi tiếng của Quảng Ngãi cũng như những tác phẩm tiêu biểu của họ. - Tiết 4,5: Tập hát 2 bài hát, giao lưu hát dân ca và khảo sát tình hình nhận thức của học sinh sau 4 tiết học). Để kết quả trung thực và khách quan tôi sử dụng phép kiểm chứng T- test để đánh giá trình độ trước và sau tác động và phép tính SMD để kiểm chứng Mức độ Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 2 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . ảnh hưởng (ES) sau tác động. Và kết quả cho thấy tác động có ảnh hưởng rất lớn đến sự hiểu biết và nhận thức của các em học sinh lớp 9A trường THCS Bình Dương. Từ đó, Tôi sử dụng nội dung tác động này giới thiệu đến toàn bộ học sinh trong nhà trường. II. GIỚI THIỆU Những năm gần đây, Âm nhạc trở thành một môn học chính thức trong nhà trường Tiểu học và THCS. Qua âm nhạc, giáo dục tình cảm, đạo đức và góp phần hình thành nhân cách cho học sinh. Tuy vậy, trong thời gian gần đây, học sinh ở các trường THCS có nhận thức chưa đúng hướng về bộ môn Âm nhạc trong nhà trường, các em có những biểu hiện lệch lạc thông qua việc hát các bài hát không phù hợp lứa tuổi, có nội dung không trong sáng và không phù hợp với thuần phong mĩ tục người Việt Nam. Chính vì lẽ đó , việc giới thiệu âm nhạc dân tộc và âm nhạc địa phương trong trường THCS là công việc cần thiết và cần được quan tâm hơn nữa, nhằm giáo dục thẩm mĩ phù hợp với bản sắc văn hóa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Nhạc sĩ Trương Quang Lục khẳng định: “ Âm nhạc truyền thống dân gian, hay tiếng nói của cội nguồn bao giờ cũng là nguồn mỹ cảm làm rung động và đánh thức con tim mọi người – Nó sẽ tồn tại và phát triển trong kho tàng tinh hoa văn hóa của nhân loại…”Và thật là thiếu sót, nếu như học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, mà không được giới thiệu về bản sắc của quê hương trong lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt là các làn điêu dân ca. Trong năm học vừa qua, tôi đã có lồng ghép, giới thiệu nội dung về âm nhạc địa phương trong chương trình dạy học môn âm nhạc. Tuy nhiên với thời lượng ít ỏi Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 3 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . của phân môn Âm nhạc thường thức ở một số tiết, thì việc mở rộng kiến thức cũng chỉ ở một mức độ hết sức khiêm tốn, học sinh không có cơ hội tiếp cận với nhiều nội dung hay. Tôi luôn trăn trở và ấp ủ một đề tài nghiên cứu khoa học, để truyền tải những nội dung mà mình thu thập được cho tất cả học sinh trong trường. Với những lí do trên, tôi mạnh dạn lựa chọ đề tài “Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS ”. Đề tài này không tham vọng giới thiệu một cách đầy đủ về Âm nhạc Quảng Ngãi cho học sinh, mà thông qua những buổi sinh hoạt ngoại khóa, các em được tìm hiểu về các loại nhạc cụ của dân tộc, được nghe và cảm nhận những làn điệu dân ca phổ biến, được tìm hiểu một số nhạc sĩ nổi tiếng cũng như các tác phẩm tiêu biểu của các nhạc sĩ ở Quảng Ngãi. Rất mong sự ủng hộ và đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô! III PHƯƠNG PHÁP 1. Khách thể nghiên cứu: “Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS” 1.1. Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 25/08/2014 đến 30/12/2014. 1.2. Địa điểm: Trường THCS Bình Dương 1.3. Đối tượng nghiên cứu: Lớp 9A và lớp 9B trường THCS Bình Dương (Hai lớp này được Nhà trường phân chia khá tương đồng về số lượng, năng lực, ý thức học tập và giới tính. Bảng 1:Giới tính, tình hình học tập của học sinh Lớp 9A 9B Tổng số 31 30 Giới tính Nam Nữ 18 13 15 15 Học lực Đạt(Đ) Chưa đạt(CĐ) 29 2 28 2 1.4. Nội dung nghiên cứu: “Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS”. 2. Thiết kế nghiên cứu: Tôi chọn 2 lớp: Lớp 9A là nhóm thực nghiệm và lớp 9B là nhóm đối chứng. Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 4 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . Tôi khảo sát mức độ hiểu biết về Âm nhạc Quảng Ngãi cũng như cảm nhận về dân ca nói chung của học sinh để làm bài kiểm tra trước tác động. Quy định của bộ môn Âm nhạc là đánh giá Đạt(Đ) và Chưa đạt(CĐ) nên để tiện sử dụng phép kiểm chứng TTEST (đo mức độ chênh lệch), tôi dùng hình thức ghi điểm để đánh giá học sinh. Sau đây là kết quả của 2 nhóm trước khi tác động: Bảng 2: Kết quả kiểm tra trước tác động TBC Độ chênh lệch (p) Lớp đối chứng 4.09 Lớp thực nghiệm 4.63 0.182 Kết quả trên cho thấy p = 0.182 > 0.05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm là không có ý nghĩa. Vậy hai nhóm được coi là tương đương. Sử dụng thiết kế 2: Bảng 3: Kiểm tra trước và sau tác động đối với 2 nhóm Nhóm Thực nghiệm Đối chứng Kiểm tra trước tác động 01 02 Tác động X Học tập bình thường Kiểm tra sau tác động 03 04 * Ghi chú: X (Được học cơ bản 5 tiết chương trình ngoại khóa về Âm nhạc Quảng Ngãi) Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép tính SMD để kiểm chứng Mức độ ảnh hưởng (ES) sau tác động. 3. Quy trình nghiên cứu: 3.1.Chuẩn bị bài của giáo viên: - Thiết kế một kế hoạch bài giảng (Tiết 14 – Lớp 9), có sử dụng phần liên hệ Âm nhạc mang âm hưởng dân ca Quảng Ngãi (cụ thể 2 bài: Em là cô gái Bình Sơn; Bình Sơn quê mẹ), 5 kế hoạch ngoài giờ lên lớp có giao lưu âm nhạc, dân ca, nhưng không giới thiệu âm nhạc Quảng Ngãi. - Thiết kế 5 kế hoạch ngoài giờ lên lớp để giới thiệu về âm nhạc Quảng Ngãi bằng trình chiếu slide, thực hiện ở nhóm thực nghiệm. Các nội dung trên được thiết kế dựa trên phần mềm Encore 5 , Finale, Adobe Audition 3, Video, Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 5 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . photoshop, và các trang wetsile cũng như các tài liệu (được nêu rõ trong phần VI. Tài liệu tham khảo). 3.2. Tiến hành thực nghiệm: Thời gian dạy học môn âm nhạc vẫn tuân thủ theo quy chế chuyên môn, riêng tiết sinh hoạt ngoại khóa(SHNK) của 2 nhóm theo lịch của Nhà trường. Cụ thể: Thời gian 26/08/2014 27/08/2014 10/09/2014 11/09/2014 01/10/2014 02/10/2014 02/11/2014 03/11/2014 10/12/2014 3.3. Môn/lớp SHNK/9A SHNK/9B PPCT Nội dung Buổi chiều Giới thiệu nhạc cụ dân tộc Quảng Ngãi Buổi chiều Tìm hiểu thêm các loại nhạc cụ phổ biến của Việt Nam và trên thế giới SHNK/9A Buổi chiều Giới thiệu dân ca Quảng Ngãi SHNK/9B Buổi chiều Ôn lại tất cả các bài hát dân ca trong chương trình Âm nhạc THCS SHNK/9A Buổi chiều Giới thiệu nhạc sĩ và nhạc phẩm tiêu biểu về Quảng Ngãi SHNK/9B Buổi chiều Ôn lại tất cả các nhạc sĩ trong chương trình Âm nhạc THCS SHNK/9A Buổi chiều Tập hát dân ca, giao lưu âm nhạc, kiểm tra sau tác động SHNK/9B Buổi chiều Giao lưu âm nhạc, kiểm tra sau tác động Âm nhạc/9A,B 14 Ôn tập TĐN số 4, Ca khúc mang âm hưởng dân ca Nội dung thực nghiệm (Nội dung này nên trình chiếu bằng phần mềm powerpoit): 3.3.1. Giới thiệu một số nhạc cụ dân tộc của Quảng Ngãi (Có đĩa CD kèm theo) a. Nhạc cụ của người Việt Cũng như những vùng đồng bằng khác ở nước ta, người Việt của tỉnh Quảng Ngãi cũng có các loại nhạc cụ dân tộc khá đa dạng về chủng loại, như đàn cò (nhị), trống cơm (phạn cổ), kèn tiểu (tiểu quân), đàn bầu (độc huyền cầm), đàn tranh (đàn thập lục), trống tiểu, sênh, phách, sinh tiền, chập chõa, bồng bồng... Các loại nhạc cụ này được sử dụng trong các môi trường diễn xướng khác nhau, như hát bài chòi, hát sắc bùa, hát bả trạo, hát đám tang... Dưới đây là một số nhạc cụ phổ biến: * Đàn cò: Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 6 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . Đàn cò (còn gọi là đàn nhị)làm bằng gỗ gụ hay trắc. Bầu cộng hưởng gọi là bát nhị. Bát nhị hình ống rỗng lòng, dài khoảng 13,8 cm, một đầu bịt da trăn hay da kỳ đà. Cần đàn tròn không có phím, đầu dưới cắm xuyên qua bầu đàn, đầu trên gọi là Thủ đàn. Thủ đàn hình đầu con cò, có gắn hai trục gỗ tròn để lên dây, có khi trục đàn được chạm khắc cầu kỳ. Ngựa đàn làm bằng tre hay gỗ dài 1 cm đặt khoảng giữa mặt da. Khuyết đàn còn gọi là "Cữ đàn" là một sợi tơ xe néo vào 2 dây đàn. Cữ đàn có tác dụng điều chỉnh độ cao thấp của âm thanh. Khi đưa cữ đàn xuống