Tài liệu Sáng kiến kinh nghiệm rèn chữ cho học sinh

  • Số trang: 23 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 158 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Tham gia: 31/07/2015

Mô tả:

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HUYỆN YÊN LẠC TRƯỜNG TIỂU HỌC LIÊN CHÂU BÁO CÁO KẾT QUẢ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN SÁNG KIẾN: RÈN CHỮ CHO HỌC SINH Môn: Tiếng việt Tổ: tổ 2 – 3 Mã: 07 Họ và tên: Nguyễn Thị Hiền Điện thoại riêng: 01682 462.467 Liên Châu, năm 2013 1 MỤC LỤC Nội dung Trang A. PHẦN MỞ ĐẦU 1 B. PHẦN NỘI DUNG I. Đối tượng nghiên cứu …………………………………… 2 II. Điều tra thực trạng ……………………………………… 2 III. Nguyên nhân thực trạng ………………………………. 3 IV. Phương pháp nghiên cứu ……………………………… 4 V. Các biện pháp …………………………………………... 4 VI. Một số điều kiện ảnh hưởng tới giờ viết……………… 13 VII. Kết quả đạt được……………………………………… 16 VIII. Bài học kinh nghiệm …………………………………. 17 I X. Phạm vi ứng dụng đề tài ……………………………… 18 X. Một số kiến nghị ………………………………………… 18 C. PHẦN KẾT LUẬN 19 2 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM RÈN CHỮ CHO HỌC SINH. A. PHẦN MỞ ĐẦU Như chúng ta đã biết chữ viết là một trong những phát minh vĩ đại của con người. Từ khi ra đời chữ viết là công cụ đắc lực trong việc ghi lại , truyền bá toàn bộ kho trí thức của nhân loại. Chẳng những vậy con người còn coi chữ viết như một người bạn thường xuyên gần gũi, thân thiết với mình. Từ tình cảm ấy con người muốn chữ viết cũng phải đẹp, đẹp cho chính nó, đẹp cho con người. Ngoài ra chữ viết còn góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cho học sinh như tính cẩn thận, tính kỷ luật, khiếu thẩm mĩ. Chữ đẹp nết người giống như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói “ Chữ viết cũng là biểu hiện của nết người: Dạy cho học sinh viết đúng, viết đẹp, viết cẩn thận là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy cô và bạn đọc bài vở của mình”. Ngày nay trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức, thời đại bùng nổ thông tin, chữ viết cũng có vi tính làm thay, vậy việc rèn chữ viết có quan trọng không? Từ năm học 2001- 2002 Bộ giáo dục và Đào tạo đã có quyết định về việc tổ chức thi viết đẹp hàng năm cho giáo viên và học sinh Tiểu học. Cho đến nay đã khơi dậy trong học sinh, giáo viên và xã hội về ý thức cần viết chữ đẹp. Ngày 14/6/2002 Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành mẫu chữ viết (QĐ31) . Đây chính là việc nhìn nhận tầm quan trọng và ý nghĩa của chữ viết. Vậy vấn đề đặt ra là làm sao rèn chữ viết đẹp cho học sinh chính là yêu cầu bức xúc của người giáo viên. Bởi chữ viết là hết sức cần thiết và cấp bách. Qua nhiều năm trực tiếp đứng lớp với ý thức lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp tôi luôn suy nghĩ và trăn trở, không ngừng tích lũy kinh nghiệm về chữ viết để sớm giúp các em có được chữ viết đúng, đẹp thông qua đề tài “ Kinh nghiệm rèn chữ cho học sinh”. Đề tài mà tôi nghiên cứu cũng được nêu nhiều trong sách , báo nhưng đó là phương pháp luyện viết chung. Do đặc điểm riêng của từng vùng miền, của từng trường mà mức độ học sinh tiếp thu khác nhau. Mặt khác mỗi lớp có đặc thù riêng nên tôi bắt đầu nghiên cứu tìm ra kinh nghiệm hữu hiệu nhất giúp các em rèn chữ viết đặc biệt là đối với học sinh lớp 2 các em còn nhỏ vừa ở lớp một lên nên chữ viết của các em hầu như là chưa đúng cỡ và viết rất nguệch ngoạc.Và tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề này để có thêm một số kinh nghiệm trong việc rèn chữ viết cho các em. Với đề tài “ Kinh nghiệm rèn chữ cho học sinh” là năm học đầu tiên tôi áp dụng thực hiện . Trong một số giải pháp này tôi không đề cập toàn bộ năm học mà chỉ giới hạn ở học kỳ I để nhằm giúp học sinh viết chữ đẹp, kịp 3 thời đáp ứng dạy theo chuẩn kiến thức và kỹ năng ban đầu thuận lợi cho phát huy viết chữ đẹp ở những lớp trên. Đó chính là lí do khiến tôi chọ đề tài này. B. NỘI DUNG I. Đối tượng nghiên