Tài liệu Skkn câu tiếng việt và phương pháp chữa lỗi câu tiếng việt cho học sinh

  • Số trang: 19 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 149 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CÂU TIẾNG VIỆT VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỮA LỖI CÂU TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH A. Đặt vấn đề I. Lời nói đầu: Môn Ngữ văn là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng tình cảm cho học sinh. Nhà văn hào Nga Mác-XimGor-Ki đã nói: “Học văn là học làm người”. Học tốt môn ngữ văn giúp học sinh rất nhiều trong giao tiếp với đời sống xã hội, giao tiếp với đời sống gia đình và bạn bè. Và dù sau này bước vào đời, học sinh có thể tham gia mọi ngành nghề phục vụ xã hội, môn Ngữ văn luôn luôn là phương tiện, là người bạn tốt trên đường đời của mỗi học sinh, giúp các em sống tốt hơn, đẹp hơn. II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 1. Thực trạng. Rõ ràng là môn Ngữ văn có một vị trí quan trọng trong nhà trường phổ thông. Song có một thực trạng đáng buồn là hiện nay không ít học sinh thực sự không mặn mà với việc học văn “không chịu” đọc sách, báo và các tài liệu tham khảo, lười suy nghĩ, sáng tạo Chính vì thế mà trong khi nói cũng như khi viết, các em thường không diễn đạt được nội dung mình định nói do đó dẫn đến việc viết câu sai. Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn, bản thân tôi thấy mình cần phải làm gì để giúp học sinh nhận ra lỗi viết câu sai là loại lỗi gì ? nguyên nhân và cách sửa chữa. Từ đó, các em sẽ không chỉ biết viết câu sao cho đúng mà còn biết viết những câu hay, ý tứ. Chính vì lí do đó, tôi đã chọn đề tài “Câu Tiếng Việt và phương pháp chữa lỗi câu Tiếng Việt cho học sinh” 2. Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên. Từ thực trạng trên tôi đã tiến hành khảo sát các lỗi về câu. Kết quả thu được như sau: Năm học Khối Số Lỗi lớp lượng Không lỗi Các loại chủ yếu Tỷ lệ (%) - Thiếu các thành phần nòng cốt câu 27,1 - Viết câu thiếu vế 22,3 - Không ý thức rõ về thành phần phụ trạng 2005 - 2006 7 206 85 101 ngữ với chủ ngữ 21,2 - Sai quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần trong câu 15,3 - Sai quan hệ logic chủ đề - liên kết hình thức 14,1 B. Giải quyết vấn đề I. Các giải pháp thực hiện: 1. Những yêu cầu cơ bản của việc viết câu 1.1. Nội dung phải hợp lí về mặt logic và ngữ nghĩa - Câu phải có nghĩa, vì có nghĩa chúng ta mới hiểu được nội dung, mục đích thông báo. Muốn vậy dùng từ trong câu và viết chính tả phải đúng. - Mặt khác, đứng về mặt ý nghĩa giữa các từ, các bộ phận trong câu không được mâu thuẫn nhau, mà phải thống nhất với nhau, ý của câu cũng phải thống nhất với ý của đoạn văn, của văn bản, đảm bảo sự phát triển liền mạch, liền ý của đoạn văn và văn bản. 1.2. Câu trúc cú pháp của câu phải phù hợp với qui tắc tạo câu của Tiếng Việt. a) Câu phải có kết cấu nòng cốt. * Câu là một chỉnh thể ngữ pháp độc lập, chứa đựng một nội dung thông báo hoàn