là làm ngắn quãng dây phát âm, đàn có giọng cao. Khi đẩy cữ đàn lên, làm dài quãng dây phát âm, đàn có giọng trầm. Cung vĩ làm bằng tre, hoặc gỗ được uốn cong hình cánh cung, người ta mắc vĩ như dây cung. Vĩ đàn đặt giữa hai dây, khi đàn vĩ cọ xát vào dây phát ra âm thanh. * Trống cơm: Từ thế kỷ 10, trống cơm đã xuất hiện ở Việt Nam. Trước khi đánh trống người ta thường lấy cơm nghiền nát, trét vào giữa mặt trống để định âm, do đó trống này gọi là trống cơm. Trống cơm có 2 mặt trống hình tròn bằng nhau, đường kính khoảng 15 – 17 cm. Mặt trống bịt da, đường viền buộc bằng sợi mây hay da (dây xạ) kéo từ đầu trống này sang đầu trống kia để chỉnh độ căng giữa 2 mặt trống. Tang trống bằng gỗ hình ống tròn dài khoảng 56 – 60 cm, hai đầu hơi khum lại, đường kính ở tang trống đoạn giữa lớn hơn đường kính mặt trống. Tang trống để mộc hoặc sơn đỏ. Trống cơm có âm thanh vang nhưng mờ đục, diễn tả tốt tình cảm buồn, sâu sắc. Tùy theo chất cơm trét mặt trống âm thanh phát ra sẽ có chất lượng tốt hay xấu tương ứng. Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 7 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . * Đàn Bầu: “…Cung thanh là tiếng mẹ , cung trầm là giọng cha...” Trong kho tàn văn hóa âm nhạc dân tộc Việt Nam, đàn bầu được coi là nhạc cụ độc đáo và hấp dẫn nhất. Tiếng đàn du dương, trầm lắng khiến ai đã nghe một lần thì thật khó quên. Đàn bầu hay còn gọi là độc huyền cầm, thuộc hị dây gẩy, chỉ có một dây, gảy bừng que hoặc miếng gẩy. Thân đàn hình hộp dài , đầu nhỏ hơn cuối. Thành đàn làm bằng gỗ cứng. Đáy đàn và mặt đàn làm bằng gỗ nhẹ. Mặt đàn hay uống cong phồng lên. Đáy đàn có hai lỗ thoát âm. Bầu đàn làm bằng nửa quả bầu khô cắt đáy hoặc bằng gỗ tiện theo hình. Bầu ở đàn lồng vào giữa vòi đàn nơi buộc dây đàn. Que đàn làm bằng que và song vót nhọn. Nói về đàn bầu, có rất nhiều ý kiến trái chiều về lịch sử của nó. Không ai biết chính xác đàn bầu xuất hiện ở nước ta từ khi nào, chỉ biết rằng, đàn bầu có mặt hầu hết trong các dàn nhạc dân tộc, và cũng là một trong những nhạc cụ độc tấu tuyệt vời nhất trong kho tàng âm nhạc dân tộc Việt Nam. * Đàn tranh: Đàn tranh còn gọi là đàn thập lục, là nhạc cụ của nguười Việt. Đàn thuộc họ dây chi gảy. Vì có 16 dây nên đàn còn có tên chữ là Thập lục. Nguồn gốc Đàn Tranh Việt Nam là đàn Tranh giống như đàn sắt. Từ Trung Quốc truyền sang nước Việt có thể từ đời Nhà Trần. Tuy nhiên, đàn tranh đã thành nhạc cụ hoàn toàn mang tính dân tộcViệt Nam vì đã được người Việt ưa dùng, truyền từ đời này đến đời kia hằng 7-8 trǎm nǎm, phù hợp với quan điểm thẩm mỹ của người Việt, và nói rõ ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam. Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 8 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . Đàn Tranh hình hộp dài. Khung đàn hình thang có chiều dài 110–120 cm. Đầu lớn rộng khoảng 25–30 cm là đầu có lỗ và con chắn để mắc dây. Đầu nhỏ rộmg khoảng 15–20 cm gắn 16 khoá lên dây chéo qua mặt đàn. Mặt đàn làm bằng ván gỗ ngô đồng dày khoảng 0,05 cm uốn hình vòm. Ngựa đàn (còn gọi là con nhạn) nằm ở khoảng giữa để gác dây và có thể di chuyển để điều chỉnh âm thanh.Dây đàn làm bằng kim loại với các cỡ dây khác nhau. Ngày xưa dùng dây tơ. Khi biểu diễn nghệ nhân thường đeo 3 móng gẩy vào ngón cái, trỏ, & giữa để gẩy. Móng gẩy làm bằng các chất liệu khác nhau như kim loại, sừng hoặc đồi mồi.Đàn Tranh trong trẻo, sáng sủa thể hiện tốt các điệu nhạc vui tươi, trong sáng. Đàn Tranh ít thích hợp với những tính cách trầm hùng, khoẻ mạnh. Đàn Tranh thường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho ngâm thơ, hát, tham gia trong các dàn nhạc tài tử, phường bát âm, dàn Nhã Nhạc và các dàn nhạc dân tộc tổng hợp. *Sênh tiền: Sênh tiền là nhạc cụ gõ độc đáo, xuất hiện ở Việt Nam ít nhất vài trăm năm nay. Tên cổ của nó là phách sâu tiền hay phách quán tiền (sênh trong tiếng Nôm là phách). Cũng có tên khác là sinh tiền. Nhìn chung, nhạc cụ này là một loại sênh có gắn những đồng tiền vào nên gọi là