cứu: Năm học 2012- 2013 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 2A. So với lứa tuổi học sinh Tiểu học thì ở lứa tuổi lớp 2 còn rất nhỏ nên việc tiếp thu kiến thức còn hạn chế. Lớp 2A có 32 học sinh trong đó có 11 em nam và 21 em nữ. Các em nhìn chung đều có ý thức học tập tốt, có tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, gia đình quan tâm, đó là thuận lợi để tôi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm của mình. II. Điều tra thực trạng Qua thực tế giảng dạy ở lớp 2, qua tìm hiểu học sinh tôi thấy: - Học sinh lớp 2 viết nhìn chung đảm bảo tốc độ, viết chữ theo quy định. - Có nhiều học sinh viết bài sạch sẽ, trình bày đẹp, chất lượng về vở sạch chữ đẹp đều đạt kết quả cao trong các đợt kiểm tra. Song bên cạnh đó, giáo viên và học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn trong giờ viết đặc biệt là giờ chính tả. Cụ thể: + Học sinh còn viết sai nhiều về độ cao các con chữ ( đặc biệt là ở những bài chính tả đầu tiên), nét chữ chưa chuẩn, sai cách ghi dấu thanh, khoảng cách giữa các con chữ. + Một số học sinh chưa nắm chắc quy tắc chính tả: ng - ngh, g - gh, c- k nên khi gặp bài chính tả nghe viết học sinh dễ viết sai. + Trong các buổi học, học sinh thường viết chính tả đẹp và đúng hơn khi làm bài kiểm tra trong các đợt kiểm tra định kì hoặc trong các vở khác. + Học sinh chưa nắm chắc cách trình bày một bài viết chính tả ( đoạn văn, đoạn thơ hay bài thơ). Đặc biệt với bài thơ viết theo thể thơ lục bát hoặc viết chính tả tập chép, học sinh nhìn bài “ mẫu” của giáo viên để chép và khi thấy giáo viên xuống dòng ở đâu( ở chữ nào) thì các em cũng xuống ở chữ đó( vì các em không hiểu bản chất của vấn đề).Chính vì vậy mà ở lớp 2 coi trọng hình thức tập chép. VD: Dạy bài chính tả tập chép “ Có công mài sắt, có ngày nên kim” + Bài viết bảng của giáo viên: Có công mài sắt, có ngày nên kim - Mỗi ngày mài thỏi sắt nhỏ đi một tí, sẽ có ngày nó thành kim. Giống như cháu đi học, mỗi ngày cháu học một tí, sẽ có ngày cháu thành tài. 4 + Bài viết của học sinh: Có công mài sắt, có ngày nên kim - Mỗi ngày mài thỏi sắt nhỏ đi một tí , sẽ có ngày nó thành kim. Giống như cháu đi học, mỗi ngày cháu học một tí, sẽ có ngày cháu thành tài. * Như ví dụ trên tôi đưa ra, với những giáo viên đang dạy lớp 5 thì thấy buồn cười và có thể cho là vô lí. Nhưng đối với giáo viên đã và đang trực tiếp giảng dạy lớp 2 thì sẽ thấy đó là thực tế. + Qua điều tra bài viết đầu tiên bài “ Có công mài sắt, có ngày nên kim” của học sinh tôi thu được kết quả như sau: Tổng số học K sinh SL G TB % SL % SL % SL % 32 25 12 37,5 8 25 4 12,5 8 Y Riêng về trình bày Tổng số học sinh 32 Trình bày đúng, Trình bày đúng Trình bày sai đẹp nhưng chưa đẹp SL % SL % SL % 8 25 12 37,5 12 37,5 III. Nguyên nhân của thực trạng Qua tìm hiểu thực tế tôi thấy: + Gia đình các em rất quan tâm đến việc học tập của các em. Đầu năm học, phụ huynh đã mua đầy đủ đồ dùng sách vở học tập cho các em. Nhiều phụ huynh đã dành thời gian để kèm cặp thêm cho các em học tập ở nhà. + Cơ sở vật chất của nhà trường tương đối đầy đủ đảm bảo cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh như phòng học, ánh sáng, bàn ghế, đồ dùng cho môn học… 5 + Giáo viên có chuyên môn vững vàng, có lòng yêu nghề mến trẻ, say sưa với sự nghiệp trồng người, giáo viên và học sinh luôn coi trọng công tác vở sạch , chữ đẹp. + Về phía học sinh : nhìn chung các em chăm ngoan học tập, luôn chú ý đến chữ viết, đến sách vở của mình. Vậy tại sao vẫn còn những học sinh viết mắc lỗi chính tả và chưa đúng như vậy? Ở đây tôi mạnh dạn đưa ra một số nguyên nhân như sau: 1. Nguyên nhân trước hết là phải nói đến do bản thân các em: + Chưa nắm chắc về âm vần nên khi phân tích để viết một số tiếng khó còn lúng túng, không phân tích được. + Một số học sinh tư thế ngồi viết và cách cầm bút chưa đúng. + Đôi lúc các em còn viết ngoáy, ý thức chưa cao, chưa tự giác rèn chữ viết. + Các em đa phần là con nông dân, tuy điều kiện vật chất đầy đủ nhưng điều kiện hướng dẫn các em viết bài hoặc dạy các em tư thế ngồi hoặc cách cầm bút thì hạn chế nên không sửa cho các em được hoặc có sửa thì cũng không đúng.. + Một nguyên nhân nữa là do khối lượng kiến thức của lớp 2 so với lớp 1 nhiều hơn nên học sinh phải tăng tốc độ viết trong giờ học, giờ làm bài nên chữ viết thường không nắn nót, không viết đúng quy cách, sai kích cỡ, khoảng cách giữa các chữ không đều. Hiện tượng viết sai nét, sai cỡ chữ, hở nét, thừa nét, thiếu dấu hoặc đánh dấu không đúng vị trí diễn ra thường xuyên. 