chỉnh và gắn với một hoàn cảnh giao tiếp nhất định. Câu có hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ. * Chủ ngữ nêu tên sự vật, hiện tượng có hành động, đặc điểm, trạng thái ... được miêu tả ở vị ngữ. Chủ ngữ thường đứng trước vị ngữ. Ví dụ: Con bò đang gặm cỏ CN VN Chủ ngữ thường do danh từ đảm nhiệm, nhưng cũng có thể do động từ, tính từ đảm nhiệm. Chủ ngữ có thể được cấu tạo từ một từ hoặc một cụm từ. * Vị ngữ chỉ ra hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ của sự vật, hiện tượng nêu ở chủ ngữ. Vị ngữ thường đứng sau chủ ngữ, do động từ, tính từ (cụm động từ, tính từ) hoặc do các từ, cụm từ khác đảm nhiệm. * Giữa chủ ngữ và vị ngữ phải đảm bảo quan hệ hợp lí, chặt chẽ. Thường thì trong câu chủ ngữ đứng trước, vị ngữ đứng sau. Chỉ trong những trường hợp hạn hữu, trong câu mới có hiện tượng đảo trật tự giữa chủ ngữ và vị ngữ. Khi muốn nhấn mạnh ý, làm cho câu có tính gợi hình, gợi cảm người ta đảo vị trí của vị ngữ lên đầu câu. Ví dụ: Lom khom dưới núi, tiều vài chú VN CN Lác đác ben sông, chợ mấy nhà VN CN Chỉ những câu vị ngữ là động từ nội động thì mới có thể đảo vị trí vị ngữ lên đầu được. Ví dụ: Bạc phơ, mái tóc người cha VN CN * Ngoài hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ thì câu cần có ngữ điệu thông báo. Đặc biệt khi hai thành phần chính của câu vắng mặt thì ngữ điệu càng trở nên quan trọng hơn. Vì thế, câu còn có các thành phần phụ. b) Câu phải có quan hệ ngữ nghĩa hợp lí Khi viết câu, nội dung câu phải hợp lí,có tính chất khách quan phù hợp với quy luật nhận thức. Ví dụ : - Chim hót - Bò đang gặm cỏ. Chứ không thể đặt câu là : - Bò đang hót - Chim gặm cỏ Giữa chủ ngữ và vị ngữ phải hợp lí. Chủ ngữ thường nêu sự vật, hiện tượng, sự việc; vị ngữ nêu hành động, trạng thái, tính chất, đặc điểm … về sự vật, sự việc, hiện tượng chứ không thể ngược lại. Quan hệ giữa trạng ngữ với nòng cốt câu cũng phải đảm bảo sự logic, hợp lý. Ví dụ: Trên cánh đồng, mấy chú bò đang gặm cỏ Tr.N CN VN Chứ không thể có trạng ngữ: “Trên cành cây” mà nòng cốt câu lại là “mấy chú bò đang gặm cỏ”. Giữa các vế trong câu ghép phải có sự hợp lý đảm bảo tính logic. Nếu vế thứ nhất là nguyên nhân thì vế thứ hai phải là kết quả (hoặc điều kiện - kết quả; giả thiết - kết quả ). Nếu câu không có kết cấu như thế là câu sai. c) Đặt câu phải đảm bảo yêu cầu về mặt phong cách. Câu trong phong cách hành chính khác với câu viết theo phong cách nghệ thuật, chính luận. - ở văn bản hành chính - công cụ thường sử dụng những câu có cấu trúc chặt chẽ. Quan hệ giữa các thành phần, các vế câu được xác định rõ ràng, rành mạch, bố cục hợp lý, chặt chẽ không dài dòng. - Trong văn bản nghị luận thường sử dụng từ ngữ toàn dân, những từ ngữ chính trị - xã hội. sử dụng biến hoá các loại câu trong lập luận, chứng minh giải thích, bình luận để thấu lý, đạt tình... - Trong văn bản thuyết minh, có thể sử dụng rộng rãi các kiểu câu đơn câu phức theo một hệ thống cú pháp chuẩn. - Đối với văn