sênh tiền. Sinh tiền gồm có 3 thanh gỗ cứng (thường là gỗ trắc hay gỗ cẩm lai). Thanh gỗ thứ nhất và thanh gỗ thứ hai được nối liền bằng một sợi dây da ngắn. Thanh thứ nhất trên đầu có 2 cây đinh nhỏ, mỗi đinh xuyên qua lỗ 3 đồng tiền, đầu đinh có núm để giữ các đồng chinh không rớt ra khi đánh. Mặt thanh thứ nhất (dưới 2 cây đinh) có 1 đoạn dài khoảng 13 cm gồm 10 hàng răng cưa lồi lõm, khía theo chiều ngang. Thanh thứ hai giống như thanh thứ nhất nhưng chỉ có 1 cây đinh gắn các đồng tiền. Cả hai thanh này có phần cuối cùng bằng gỗ, không răng cưa, dùng để làm tay cầm. Hai Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 9 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . thanh dài khoảng 28 cm, ngang khoảng 3 cm dày khoảng 8mm, còn thanh thức ba ngắn hơn, dài khoảng 20 cm. Thanh thứ ba ngắn hơn một ít, có khứa răng cưa bên cạnh, cạnh trái khứa từ đầu đến giữa, cạnh phải từ đầu đến cuối. Sênh tiền được dùng trong dàn nhạc cung đình, chầu văn, ca Huế, bát âm, hát sắc bùa và hát ả đào... Người ta dùng nó để hòa tấu, giữ nhịp hoặc làm đạo cụ múa. b. Nhạc cụ của đồng bào dân tộc thiểu số: Nhạc cụ của người dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi chủ yếu được chế tác bằng chính bàn tay của các nghệ nhân dân gian, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm, bằng tai nghe, tay làm, mắt thấy, và sự trao truyền từ đời này sang đời khác. Ngoại trừ các bộ chiêng, còn lại hầu hết các loại nhạc cụ đều làm bằng những vật liệu sẵn có như: Đàn Brook, đàn k’lông buk, đàn rơ đoang, sáo máp, sáo tà lía, sáo avố, đàn gió, đàn nước……. Người dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi sử dụng các nhạc cụ dân gian để chơi trong những lúc rỗi rãi, trên nhà sàn, hoặc ngoài nương rẫy, cũng có khi được sử dụng trong các hội mùa, hội ăn trâu, để ru con ngủ, để tỏ tình... Tiêu biểu có các loại nhạc cụ sau: *Đàn Brook: Là một loại đàn phổ biến của nhiều dân tộc ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, với các tên gọi hơi khác biệt chút ít, như brook, bro, vrook... Ở Quảng Ngãi, lợi đàn này được dân tộc người H’rê sử dụng nhiều nhất. Đàn brook có bầu đàn bằng trái bầu phơi khô, được khoét ruột; cần đàn là một ống lồ ô hoặc ống nứa dài khoảng 60 - 70cm, có đường kính khoảng 3 - 4cm; các phím đàn là Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 10 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . những thẻ gỗ cây gạo hoặc bằng cật mây; có 2 dây, gồm một dây chồng (kxi klô) và một dây vợ (kxi kri). Đàn brook dành cho nam giới, dùng để chơi các giai điệu mang tính tự sự, mô phỏng tiếng chiêng, có khi còn để ru con ngủ. * Sáo Tà lía: Là loại sáo dọc, có 6 lỗ, tương tự sáo tà lía của người Hrê, dùng để thổi lúc đêm khuya hoặc ra rừng, ra rẫy, có khi còn để hòa tấu với các nhạc cụ khác. * Chiêng: Chiêng là loại nhạc cụ phổ biến của người dân tộc thiểu số Việt Nam nói cung và ở Quảng Ngãi nói riêng. Đồng bào dân tộc người H’rê, Cor, và Cadong điều có loại nhạc cụ này. Người Ca Dong có hai bộ chiêng là chiêng hnăng và chiêng hlênh.Chiêng hnăng là bộ chiêng gồm 7 chiếc, có âm trầm vang, không có núm (chiêng bằng). Chiêng được đánh bằng dùi ở mặt trong, chỉ dùng trong lễ ăn trâu, ít khi dùng trong những trường hợp khác, là loại chiêng do đàn ông lớn tuổi sử dụng. * Đàn kloong pút: Là loại đàn giống như đàn và pút (pênh pút) của người Hrê, nhưng có từ 2 - 5 ống nứa. Cách chơi kloong pút của người Ca Dong cũng giống cách chơi đàn và pút hay đàn a khung của người Hrê. Đây là loại đàn dành cho nữ giới, chủ yếu chơi trong những lúc rỗi rãi hoặc hội hè. Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 11 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . * Sáo A máp: Là loại sáo nhỏ, bằng triêng rừng, có lưỡi gà, tương tự a mó của người Hrê, nhưng dài hơn. Trong cộng đồng người Cor hiện có rất nhiều người biết chơi a máp, đặc biệt là các nghệ nhân ở Trà Phong (huyện Tây Trà), như bà Hồ Thị Vui, Hồ Thị Bảy... Hai nghệ nhân này có thể song tấu nhiều bài a máp khác nhau, như ru con, đánh thức con dậy, khuyên con đi làm rẫy, đi bẫy thú... * Đàn rơđoang: Đàn rơđoang là một loại nhạc cụ họ dây kéo, có nơi gọi là k’ny. Đàn chỉ có một dây, được làm bằng gân thú, hoặc dây dứa, dây tơ, dây nilông, dây kẽm. Cung kéo là một thanh tre, hoặc nứa nhỏ (dùng để kéo). Cần đàn là một ống nứa dài khoảng 40 - 50cm, có 4 - 5 phím bằng sáp ong. Một sợi chỉ được buột chặt từ phía dưới thân đàn nối với một miếng kim loại. Khi diễn tấu, ngoài việc dùng cung kéo để kéo vào dây đàn, người diễn còn ngậm vào miếng kim loại để tạo nên một sự cộng hưởng âm thanh từ khoang miệng. Đàn rơđoang cũng chỉ dành cho đàn ông, dùng để chơi các giai điệu tự sự vào những lúc nhàn rỗi, hoặc mối mai vợ chồng... * Sáo đất: Sáo làm bằng đất sét thổi nghe réo rắt, du dương, trầm bổng. Người H’re ở huyện miền núi Sơn Hà gọi là sáo tà vố. Đó là tiếng lòng của dân tộc H’re, bởi thông qua tiếng sáo người thổi mở lòng mình với mọi người, nhất là những đôi trai gái yêu nhau. Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 12 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . 3.3.2. Giới thiệu một số làn điệu dân ca Quảng Ngãi:(Có đĩa CD kèm theo) a. Dân ca của người Việt: Trong suốt nhiều thế kỷ định cư trên vùng đất Quảng Ngãi, người Việt ở vùng đất này đã dùng nhiều loại hình dân ca để bày tỏ tình cảm, thái độ của mình trước thiên nhiên, trước sự đổi thay của lịch sử và đời sống xã hội, để tỏ tình, để ru con, để nói về tình cha mẹ, nghĩa xóm giềng... Căn cứ vào hình thức diễn xướng, có thể tạm chia loại hình nghệ thuật diễn xướng của người Việt ở Quảng Ngãi thành các thể loại: hò, hát, lý. * Đối với thể loại hò có thể chia thành hai loại như sau: - Hò trên cạn có các thể loại: hò giã gạo, hò đầm nền, hò đi cấy, hò xay lúa, hò tát nước, hò đạp xe nước, hò giã vôi, hò đẩy che mía... Tất cả các loại hò này là những sinh hoạt văn hóa văn nghệ thường gắn liền với môi trường hoạt động sinh hoạt, sản xuất trên ruộng lúa, ruộng mía, trên rẫy, trong nhà, ngoài sân, bến bãi, sân đình... Tiết tấu, giai điệu của từng điệu hò phù hợp với hoạt động sinh hoạt hoặc lao động sản xuất, như vòng quay của cối xay lúa, vòng quay của xe đạp nước, nhịp chày giã gạo, nhịp chân đầm nền, nhịp tay cấy lúa... - Hò trên sông nước là loại hò thường được sử dụng trong sinh hoạt, lao động sản xuất trên sông, trên biển. Hò trên sông nước có các loại: hò chèo thuyền, chèo đò, hò giựt chì, hò ba lý, hò mái ba, hò mái nhì, hò mái nhặt... Trong các loại hò này, có loại tiết tấu lúc khoan nhặt (nên còn gọi là hò khoan), lúc trầm lúc bổng, lúc khỏe khắn, nhanh, chắc, như hò chèo thuyền, hò chèo đò trên các dòng sông Trà Bồng, Trà Khúc, sông Vệ...; có loại mạnh mẽ, dồn dập như hò giựt chì, hò kéo lưới, hò hụi...; có loại vui nhộn, sảng khoái, như hò ba lý, hò mái nhì, hò mái ba... Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 13 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . * Thể loại lý: Lý là một thể loại dùng trong sinh hoạt ca hát dân gian được nhiều người ưa thích. Cấu trúc của giai điệu lý rất chặt chẽ, hoàn chỉnh từ giai điệu, lời ca, nhịp. Lý thường được dùng trong các loại hình dân ca nghi lễ, như hát sắc bùa, hát bả trạo, hò đưa linh, hoặc các loại hình sân khấu truyền thống, như các vở tuồng cổ... Ở Quảng Ngãi, có các điệu lý phổ biến như: lý vẽ rồng, lý tang tít, lý con chuồn chuồn, lý năm canh, lý thương nhau, lý mừng xuân... Trong các vở tuồng cổ, các điệu lý thường được các nhân vật thuộc tầng lớp dưới sử dụng để bày tỏ thái độ oán trách đối với tầng lớp trên (như các bài lý năm canh, lý thương nhau...). Trong hát bả trạo, thường sử dụng các bài lý tang tít, lý năm canh... Trong múa hát sắc bùa thường sử dụng các bài lý, như lý mừng xuân, lý vẽ rồng, lý năm canh...