2. Về phía giáo viên: + Giáo viên luôn quan tâm đến phong trào vở sạch chữ đẹp, chấm chữa bài cho học sinh thường xuyên. Song khi chấm bài cho học sinh, học sinh viết sai lỗi chính tả thì giáo viên chỉ gạch chân, ít sửa sai cho các em. Giáo viên mới chú trọng đến chữ viết đúng nên khi học sinh viết sai chữ thì giáo viên gạch chân lỗi sai, còn khi học sinh viết sai nét, giáo viên đều bỏ qua. Vì vậy, khi giáo viên nhận xét, đánh giá bài viết của các em, các em không biết phải sửa thế nào cho đúng , cho đẹp. + Bản thân một số giáo viên còn sửa qua loa. + Trong các giờ chính tả, giáo viên chưa thực sự tổ chức tiết học sôi nổi, chưa có sự đổi mới phương pháp, hình thức dạy học thực sự mà còn mang tính hình thức. 3. Bên cạnh đó một nguyên nhân không nhỏ có ảnh hưởng tới việc viết sai, chưa đúng của học sinh là do phụ huynh thiếu quan tâm sửa lỗi, tư thế ngồi viết cho các em. Một số em có cả bố mẹ đi làm ăn xa để mặc các em ở nhà với ông bà già. Bản thân một số phụ huynh còn viết sai chính tả. Cụ thể khi trao đổi với giáo viên chủ nhiệm qua sổ liên lạc. 6 Vậy khi học sinh nói sai, viết sai không được sửa, và khi nhìn thấy phụ huynh viết sai thì các em cho đó là đúng, đâu có biết như vậy là sai. Chỉ có phần ít là các em biết phát hiện đúng sai, do đó các em cứ theo cái sai đó dẫn đến các em sẽ viết sai. 4. Một số nguyên nhân khác Học sinh lớp 2 vừa ở lớp 1 lên các em mới bắt đầu viết chữ một ly từ tuần 25 , như vậy mới được 13 tuần là các em lại nghỉ hè 3 tháng. Trong thời gian nghỉ hè hầu như là các em chỉ ôn lại bài đọc mà không chú ý đến viết chính tả và luyện chữ nên khi vào năm học mới, lên lớp 2 bài chính tả đầu tiên các em viết sai nhiều và không đúng cỡ chữ. * Trên đây là những nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng chất lượng chữ viết của học sinh lớp 2. Trước một thực trạng như vậy, người giáo viên không thể không suy nghĩ: “ Phải làm gì để thay đổi thực trạng này?”và “ Nâng cao chất lượng rèn chữ viết cho học sinh lớp 2 bằng cách nào?” Trước vấn đề này, tôi đã tìm hiểu, suy nghĩ kết hợp với sự tiếp thu ý kiến của đồng nghiệp, cuối cùng tôi xin đưa ra ý kiến của mình về “ Rèn chữ viết đẹp cho học sinh lớp 2 qua giờ chính tả” mà tôi đã thục hiện và cảm thấy có hiệu quả. IV. Phương pháp nghiên cứu 1.Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 2.Phương pháp điều tra. 3.Phương pháp phân tích tổng hợp. 4.Phương pháp luyện tập thực hành. 5.Phương pháp so sánh, đối chiếu. V. Các biện pháp 1.Giúp học sinh hiểu nghĩa từ, ghi nhớ từ. Là giáo viên giảng dạy lớp 2, tôi luôn chú trọng yếu tố này, ngay từ các bài tập đọc, tôi luôn giải nghĩa những từ khó áp dụng trong bài tập đọc giúp học sinh hiểu nghĩa từ,hiểu câu đồng thời tôi đưa từ, câu văn vào văn cảnh cụ thể để học sinh dễ dàng hiểu từ, hiểu câu và hiểu sâu hơn, từ đó có cách đọc đúng, viết đúng. Bài viết chính tả lớp 2 phần lớn là viết lại một phần nội dung bài tập đọc đã học. vì vậy, để học sinh viết tốt các bài chính tả thì ngay các tiết tập đọc, giáo viên cần cho học sinh hiểu nghĩa từ trong bài đọc, hiểu câu, hiểu nội dung cơ bản của bài đọc. Trước khi viết bài chính tả, giáo viên gợi ý, hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài viết, như vậy khi viết chính tả, học sinh bắt đầu có vốn từ, nắm được nội dung bài, học sinh sẽ tự đọc, phân tích, viết đúng, đặc biệt là những