bản nghệ thuật việc sử dụng câu hết sức đa dạng, có đủ các loại câu theo mục đích phát ngôn, có đủ các kiểu câu chia theo cấu trúc nhằm đảm bảo tính thẩm mỹ, tính hình tượng và tính riêng về phong cách cá nhân. Qua trên ta thấy khi đặt câu phải chú ý xem câu phù hợp với phong cách ngôn ngữ nào để viết câu cho đúng, phù hợp với đặc điểm phong cách ngôn ngữ đó. d) Các câu trong văn bản phải đảm bảo sự liên kết. Văn bản là một thể thống nhất có tính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức. Văn bản dù viết dưới hình thức nào, đều là một tập hợp gồm nhiều câu, nhiều đoạn nối với nhau. Việc sắp xếp, nối kết các câu trong đoạn, các đoạn trong văn bản không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà nó thể hiện ý đồ của người viết, hướng tới một nội dung chủ đề nhất định. Và như vậy, mối quan hệ ý nghĩa giữa câu với câu được gọi là liên kết câu. Muốn liên kết câu phải đảm bảo nguyên tắc liên kết cả về nội dung và hình thức. - Liên kết nội dung: Các câu trong đoạn văn về mặt nội dung có mối quan hệ qua lại lẫn nhau. Liên kết nội dung thể hiện ở hai bình diện: liên kết chủ đề và liên kết logic. Hai mặt này gắn bó chặt chẽ với nhau. - Liên kết hình thức: Chính là việc sử dụng các phương tiện liên kết của ngôn ngữ để nối các câu làm cho chúng gắn bó chặt chẽ với nhau nhằm biểu hiện nội dung văn bản. Phương tiện liên kết có thể thuộc bình diện ngữ âm như vần, nhịp; có thể thuộc bình diện từ vựng như từ và thuộc bình diện ngữ pháp như kết cấu ngữ pháp. Các phương tiện đó rất đa dạng nhưng có thể quy về một số phương thức nhất định: Phương thức lặp; phương thức thế; phương thức liên tưởng; phương thức nối; phương thức trật tự tuyến tính Trên đây là toàn bộ những yêu cầu cơ bản của việc viết câu. Dựa vào những yêu cầu cơ bản ấy mà chúng ta biết được câu viết đúng hay viết sai. Để từ đó nhận ra được lỗi câu mà có phương hướng chữa lỗi. 2. Các giải pháp thực hiện 2.1. Phân loại lỗi. Để phân loại lỗi câu sai, tôi đã dựa vào một số tiêu chuẩn sau: - Thứ nhất là: dựa vào quan hệ hướng nội (tức là tổ chức nội bộ trong câu). - Thứ hai là: dựa vào quan hệ hướng ngoại (tức là xem học sinh đã sử dụng việc liên kết câu theo chủ đề, logic hoặc dùng phương tiện liên kết không phù hợp như thế nào ?) sơ đồ phân loại lỗi: Lỗi câu Quan hệ hướng nội Sai về mặt cấu tạo Sai kết cấu nòng cốt Câu ghép thiếu vế Quan hệ hướng Sai về mặt ngữ nghĩa Quan hệ C-V không hợp TN với nòng cốt không hợp Lỗi về liên kết nội dung Thàn h phần trong câu không Lỗi về liên kết chủ Lỗi về liên kết hình Lỗi về liên kết logic Sau khi phân loại lỗi theo tiêu chuẩn như ở trên, tôi tiến hành miêu tả lỗi một cách chi tiết. ở đây, tôi chỉ xin đưa ra một số câu tiêu biểu cho mỗi dạng lỗi nằm trong phạm vi của đề tài. 2.2. Miêu tả lỗi. * Lỗi do thiếu các thành phần nòng cốt của câu - Câu 1: Hè về, nở đỏ rực cả sân trường Câu này thiếu bộ phận chủ ngữ - Câu 2: Những kỷ niệm tuổi học trò Câu này thiếu bộ phận vị ngữ - Câu 3: Bằng nỗ lực của bản thân đã trở thành một học sinh giỏi Trong câu này, người viết nhầm tưởng “Bản thân” đã có thể làm chủ ngữ cho bộ phận đứng sau đó * Lỗi do các em sử dụng câu thiếu vế. - “Tuy Hồng rất chăm học, vâng lời bố mẹ”. ở câu trên các em đã dùng thiếu một vế theo cặp quan hệ từ: “Tuy nhưng. - “Nếu ngày hôm qua bạn không chăm chỉ, chịu khó” Câu này cũng chỉ có vế phụ mà chưa có vế chính. * Lỗi do không ý thức rõ về thành phần trạng ngữ và chủ ngữ - “Qua nhân vật chị Dậu cho ta thấy rõ những đức tính cao đẹp đó”. ở câu này người viết đã hoà nhập chủ ngữ với phần phụ trạng ngữ của câu. * Lỗi do không ý thức rõ về trạng ngữ - “Những năm về sau, khi đã là một người thành đạt, dày dặn kinh nghiệm ở câu này, người viết hiểu lầm chủ ngữ là “Những năm về sau” còn “Khi đã là ... kinh nghiệm” là vị ngữ trong khi nó chỉ là phụ * Lỗi do các em sử dụng câu thiếu phụ ngữ bắt buộc - “Mọi người đều lắng nghe. Câu này thiếu phụ ngữ đứng sau của cụm động từ nên đọc lên ta thấy khó hiểu vì vậy ta phải thêm phụ ngữ cho động từ. VD: Mọi người đều lắng nghe câu chuyện cổ tích. * Lỗi do câu sai quan hệ logic ở một số bài tập làm văn của mình, các em đã sử dụng câu mà quan hệ chủ - vị trong câu không hợp lý. VD: Qua nhân vật Thuý Kiều, ta thấy được bản chất xấu xa, thối nát của chế độ phong kiến Ngoài ra, tuy các em không mắc lỗi sai về ngữ pháp nhưng lại sai về cách suy nghĩ, thành thử làm cho câu không logic về mặt nội dung. VD: Các bạn trong lớp hãy chia thành 2 toán: Một toán gồm tất cả các bạn học sinh gái và một toán gồm tất cả các bạn học sinh khoẻ * Lỗi do thể hiện sai quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận trong câu. Hoặc do không ý thức rõ mối quan hệ giữa các vế câu hoặc giữa các câu. VD: Mắt đăm đăm nhìn ra cửa biển, ta thấy Kiều đã theo cánh buồn thấp thoáng mà nghĩ đến cảnh cô đơn của mình. Đọc lên người ta có thể hiểu kẻ đăm đăm nhìn ra cửa biển và nghĩ đến cảnh cô đơn của mình ở đây là “ta” chứ không phải là Kiều như ý người viết muốn nói. Viết câu như thế chứng tỏ người viết chưa thể hiện đúng ngữ nghĩa giữa các thành phần câu. * Các lỗi về liên kết câu. - Lỗi về liên kết chủ đề: Các câu trong đoạn không cùng chủ đề - Lỗi về liên kết logic: Các câu trong một đoạn hay trong một văn bản không được thể hiện bằng các phương tiện liên kết hay bị thể hiện sai lạc. Qua thực tế tôi thấy các em mắc lỗi về quan hệ hướng nội nhiều hơn so với lỗi về quan hệ hướng ngoại. II. Các biện pháp tổ chức thực hiện chữa lỗi câu: Để nâng cao chất lượng chữa lỗi câu sai cho học sinh THCS thì bản thân giáo viên trực tiếp giảng dạy môn ngữ văn trong nhà trường không thể chỉ chữa lỗi trong giờ Tiếng Việt, mà phải kết hợp chữa lỗi câu thông qua quá trình giao tiếp, giờ trả bài Tập làm văn, tổ chức cho các em hái hoa kiến thức ở một số chủ điểm trong giờ Hoạt động ngoài giờ lên lớp để giúp các em sửa lỗi câu. 1. Chữa lỗi câu trong giờ Tiếng Việt. VD: Khi dạy bài: “Câu ghép” (Ngữ văn 8 - Tập