(trong phần múa hát giúp vui). * Thể loại hát: Người Việt ở Quảng Ngãi có nhiều loại hát khác nhau. Nếu nhìn dưới góc độ nội dung thể hiện thì có các loại hát: hát nhân ngãi, hát huê tình... Nếu theo chức năng thì có hát ru, hát khóc (nay không còn), hát mừng tuổi (dùng trong hát sắc bùa)... Nếu theo mục đích diễn xướng thì có hát sắc bùa, hát bả trạo... Nếu theo phương thức diễn xướng thì có hát ống, hát lô tô, hát bài chòi... - Hát ru: là điệu hát của bà, của mẹ, của chị, và cả của ông, của cha dùng để ru con, ru cháu. Nhịp điệu khoan thai, lúc trầm lúc bổng, bao giờ cũng bắt đầu bằng từ "ầu ơ..". Ầu ơ... Ngó lên trên trời, trời cao lồng lộng Ngó ra ngoài biển, biển rộng thinh thinh Ngó vô trong dạ buồn tình Đêm nằm nước mắt...(ầu ơ) nhỏ như bình trà nghiêng Đêm nằm nước mắt...(ầu ơ) triền miên Áo em năm vạt (à) ướt liền cả năm.. (à ơ)... Bà Phù Thị Sẻ - Thôn Tây, An Vĩnh, Lý Sơn hát Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 14 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . -Hát bài chòi: Hát bài chòi là một hình thức ca hát dân gian phổ biến ở vùng Nam Trung Bộ. Cách đây vài chục năm về trước, tại Quảng Ngãi, hội hát bài chòi có mặt ở hầu hết các làng xã trong tỉnh, nhất là ở các làng xã ven biển vào mỗi dịp Tết Nguyên đán, có khi bắt đầu từ khoảng 20 tháng Chạp đến hết Rằm tháng Giêng. Ngày nay, ở một vài nơi cũng còn tổ chức hội bài chòi, trên 9 chòi và cả hội bài chòi chiếu, nhưng thường chỉ bắt đầu từ 26 - 27 tháng Chạp đến mùng 4 mùng 5 Tết. Giai điệu của bài chòi thường theo lối hát thông thường, như nói thơ, nói vè, và cũng có lúc vận dụng cả các điệu xuân nữ, xàng xê, hò Quảng... Nói chung, bài chòi là một hình thức diễn xướng dân gian mang tính tổng hợp, như hát, hô, nói, khua trống, mõ, nhạc đệm, diễn trò...Nhờ những yếu tố tích cực của hình thức diễn xướng này mà bài chòi bước lên sân khấu chuyên nghiệp lẫn không chuyên nghiệp, từ độc tấu, song tấu đến ca kịch, từ những bài ca đơn lẻ đến vở diễn dài hơi. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những bài thơ nôm na được sáng tác cho lối hát bài chòi, đã thực sự lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân, và góp phần tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng, của Cách mạng. Chính bài chòi đã làm nên những tên tuổi các nghệ sĩ là người Quảng Ngãi: Lệ Thi, Hữu Ích, Bích Liên, Nguyễn Văn Khánh... - Hát bả trạo: Hát bả trạo còn gọi là chèo bả trạo, có nơi gọi là chèo bá trạo, là một hình thức diễn xướng dân ca nghi lễ, diễn ra vào mỗi dịp tế Cá Ông, hoặc khi Cá Ông lụy, là một bộ phận của nghi lễ Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 15 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . thờ cúng Cá Ông của các vạn chài ven biển Quảng Ngãi.Đội chèo bả trạo thường có 15 - 17 người, trong đó có một Tổng lái, một Tổng thương, một Tổng mũi, và còn lại là các con trạo. Một chương trình hát bả trạo diễn ra trong thời lượng 90 đến 120 phút ngay tại sân lăng thờ Cá Ông hoặc ngoài bãi biển. Nội dung chính một bài bả trạo theo trình tự: phần đầu kể về chuyện ngư dân đi làm biển, rồi bị sóng to gió lớn; khi thuyền sắp đắm, đức Ngư Ông xuất hiện và ra tay cứu giúp, đưa thuyền về nơi an toàn; phần tiếp theo là hát múa kể về công đức Cá Ông, suy tôn Ông; phần cuối là hát các bài vè, bài lý giúp vui. Người giữ vai trò lĩnh xướng một cuộc hát bả trạo là Tổng mũi, có sự giúp sức của Tổng thương và Tổng lái. Các con chèo xô theo từng đoạn và múa các động tác như đang chèo thuyền (nên còn gọi là chèo cạn). Giai điệu các bài bả trạo thường được sử dụng là nói lối, hò chèo thuyền, hò kéo lưới, hò kéo neo, hò giựt chì, hò mái ngơi, nam xuân, nam ai..., và các bài lý, như lý tang tít, lý vãi chài... Nhờ sự tích hợp nhiều giai điệu, làn điệu, có nói lối, có hát, có múa, có diễn, có sênh, trống và dàn nhạc phụ đệm phụ họa, và có thể xem, hát bả trạo là một loại hình diễn xướng mang tính tổng hợp (như hát sắc bùa, hát bài chòi). Hiện nay, nhiều làng, vạn ven biển Quảng Ngãi, hàng năm vào dịp tế Cá Ông còn tổ chức hát bả trạo, như vạn Đông Yên (Bình Dương, huyện Bình Sơn), vạn Cù Lao - Mỹ Tân (Bình Chánh, huyện Bình Sơn), vạn Tuyết Diêm (Bình Thuận, huyện Bình Sơn)... Cách đây vài năm, vạn Thạch