tiếng, từ viết khó, hạn chế sự mắc lỗi. 7 2. Dạy học sinh viết , trình bày bài chính tả. Vì mới vào lớp 2, tuần đầu các em viết bài chính tả, giai đoạn này các em vừa nghỉ hè thời gian quá lâu nên các em thường lúng túng khi viết như: + Không biết cách trình bày bài viết. + Quên độ cao , khoảng cách từng con chữ. Vậy chúng ta cần phải làm gì giúp các em khỏi bị lúng túng khi viết chính tả, đặc biệt ở những bài đầu của phân môn chính tả? Với học sinh Tiểu học, đặc biệt học sinh lớp 2, các em “ nói đấy, nghe đấy” rồi cũng “ quên ngay đấy”. Nếu như các em không được làm quen, được nhắc nhở thường xuyên thì các em sẽ không biết làm, nếu làm thì cũng dễ sai, dễ nhầm lẫn và không tránh khỏi lúng túng. Với lớp tôi, tôi đã thực hiện như sau: a.Giới thiệu chữ viết thường cỡ nhỏ. + Sau khi học sinh đã được học ở lớp 1 rồi, học sinh đã nắm được cấu tạo con chữ, độ cao, độ rộng của từng con chữ cũng như kĩ thuật viết từng con chữ cỡ vừa. Khi đến giờ luyện Tiếng Việt ở trước giờ chính tả đầu tiên , tôi giới thiệu với học sinh các con chữ trong bài học hôm đó . Ví dụ con chữ “ ă, â” , viết theo cỡ chữ nhỏ có độ cao 1 đơn vị, con chữ “ t” có độ cao 1,5 đơn vị. Trong một số tiết luyện Tiếng việt sau, khi có các con chữ đó theo cỡ chữ nhỏ thì học sinh sẽ biết ngay. Làm như vậy, học sinh vừa nắm chắc cấu tạo ,vừa viết đúng. Để thực hiện tốt việc này đòi hỏi người giáo viên phải khéo léo trong cách ôn luyện và điều quan trọng hơn giáo viên phải nắm chắc cấu tạo chữ. + Nếu kể chiều cao của con chữ thấp nhất không kể các dấu phụ trên các con chữ ấy( như các chữ a,ă,â,c,e,ê..) là đơn vị chiều cao của chữ và lấy dòng kẻ dưới cùng của khuông kẻ vở làm dòng chuẩn thì các chữ viết thường có các độ cao là vị trí trên khuông kẻ như sau: - 1 đơn vị: a,ă,â,c,e,ê,m,o,ô,u,ư,v,x. - 1,25 đơn vị: r,s - 1,5 đơn vị : t ( Các chữ 1 đơn vị, 1,25 đơn vị, 1,5 đơn vị trên đều viết trên dòng chuẩn) - 2 đơn vị: d,đ ( với 2 đơn vị trên dòng chuẩn) - p,q ( với 1 đơn vị trên và 1 đơn vị dưới dòng chuẩn) - 2,5 đơn vị: b, h,k ,l ( với 2,5 đơn vị trên dòng chuẩn) - g,y ( với 1 đơn vị trên và 1,5 đơn vị dưới dòng chuẩn) + Các chữ hoa đều có độ cao 2,5 đơn vị trên dòng chuẩn trừ g và y có độ cao 4 đơn vị , với 2,5 đơn vị ở trên và 1,5 đơn vị ở dưới dòng chuẩn. Ở các giờ luyện Tiếng việt ( buổi chiều) và giờ Tập viết ,giáo viên có thể giúp học sinh so sánh độ cao, độ rộng cũng như kỹ thuật viết chữ. Nhưng giáo viên chú ý không nên đi sâu phân tích, nhận diện mà ở đây tôi chỉ muốn 8 với hình thức giáo viên ôn lại cho học sinh là chính, tránh làm mất nhiều thời gian của tiết học. Như vậy qua các bước ôn đó, phần nào học sinh đã nhớ để khi chuyển sang viết chính tả học sinh không còn lúng túng và viết sai về độ cao các con chữ cũng như kĩ thuật viết. b.Tập chép và viết chính tả: Khi chúng ta làm tốt việc ôn lại cấu tạo chữ kết hợp với sự bao quát, sự chỉ bảo nhiệt tình của giáo viên trong giờ chính tả, nhìn chung học sinh viết chính tả sẽ không bị lúng túng về cách viết chữ. Nhưng cũng không thể tránh khỏi một số trường hợp học sinh viết không đúng cỡ chữ, chữ chưa đều, chưa đẹp. Với những trường hợp này giáo viên cần phải hướng dẫn tỉ mỉ để các em viết đúng mẫu, có biện pháp để giúp các em khắc phục nhược điểm. Với những học sinh yếu, tôi đã áp dụng việc viết mẫu trong một số bài chính tả của những tuần đầu ở mỗi bài chính tả tôi viết mẫu cho các em một vài chữ hoặc một câu. Viết thật ngay ngắn và đẹp cho các em quan sát. Đến khi viết bài tôi yêu cầu các em nhìn theo mẫu rồi viết( lưu ý viết thật tròn trĩnh) kể cả trong bài tập chép hay nghe viết tôi đều làm như vậy, tăng cường viết mẫu hướng dẫn vào buổi Tập viết và luyện Tiếng việt chỉ sau một tuần làm như vậy tôi thấy chữ viết của các em đã tiến bộ rõ rệt. Đặc điểm của học sinh Tiểu học là rất hay bắt chước và bắt chước cũng rất nhanh, hơn nữa ở lớp 2, trong học kì I, mỗi tuần các em có một bài chính tả tập chép nên tăng cường