I) tiết 43. Mục đích ở bài này là làm cho học sinh nắm được đặc điểm của câu ghép và cách nối các vế câu trong câu ghép. Rèn kỹ năng nhận diện và sử dụng câu ghép trong nói và viết. Trong quá trình giảng dạy bài này, ngoài việc học lý thuyết giáo viên cần phải chú trọng đến việc sử dung câu của các em trong qua trình đưa ví dụ minh hoạ, làm bài tập. Có như vậy, thì mới phát hiện ra những câu có lỗi khi các em sử dụng. Mặt khác có thể giáo viên đưa ra một số bài tập để kết hợp chữa lỗi câu sai cho các em. Bài tập 1: Thêm vào chỗ trống ở câu sau đây một kết cấu chủ - vị để tạo thành câu ghép: Trăng đã lên cao. GV: Gọi học sinh làm bài tập Trăng/đã lên cao, đêm/càng yên tĩnh C V C V Bài tập 2: Cho hai câu sau: C1: Trời nổi gió C2: Xa xa, một đàn bò. GV : Cho một học sinh nhận xét, hai câu trên có phải là câu ghép không ? Phân tích kết cấu của câu. C1 : Tuy thành một câu : CN: Trời; VN: nổi gió nhưng không phải là câu ghép mà đây chỉ là câu đơn. C2 : Chưa hoàn chỉnh câu vì câu ghép là câu do hai hoặc nhiều cụm C - V không bao chứa nhau tạo thành. Mỗi cụm C - V trong câu ghép được gọi là một vế câu. GV : Gọi học sinh chữa lại hai câu trên C1: Trời/nổi gió (rồi) một cơn mưa/ập đến C V C V C2: Xa xa, một đàn bò/đang gặm cỏ, những đứa trẻ/nô đùa vui vẻ TrN C V C V Như vậy, trong quá trình làm bài tập giáo viên đã giúp các em sửa lỗi câu luôn. 2. Chữa lỗi câu trong giờ học HĐNGLL (lớp 7) ở chủ điểm: Hội vui học tập. Giáo viên chuẩn bị một số câu hỏi gắn vào hoa, yêu cầu các em hái hoa (tức là giải đáp câu hỏi). Ví dụ câu: Tập hợp từ sau đây đã thành câu chưa? Vì sao? Nếu chưa bổ sung cho thành câu. - Tập hợp từ 1: Nhìn thấy cô giáo bước vào lớp - Tập hợp từ 2: Nghĩ đến cảnh mẹ con phải xa nhau. Như vậy, ở tập hợp từ 1: Học sinh phải thêm vị ngữ ở tập hợp từ 2: Học sinh phải thêm cả chủ ngữ - vị ngữ. Hay là ra câu hỏi: Trong số những câu dưới đây, câu nào sai ngữ pháp? Nếu sai thì sai như thế nào? A. Trong lớp các bạn ngồi rất ngay ngắn. B. Những câu chuyên dân gian mà chúng tôi thích nghe kể. C. Bà tôi hay kể chuyện dân gian. D. Với kết quả học tập ấy đã động viên tôi rất nhiều 3. Chữa lỗi câu thông qua giờ trả bài Tập làm văn. Thông qua giờ trả bài giáo viên giúp các em phát hiện, nhận diện một số lỗi câu sai ở một số bài Tập làm văn của các bạn mà cô cho đọc trước lớp. Để từ đó các em cùng cô giáo sửa lỗi câu sai Ví dụ: Trong tiết trả bài Tập làm văn số 2 tiết 47 Ngữ văn 7. Tôi đã phát hiện ra ở hai lớp 7D và 7E các em đều mắc lỗi dùng câu thiếu thành phần nòng cốt. Ví dụ câu văn sau: C1 : “Do kiếm ăn ban ngày không đủ phải đi kiếm ăn ban đêm không may lộn cổ xuống ao C2: Đọc bài ca dao lên mà em tưởng tượng thấy trước mắt mình C3: Bài ca dao thích nhất là bài “Con cò mà đi ăn đêm”. Sau khi giáo viên ghi những câu văn mắc lỗi lên bảng giáo viên cho học sinh phát hiện ra lỗi câu và cho sửa lại thành câu đúng. C1: Thiếu bộ phận chủ ngữ. C2: Thiếu bộ phận vị ngữ. C3: Thiếu chủ ngữ. Sửa lại: C1: Đi kiếm ăn ban ngày không đủ, cò phải đi kiếm ăn ban đêm, chẳng may lộn cổ xuống ao. C2: Đọc bài ca dao lên mà em tưởng tượng thấy trước mắt mình, hình ảnh con cò quen thuộc trong ca dao Việt Nam. C3: Bài ca dao mà em thích nhất là bài: Con cò mà đi ăn đêm. Qua việc chữa câu, học sinh thấy được khiếm khuyết sử dụng câu và hiểu được như thế nào là câu đúng. Thông qua việc khảo sát lỗi câu sai của các em, tôi đã đưa ra phương hướng chữa lỗi câu. Đồng thời bằng các biện pháp chữa lỗi như đã trình bày ở trên, tôi đã giúp các em củng cố, rèn luyện kỹ năng đặt câu theo những yêu cầu cơ bản; làm cho các em hiểu rõ được vai trò quan trọng của việc sử dụng câu đúng để các em viết văn cũng như ứng dụng trong quá trình giao tiếp nhằm đảm thông tin một cách chính xác nội dung cần thông báo. * Để áp dụng các biện pháp trên tôi đã tiến hành thực nghiệm bằng một giờ dạy cụ thể ở 2 lớp 7D và 7E. Tiết 66: Trả bài Tập làm văn số 3 Thời gian: Thứ 6, tuần 15 và thứ 3 tuần 16. a. Mục tiêu. - Thông qua việc trả bài Tập làm văn, giáo viên khắc sâu tri thức cơ bản về kiểu bài làm văn biểu cảm về tác phẩm văn học. Đồng thời giáo viên phát hiện được sự cảm thụ văn học của mỗi học sinh như thế nào? (Chủ đề, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ) - Rèn luyện kỹ năng viết câu cho các em qua việc sử lỗi câu sai trong bài tập làm văn của các em. b. Tiến trình bài dạy. ở đây tôi chỉ đi lướt qua một số các bước tiến trình của bài dạy còn cơ bản là tập trung chủ yếu vào việc sửa lỗi câu sai cho các em: Hoạt động của GV và HS Nội dung chính HĐ 1: GV ghi đề lên bảng : Phát Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh khuya của Hồ Chí Minh (Ngữ văn 7 (Ngữ văn 7 - tập 1) HS: Lắng nghe. - tập 1) HĐ 2 : GV công bố kết quả Tổng số: 39 bài : Điểm 8 : 1 bài. Điểm 4: 8 bài Điểm 7: 9 bài. Điểm 3: 4 bài Điểm 5,6 : 15 bài. Điểm 2: 2 bài HS lắng nghe. HĐ 3: Nhận xét chung. - Ưu điểm: Đa số các em nắm bắt được thể loại và làm hoàn chỉnh bài văn, chữ viết sạch sẽ, rõ ràng. - Nhược điểm: Có 6 bài viết quá yếu; một số bài còn sai lỗi chính tả; 14 bài sai lỗi câu. * Sai lỗi chính tả * Lỗi chính tả - Tiếng xuối Tiếng suối GV ghi các từ viết sai lỗi chính tả - ánh chăng ánh trăng lên bảng. Gọi học sinh chữa lại. * Lỗi câu: - C1: Qua bài thơ bằng những lời * Lỗi câu. GV ghi câu sai lên bảng thơ độc đáo, đã thể hiện được tình GV gọi HS nhận xét câu sai như thế yêu thiên nhiên, yêu quê hương, nào? Sau đó yêu cầu HS chữa lại đất nước của mình rất đậm đà và (Câu trên thiếu bộ phận chủ ngữ) thiết tha. Sửa lại: Qua bài thơ bằng những lời thơ độc đáo, Hồ Chí Minh đã thể hiện được thiết tha GV đọc một đoạn văn trong bài của HS khoảng 5 câu để HS phát hiện trong 5 câu đó, câu nào là câu chưa đúng, chưa hoàn chỉnh, GV ghi câu sai lên bảng - C2: Hồ Chí Minh không những GV gọi HS nhận xét. (câu trên bạn chỉ là một Chủ tịch nước? đã viết câu ghép thiếu vế) Sửa lại Hồ Chí Minh không những ? Cho HS sửa lại. chỉ là một Chủ tịch nước