Bi (Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ) cũng tổ chức lại đội bả trạo để diễn trong lễ tế tại lăng Ông, và nghĩa tự của vạn vào lệ tế xuân và lệ tế thu. * Hát sắc bùa: Hát sắc bùa là một hình thức diễn xướng dân gian mang tính chất nghi lễ phong tục, chủ yếu diễn ra vào dịp Tết Nguyên đán. Trước năm 1945, nhiều làng xã ven biển thuộc các huyện Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ có hát sắc bùa. Đến nay, vì nhiều lý do khác nhau, tục hát sắc bùa chỉ còn ở xã Đức Phong (huyện Mộ Đức), các xã Phổ An, Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 16 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . Phổ Cường, Phổ Khánh, Phổ Thạnh (huyện Đức Phổ), mà trong đó tiêu biểu nhất là ở Phổ An. Thời gian đội bùa lưu diễn thường bắt đầu từ đêm trừ tịch đến hết tháng Giêng, không chỉ trong một làng, xã mà còn đi diễn ở nhiều nơi, đặc biệt là ở những làng, xã dọc ven biển Quảng Ngãi, có khi đi tận Bình Định hoặc Quảng Nam. Chính tính chất lưu diễn này mà hát sắc bùa được xem là một hình thức diễn xướng mang tính bán chuyên nghiệp.Biên chế một đội sắc bùa (còn gọi là phường bùa, đội bùa) thường có 11 người, trong đó có một ông cái kiêm chơi trống tầm vinh (còn gọi là tùng dinh, là một dạng trống cơm), một ông phụ cái, một ông chơi đàn cò, một ông chơi kèn tiểu, một ông chơi phách, và 6 nữ làm quân xô. Quân xô thường chỉ từ 12 - 16 tuổi. Nội dung chính của hát sắc bùa là chúc mừng năm mới cho gia chủ (trong gia đình mời đội bùa đến biểu diễn), làm các thủ tục xua quỷ, trừ tà, tống cựu, nghinh tân, hát múa mừng năm mới. Về nghệ thuật, hát sắc bùa là một hình thức diễn xướng mang tính tổng hợp: hát, múa, diễn trò, nhạc đệm..., hết sức phong phú về làn điệu, lời ca, trong đó có nhiều giai điệu phổ biến của dân ca miền Nam Trung Bộ, dân ca Quảng Ngãi. Hiện nay, ở Quảng Ngãi có một số đội hát sắc bùa, nhưng tiêu biểu nhất là đội sắc bùa Phổ An (huyện Đức Phổ). Có nghệ nhân thuộc hơn 50 làn điệu hát sắc bùa khác nhau, đó là nghệ nhân dân gian Lê Công Lịch. b. Dân ca của đồng bào dân tộc thiểu số: *Dân ca H’rê: Dân ca Hrê có giai điệu trong sáng, tình cảm và thang âm phong phú, nên nhiều nhạc sĩ đã mượn làn điệu từ dân ca Hrê để phát triển thành những ca khúc. Dân ca Hrê có giai điệu trong sáng, tình cảm và thang âm phong phú, nên nhiều nhạc sĩ đã mượn làn điệu từ dân ca Hrê để phát triển thành những ca khúc nổi tiếng, như: Phan Huỳnh Điểu với Bóng cây kơnia (thơ Ngọc Anh), Nhật Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 17 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . Lai với Thương anh cán bộ, Cánh chim pôngkle, Hái rau tặng anh bộ đội, Phan Quý với Chiều sông Rhe (thơ Nguyễn Ngọc Trạch)... Các loại hình dân ca chính của người Hrê ở Quảng Ngãi bao gồm: ta lêu (ca lêu), ca choi (ca chơi), ta jeo, vađhô con...trong đó nỗi tiếng nhất là khúc ta lêu. Ta lêu (ở huyện Sơn Hà, và những vùng dưới của huyện Sơn Tây gọi là ca lêu), là điệu hát kể, có tính chất tự sự. Người Hrê thường dùng ta lêu để hát kể cho con cháu nghe bên bếp lửa nhà sàn, trên rẫy vào mùa chờ thu hoạch. Có hai dòng ta lêu là ta lêu cổ và ta lêu mới. Ta lêu cổ, là loại ta lêu có hệ thống bài bản vốn được truyền từ đời này sang đời khác. Loại ta lêu này có các đề tài như: kể về các loài vật, cây cối; kể về các anh hùng huyền thoại của cộng đồng tộc người, về các vị thần linh, về những con người tài trí, dũng cảm... Đây là loại ta lêu có cốt truyện nên khi hát kể ta lêu, người Hrê gọi là cà eng, vì có những bài ta lêu được các nghệ nhân Hrê hát suốt cả đêm. Trong các truyện cổ dân gian của người Hrê thường có những đoạn xen bằng văn vần, đó chính là những khúc ta lêu cổ. Ta lêu mới, là loại ta lêu mới được sáng tác trong giai đoạn chống Pháp, chống Mỹ và cả sau ngày hòa bình, thống nhất đất nước. Nội dung chính của loại ta lêu này là ca ngợi Đảng, Bác Hồ, bộ đội; tình đoàn kết Kinh - Thượng, mối tình gắn bó giữa quân và dân; ca ngợi cuộc sống mới, về tinh thần hăng say lao động, sản