việc tri giác chữ viết bằng thị giác cho học sinh thì việc viết mẫu của giáo viên không những giúp cho các em viết đẹp mà còn giảm đáng kể tình trạng mắc lỗi. Để làm tốt việc này đòi hỏi mỗi giáo viên phải có nhận thúc đúng đắn về ý thức luyện chữ và không phải chỉ ở giờ chính tả , tập viết mà tất cả các giờ học khác đòi hỏi chữ viết trên bảng của giáo viên phải là “ Tấm gương cho học sinh noi theo” , thật sự mẫu mực cả trong khi chấm bài và ghi lời nhận xét vào bài làm, bài kiểm tra của học sinh, khi ghi sổ liên lạc.. Chữ viết phải đúng mẫu, rõ ràng, chính xác. Không được viết tùy tiện ngẫu hứng. c.Hướng dẫn trình bày chính tả Việc trình bày bài chính tả của học sinh những bài đầu khó khăn. Đó là học sinh không biết cách trình bày như thế nào cho đúng chứ chưa nói gì trình bày cho đẹp, từ cách ghi tên bài viết rồi đến trình bày nội dung bài viết. Chúng ta đã biết, học sinh Tiểu học, đặc biệt là đối với học sinh lớp 2 các em rất hay bắt chước và thậm chí bắt chước một cách máy móc do các em không hiểu bản chất của vấn đề , Ví dụ về hiện tượng học sinh mắc lỗi trình bày xuống dòng như tôi đã trình bày ở phần thực trạng. Vậy làm thế nào để khắc phục tình trạng này? Ở đây tôi xin được trình bày cách làm mà tôi đã thục hiện và thấy có hiệu quả như sau: C1: Cách ghi thứ, ngày, tháng, ghi tên môn, ghi tên bài viết. Tôi luôn chú ý đến cách trình bày bảng của mình đặc biệt trong giờ chính tả. Khi hướng dẫn học sinh viết vở, tôi đưa ra quy định chung cho học sinh của lớp mình. 9 + Cách ghi thứ, ngày, tháng: chữ “ Thứ” cách lề vở 1 ô + Cách ghi tên phân môn: “ Chính tả” cách lề vở 3 ô. + Cách ghi tên bài: Cách ghi tên bài không phải là đến giờ chính tả giáo viên mới quy định cho học sinh. Với tôi, ngay trong các bài Tập đọc, các môn học khác khi ghi tên bài tôi luôn chú ý trình bày làm sao cho đúng, cho khoa học và đẹp mắt tức là viết đúng và trình bày cân đối trên bảng. Đặc biệt trong giờ học “thủ công” chúng ta giáo dục học sinh cái đẹp của hình ảnh, của cách trình bày( bố cục, khoảng cách) ngay sự khéo léo, óc sáng tạo của học sinh. Vì thế, khi ghi tên bài vào vở hàng ngày, tôi kết hợp hỏi học sinh tại sao lại trình bày như vậy? VD1: Khi dạy bài “ Gấp tên lửa” tôi trình bày bảng như sau: Thứ…..ngày…..tháng…….năm… Thủ công Gấp tên lửa - Giáo viên chỉ và hỏi học sinh: Tại sao viết “ Gấp tên lửa” ở vị trí như vậy? - Học sinh: Viết như vậy cho cân đối và đẹp. VD2: Phân môn Tự nhiên xã hội. Giáo viên trình bày bảng: Thứ……ngày……tháng……năm Tự nhiên và xã hội Bộ xương - Giáo viên hỏi: Tại sao không viết chữ “ Bộ” vào sát lề hoặc thẳng chữ “ tự”? - Học sinh: Viết như thế không cân đối và xấu. Ở đây giáo viên phải cho học sinh thấy được cái đẹp ở đây không những chỉ về chữ viết mà còn cả về cách trình bày. Từ đó hình thành cho học sinh cách trình bày bài một cách khoa học và đẹp mắt. Cách trình bày đó được tôi nhắc nhở xen kẽ trong các bài học của tất cả các môn học khác. Đến khi viết chính tả, tôi chỉ cần lưu ý học sinh là các em có thể tự ước lượng và trình bày vào vở của mình( có thể chưa thật cân đối) và dần dần trở thành thói quen, được thực hành nhiều lần các em sẽ có kỹ năng trình bày bài đúng, đẹp và khoa học. Đối với những học sinh yếu, tôi sẽ chỉ và hướng dẫn các em ở một số bài đầu tiên về cách viết, viết cách lề khoảng mấy ô. Sau đó yêu cầu học sinh tự ước lượng, tự thực hành. C2: Cách trình bày đoạn văn, đoạn thơ: 10 Nếu cứ đến khi viết chính tả giáo viên hướng dẫn học sinh cách trình bày một đoạn văn hay một khổ thơ, bài thơ thì thật là khó khăn trong một tiết học mà hiệu quả lại không cao, chắc chắn sẽ có nhiều em trình bày sai, đặc biệt là viết đọan văn hay khổ thơ lục bát. Vì vậy , trong các bài học tập đọc, khi đưa ra đoạn văn, đoạn thơ( khổ thơ) ứng dụng, tôi luôn chú ý cách trình bày đoạn ứng dụng đó trên bảng phụ hoặc bảng lớp để giới thiệu cho học sinh hiểu cách trình bày bài đó. Cụ thể: *Thơ: VD1: Dạy bài: Gọi bạn ( TV2- Tập 