mà còn là một thi sĩ nổi tiếng. - C3: Khác với người xưa, Bác ? Cho HS sửa lại. không những yêu thiên nhiên, ? Gọi HS phát hiện ra lỗi câu trên nhưng Bác còn lo lắng cho nước (ở đây bạn viết câu không hợp với nhà, lo cho giang sơn tươi đẹp. nội dung giữa vế trước và vế sau) Sửa lại: Khác với người xưa, Bác không những yêu thiên nhiên mà ? Cho HS sửa lại Bác còn lo lắng cho nước nhà, lo cho giang sơn tươi đẹp. Nếu còn thời gian GV sẽ đọc một bài văn điểm 8 trước lớp rồi trả bài cho HS. c. Củng cố. Nhìn chung qua tiết trả bài, GV đã giúp các em nắm chắc kiến thức cơ bản của kiểu bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học và hiểu được lỗi câu. Qua việc sửa lỗi câu của GV để HS có ý thức tốt trong việc viết câu ở những bài viết sau. C. Kết luận 1. Kết quả nghiên cứu. Qua thực tế dạy học ở các lớp, bằng việc sửa lỗi câu cho HS ở những tiết học, nhìn chung các em đã nhận ra được những lỗi cơ bản về câu và đã có ý thức sửa những lỗi mà mình mắc phải trong quá trình giao tiếp. Đối chiếu với kết quả điều tra ở phần thực trạng năm học 2005 2006 của khối lớp 7 so với khối lớp 7 năm học 2006 - 2007 có sự thay đổi rõ rệt. Cụ thể như sau: Năm học Khối Số Lỗi lớp lượng Không lỗi Các loại chủ yếu -Thiếu các Tỷ lệ (%) thành phần nòng cốt câu 25,6 - Viết câu thiếu vế 20,5 - Không ý thức rõ về thành phần phụ trạng ngữ với chủ 2006 2007 7 181 39 142 19,3 ngữ - Sai quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành 14,1 phần trong câu - Sai quan hệ logic chủ đề - liên kết hình thức 10,5 2. Kiến nghị, đề xuất. Nhân dân ta thường nói: ăn cho nên đọi, nói cho nên lời, rõ ràng nói phải thành lời, rõ ý thì người khác mới hiểu. Mà muốn nối thành lời , rõ ý thì phải nói cho thành câu. Nhưng hiện nay, việc dạy học Ngữ văn nói chung phân môn Tiếng Việt nói riêng trong các trường phổ thông đang đối diện với thực trạng rất báo động là có nhiều học sinh khi nói cũng như khi viết thường mắc các lỗi về câu dẫn đến việc viết, nói câu sai cho nên không đạt được mục đích giao tiếp. Trong khi toàn ngành đang thực hiện chương trình thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới và đặc biệt hưởng ứng cuộc vận động 2 không của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thiết nghĩ để thế hệ học sinh ngày nay có niềm hứng thú khi học môn Ngữ văn thì ngay từ khi cắp sách đến trường người giáo viên phải giúp các em yêu quí tiếng mẹ đẻ, tự hào với tiếng nói của dân tộc. Mặt khác, trong nhà trường, ngoài việc học sinh được học Ngữ văn thì các em còn được học các môn khác trong đó có môn ngoại ngữ. Việc học tốt phân môn Tiếng Việt sẽ giúp cho các em thuận lợi hơn khi học ngoại ngữ để có điều kiện tiếp xúc với nhiều nền văn minh trên Thế giới. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài này tôi còn gặp khó khăn do có không ít học sinh “ngồi nhầm lớp” nên kết quả thu được còn hạn chế. Rất mong đựơc sự góp ý của các cấp lãnh đạo và đồng nghiệp ! Tác giả Nguyễn Thị Mai
- Xem thêm -