xuất... và đặc biệt là về tình yêu đôi lứa * Dân ca của người Cor: Dân tộc Cor ở Quảng Ngãi còn bảo lưu nhiều loại hình dân ca, khá đa dạng và phong phú, có những sắc thái riêng như: điệu xà ru, cà lu, A giới, a lát, cà lùa…Phổ biến nhất làn điệu sau xà ru: Xà ru là điệu hát có giai điệu trong sáng, mượt mà, theo lối tự sự, có kể, có tâm tình, có nói bóng gió, lời hát thường từ sự ứng khẩu của mỗi người. Trai gái hay dùng xà ru để hát tỏ tình, trong rừng quế Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 18 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . hay ngoài sông, ngoài suối. Trong lễ hội, xà ru là công cụ năng động nhất để đối thoại giữa các thành viên trong cộng đồng với nhau. Xà ru còn được dùng để giao tiếp với thần linh. * Dân ca của người Ca Dong Cũng như người Hrê, người Cor, người Ca Dong ở Quảng Ngãi cũng bảo lưu được những làn điệu dân ca khá phong phú và đa đạng như: ca lêu, ra nghế, plét, a hội, dê ô dê. Trong đó nổi bật là điệu Ra nghế Ra nghế là lối hát đối đáp, tự sự, có tính chất ứng khẩu, thường diễn ra vào những đêm trăng sáng, hoặc cũng có khi lên nương, lên rẫy. Người Ca Dong còn dùng ra nghế để hát kể về công lao của con trâu trước khi làm lễ hiến sinh, hát kể về các thành phần cũng như hoa văn họa tiết của cây nêu... Trong các lễ tết, người Ca Dong cũng dùng ra nghế, ca lêu, a hội... để hát vui với nhau. 3.3.3. Giới thiệu một số nhạc sĩ và một số ca khúc tiêu biểu của Quảng Ngãi. * Nhạc sĩ Trương Quang Lục: Ông sinh ngày 25 tháng 2 năm 1933, quê tại xã Tịnh Khê (Sơn Mỹ), huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Là hội viên hội Nhạc sĩ VN, đồng thời là hội viên hội Nhà báo VN. Trong kháng chiến chống Pháp, Trương Quang lục đã có một số bài hát được phổ biến như: Chuyến tàu trăng, Bảo vệ hòa bình, Đố cờ, Hoa bên suối. Sau hòa bình, ông chuyển ra miền Bắc vừa làm kỹ sư hóa chất ở nhà máy Super – Phosphate Lâm Thao, ông vừa sáng tác ca khúc và nhiều tác phẩm ra đời ở đó. Trong thời kỳ này, ông đã có những ca khúc được công chúng yêu thích với: Cô gái Lâm Thao, Tiếng hát bên rừng, Vàm Cỏ Đông, Hoa sen Tháp Mười, Quảng Ngãi đất mẹ kiên cường… cũng như một số bài hát thiếu nhi: Xỉa cá mè, Em yêu đàn gà xinh, Trái đất này là của chúng em (thơ Định Hải), Tuổi mười lăm, Màu mực tím… Trương Quang Lục cũng tham gia viết nhiều nhạc phim, nhạc sân khấu, múa rối, một số bài nghiên cứu dân ca, một số bài giới thiệu những ca khúc nổi tiếng của nhiều tác giả Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 19 Trường THCS Bình Dương Giới thiệu Âm nhạc Quảng Ngãi trong chương trình Sinh hoạt ngoại khóa ở trường THCS . trên báo Sài gòn giải phóng Chủ nhật. Tác phẩm đã xuất bản: Tuyển tập nhạc Trương Quang Lục (hội Văn nghệ Vĩnh Phúc), Tuyển chọn ca khúc kèm băng cassette của Trương Quang Lục (NXB DIHAVINA và hội Nhạc sĩ VN, 1995). Các tác phẩm tiêu biểu: Vàm Cỏ Đông, Trái đất này là của chúng em, Tuổi mười lăm, Màu mực tím, Hoa sen Tháp Mười. Trong đó đặc biệt là Ca khúc Quảng Ngãi đất mẹ ngoan cường được tỉnh ta chọn làm bài tỉnh ca. * Nhạc sĩ Trần Xuân Tiên: - Quê quán: TP Quảng Ngãi - Công tác tại Đài PTTH tỉnh Quảng Ngãi - Những tác phẩm tiêu biểu: Khúc ru chiều Thiên Ấn(Giải thưởng âm nhạc – Hội Nhạc sĩ Việt Nam năm 2010), Cảm xúc giao thừa, Chiều Lý Sơn, Tìm về, Tam Thương… Từ lúc còn cùng học phổ thông, bọn thiếu nhi chúng tôi ở thị xã Quảng Ngãi ai mà không thuộc làu những ca khúc thiếu nhi như: Sơ ri, Nấm mèo, Mẹ, Nhớ ơn Bác Hồ, Mời trăng xuống chơi… Đến nay với quãng đường hơn ¼ thế kỷ, Trần Xuân Tiên, người nhạc sĩ tài hoa đó đã sáng tác gần 100 ca khúc thiếu nhi. Tuy mỗi bài có mỗi giai điệu riêng, nhưng mỗi ca khúc của Trần Xuân Tiên đều mang phong vị dân ca đậm đà của vùng đồng bằng Trung Trung bộ quê hương anh. Người ta thường gọi Xuân Tiên là nhạc sĩ của những giải thưởng, Năm 2000, anh được Ban tổ chức liên hoan Tiếng hát Hoa phượng đỏ toàn quốc tặng giải đặc biệt Giáo viên: Phạm Thị Na Sa 20 Trường THCS Bình Dương
- Xem thêm -