1) Đoạn thơ úng dụng: Tự xa xưa thuở nào Trong rừng xanh sâu thẳm Đôi bạn sống bên nhau Bê Vàng và Dê Trắng. Ở đây giáo viên giúp học sinh hiểu: + Tất cả các chữ đầu mỗi dòng thơ phải viết hoa con chữ đầu tiên( chữ viết) + Chữ đầu các dòng thơ phải thẳng đều nhau. + Cuối đoạn thơ phải có dấu chấm. VD2: Dạy bài “ Mẹ” ( Tiếng Việt 2- Tập 1) Đoạn thơ ứng dụng: Lặng rồi cả tiếng con ve Con ve cũng mệt vì hè nắng oi. Nhà em vẫn tiếng ạ ời Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru. Ở đây, giáo viên cũng phải giúp học sinh hiểu: + Tất cả các chữ đầu mỗi dòng thơ phải được viết hoa con chữ đầu tiên( đối với chữ viết) + Cuối câu thơ phải có dấu chấm. + Hơn nữa, ở đây giáo viên còn phải giúp học sinh nhận thấy số chữ ở từng dòng thơ và cách trình bày khác so với bài trước. Dòng 6 chữ phải lùi vào so với lề vở là 2 ô. Dòng 8 chữ phải lùi vào so với lề vở là 1 ô. *Đoạn văn: 11 Giáo viên phải giúp học sinh thấy được chữ đầu đoạn văn , chữ đầu câu phải viết hoa con chữ đầu tiên. Cuối câu có sử dụng dấu câu “ .” .Như vậy, ngay từ các bài tập đọc giáo viên giúp học sinh cách trình bày, cách viết hoa( viết hoa tên riêng..) cách ghi dấu chấm, cách ghi dấu phẩy hay cả cách ghi dấu chấm hỏi có trong bài. Khi viết chính tả, tôi luôn nhắc nhở học sinh những điều lưu ý trên trước khi viết bài. 3. Dạy theo nhóm đối tượng học sinh, kết hợp sử dụng một số “ mẹo luật” chính tả. Là giáo viên Tiểu học vừa làm công tác chủ nhiệm, vừa trực tiếp giảng dạy nên hiểu rất rõ về học sinh cũng như chất lượng chữ viết của học sinh lớp mình. Để khắc phục những nhược điểm phát huy được mặt mạnh, giáo viên phải biết phân loại học sinh theo các nhóm theo các lỗi sai cơ bản học sinh hay mắc để trong các giờ học, đặc biệt là giờ luyện Tiếng việt, giáo viên thấy học sinh lớp mình yếu về mặt nào thì chủ động rèn cho học sinh về mặt đó. Giáo viên phải phân loại một cách rõ ràng. Em nào sai cách trình bày, em nào sai khi đọc viết r-gi-d; ch-tr, s-x; sai các nét, sai cách viết dấu thanh..thì phân biệt riêng để có những bài tập phù hợp. Đối với môn chính tả, nhược điểm chính của học sinh lớp 2 là viết sai lỗi thông thường như s-x; ch- tr; d- gi – r; sai khoảng cách con chữ, sai cách ghi dấu thanh, sai về độ cao..vì vậy giáo viên cần lưu ý: + Ngay từ bài chính tả đầu tiên, giáo viên cần luôn chú ý đến từng nét chữ của học sinh, giáo viên viết mẫu hướng dẫn học sinh, chữ viết của giáo viên rõ ràng chính xác thế nhưng không phải em nào cũng viết được đúng, được đẹp như giáo viên hướng dẫn,có em viết đúng chữ nhưng sai nét như: nét chữ không bám dòng kẻ, nét chữ viết nghiêng không đều, sai độ rông.. giáo viên phải sửa từng nét cho học sinh, dùng phấn, bút khác màu mực( màu đỏ) sửa cho các em, giúp các em có ý thức tự sửa sai trong các lần viết sau, đối với học sinh khá giỏi, giáo viên có thể cho học sinh tự nhận xét, sửa sai hoặc sửa sai khi giáo viên chỉ rõ cái sai đó. Điều này giáo viên phải chú ý sửa sai cho các em từ các bài tập đọc. Trước khi viết bài mới giáo viên cho học sinh viết lại những lỗi viết sai chính tả của mình, giúp các em không bị mắc sai trong các lần sau. Khi viết chính tả giáo viên có những nhận xét chumg hoặc góp ý trực tiếp với học sinh để học sinh thấy được những lỗi chính tả của mình cũng như cách sửa. + Trong những bài đàu viết chính tả còn nhiều hay mắc lỗi trình bày. Với những trường hợp này, trong giờ luyện Tiếng việt, giáo viên cho học sinh viết một bài chính tả và giáo viên chú ý hướng dẫn cách trình bày. + Với những học sinh hay mắc lỗi đọc – viết sai; r-d-gi ; s-x… muốn sủa lỗi đọc viết sai r- d- gi; s- x.. giáo viên cần cho học sinh đọc phát âm nhiều lần rồi phân tích trước khi viết. 12 4. Dạy chính tả theo nguyên tắc tích hợp Môn chính tả là môt phân môn trong bộ môn tiếng việt, chính vì vậy không thể tách rời chính tả khỏi môn tiếng việt cũng như không thể tách môn Tiếng việt ra khỏi các môn học khác. * Muốn viết đúng, viết đẹp trước hết các em phải đọc tốt, không phát âm ngọng. từ đó, hình thành cho các em kĩ năng: nghe đúng- viết đúng, viết nhanh và viết đẹp. Đối với học sinh lớp 2 thì nó thục sự cần thiết. Muốn vậy, giáo viên và học sinh phải thực hiện thật tốt ngay từ các bài đọc và trong các giờ học khác. + Ở lớp 2, khi viết bài chính tả học sinh có 2 hình thức: tập chép hoặc nghe viết. Yêu cầu của bài tập chép là tích hợp các yêu cầu về nhiều mặt: tư thế ngồi viết, tay cầm bút, nét chữ, đánh vần, đọc trơn, hiểu bài, viết liền mạch. Yêu cầu bài nghe viết học sinh phải từ giọng của cô mà nhớ lại cách viết các từ nghe được. Như vậy, yêu cầu học sinh phải tự đánh vần, đọc trơn được các tiếng có trong bài tự chép , tự nhớ lại các tiếng khi nghe giáo viên đọc trong bài ngheviết để viết được bài chính tả theo yêu cầu. nếu không học sinh không viết liền mạch được và sẽ có những lỗi viết không thành chữ, tương tự người lớn phải chép một bài viết bằng một tiếng nước ngoài mà mình không biết. do đó ngay từ bài chính tả đầu tiên giáo viên phải thật chú trọng rèn luyện kĩ năng viết của học sinh. +Học sinh lớp 2 các em luôn có thói quen bắt chước theo cô, các em luôn cho rằng cô làm gì cũng đúng, tất cả những hành vi, việc làm, đều được học sinh coi đó là “ mẫu” là “ chuẩn” cần phải làm theo. Vậy giáo viên cần làm gì để đáp lại sự mong mỏi, tin cậy đó của học sinh? + Trong những lúc tiếp xúc với học sinh, trong mọi tiết học, đặc biệt là trong giờ học Tiếng việt. giáo viên là người đọc mẫu cho học sinh, vì vậy giáo viên phải đọc đúng, đọc hay để học sinh bắt chước theo( chú ý phát âm chuẩn). Có đọc đúng thì mới viết dúng. Khi viết đúng, khi chấm bài, đặc biệt là những bài viết mẫu cho học sinh, chữ của giáo viên phải chân phương mẫu mực , giáo viên chú ý cách trình bày bài khoa học, đúng mẫu chữ, cỡ chữ. Như vậy, giáo viên cần luôn chú ý đến cách viết, cách trình bày của mình cũng như chú ý sửa cho học sinh về khoảng cách các con chữ, khoảng cách chữ, cách ghi dấu thanh, cách viết liền nét, viết liền mach, không nhấc bút, giáo viên giúp học sinh biết: Khoảng cách chữ- chữ khoảng một thân con chữ o. Khỏang cách chữ- dấu phẩy, dấu chấm khoảng nửa thân con chữ o. Khỏang cách dấu phẩy- chữ một thân con chữ o. Khỏang cách dấu chấm- chữ xa hơn một thân con chữ o. Khi đã có sự hiểu biết này khi viết chính tả học sinh sẽ tránh được những lỗi này. 13 Muốn trình bày bài tốt, giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉ từng bước kết hợp trong các môn học như phần hướng dẫn trình bày bài chính tả đã trình bày. Như vậy, dạy học sinh viết chính tả không chỉ thực hiện ở phân môn chính tả mà thông qua tất cả các môn học, không chỉ rèn viết mà còn rèn cả đọc- nghe- nói cho học sinh. 5. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Kết quả học tập của học sinh là thước đo kết quả hoạt động của giáo viên và học sinh. Trong quá trình dạy học, điểm tập trung là bản thân người học chứ không phải người dạy, tức là hoạt động dạy học cần dựa trên nhu cầu hứng thú, thói quen và năng lực của người học. như vậy, mục đích của dạy học ở đây là trẻ em phát triển trên nhiều mặt chứ không chỉ nhằm lĩnh hội kiến thức. Khi dạy học, hoạt động tư duy của trẻ em khơi dậy, phát triển và coi trọng, đó chính là dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Trong các giờ chính tả, giáo viên thường lạm dụng con đường giải thích cách viết, nhận xét luôn bài của học sinh. Như vậy chưa phát huy tính tích cực của học sinh vì vậy khi dạy chính tả giáo viên cần lưu ý: + Với những tiếng khó viết trong bài, giáo viên nên để học sinh tự phát âm- phân tích- viết bảng, sau đó học sinh tự nhận xét, sửa sai cho nhau. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn rồi tổng kết. + Qua những bài tập chính tả để giúp học sinh hiểu nghĩa từ- ghi nhớ từ, nắm quy tắc chính tả, giáo viên lhoong nên giảng từ thay học sinh mà giáo viên phải biết giúp học sinh dựa vào tranh vẽ, biết đưa từ vào văn cảnh cụ thể để hiểu nghĩa từ- ghi nhớ từ. Có như vậy ghi nhớ từ sẽ chính xác hơn. 6. Thay đổi giọng đọc Học sinh lớp 2, khi viết chính tả thì từ đầu năm cho đến tuần 26 thì mỗi tuần có một bài là tập chép. Nhưng khi kiểm tra định kì học sinh đều phải nghe viết . hơn nữa, trong các buổi học, đặc biệt là trong giờ chính tả học sinh chỉ quen nghe giọng đọc của giáo viên chủ nhiệm, do đó trong các đợt kiểm tra định kì, giáo viên khác vào lớp đọc chính tả cho các em, các em không quen giọng đọc đó, do vậy các em sẽ mắc lỗi chính tả nhiều hơn. Để khắc phục tình trạng này, tôi đã có hình thức tổ chức dạy học như sau: + Đến giờ chính tả nghe viết, chủ yếu là giờ luyện tiếng việt tôi cùng giáo viên trong khối đổi lớp cho nhau để đọc chính tả cho học sinh viết, học sinh viết xong chính tả giáo viên trở về lớp của mình. + Cũng trong một số giờ học Tiếng việt, giáo viên đưa ra một số từ, câu. Sau đó giáo viên gọi một học sinh có kỹ năng đọc tốt lên đọc cho cả lớp viết. Với hình thức như vậy, học sinh được nghe nhiều giọng đọc khác nhau, học sinh làm quen với các giọng đọc, lúc đó học sinh sẽ không bỡ ngỡ với những giọng đọc không quen. 7. Tổ chức “Đôi bạn giúp nhau tiến bộ” Ngoài ra, trong giờ học tôi còn tổ chức cho học sinh “ Đôi bạn giúp nhau tiến bộ” đối với học sinh của lớp, cụ thể: 14 + Những học sinh đọc viết đúng r- d- gi hoặc s- x.. sẽ giúp đỡ bạn còn đọc viết sai( nếu ở gần nhà nhau càng tốt) + Học sinh viết chữ đẹp sẽ giúp bạn còn viết sai nét, sai chính tả. Để việc thực hiện có hiệu quả, giáo viên chủ động xếp học sinh ngồi gần nhau để học sinh tự sửa khi nói, khi viết cho nhau và cả khi trò chuyện cùng nhau hay lúc ra chơi. Xưa có câu: “Học thầy không tày học bạn” và “ Thua thầy một vạn không bằng thua bạn một ly”. Chính vì vậy, khi giáo viên giúp học sinh hiểu rõ điều này tronh học tập thì việc tổ chức cho học sinh cùng nhau học hỏi, cùng nhau thi đua, rèn luyện đó là việc tốt nên làm. Sau từng tuần, từng tháng,giáo viên tổng kết, tuyên dương từng em, từng “ đôi bạn”. Nhận xét mang tính khuyến khích, động viên các em là chính. 8. Chú ý tư thế ngồi và cách cầm bút. Hiện nay, trong các trường học vẫn còn tồn tại không ít học sinh ngồi viết không đúng tư thế và cách cầm bút. Có trách nhiệm đầu tiên và lớn nhất trong hiện trạng nói trên là những người dạy các em cầm bút tập viết lần đầu tiên. Các em ngồi không ngay ngắn và cầm bút không đúng kiểu mà không được uốn nắn ngay cho đến khi có cách ngồi và cách cầm bút đúng thì sau này rất khó sửa. Luyện cho học sinh tư thế ngồi và cách cầm bút viết cho đúng không phải chỉ là việc làm ở đầu học kì I mà là việc làm thường xuyên của giáo viên. Tay các em còn non, cầm bút không nhẹ nhàng như người lớn. Nhưng nếu cầm sai mà được uốn nắn ngay thì cũng dễ sửa hơn người lớn. Lưng các em còn rất mềm ngồi viết không đúng tư thế sẽ dẫn đến cong vẹo cột sống và cận thị. Chính vì vậy, ngay từ các buổi học đầu tiên của lớp 2, tôi hướng dẫn học sinh tỉ mỉ, cẩn thận về cách cầm bút cũng như tư thế ngồi, cách để vở,… *Tư thế ngồi của học sinh: Nhiều giáo viên chỉ mải hướng dẫn, chú ý đén chữ của học sinh mà quên đi tư thế ngồi của các em. Để mặc HS ngồi tự do, lệch lạc, đầu cúi sát vở, ngả nghiêng người,..Trước khi viết GV cần nhắc các em phải ngồi đúng tư thế thì HS sẽ biết ngay là mình phải ngồi ngay ngắn, thẳng lưng, không tì ngực vào bàn, vai thăng bằng, đầu hơi cúi và nghiêng sang trái, mắt cách vở 25- 30 cm. Hai tay để trên bàn, tay trái giữ vở, tay phải cầm bút, hai chân để song song thoải mái. * Cách cầm bút, tay viết. Cầm bút bằng 3 ngón tay, ngón tay giữa ở phía dưới, ngón trỏ ở phía trên và ngón cái giữ bút ở phía ngoài cho ngón tay cái thẳng với cánh tay. Bàn tay để lên trang vở, cổ tay thẳng thoải mái. Bút nghiêng về phía cánh taykhoangr 45 độ so với mặt giấy và song song mép dọc của trang vở. Ngòi bút úp xuống mặt giấy. Gv không chú ý có những Hs cầm bút bằng 4 ngón tay để khuỳnh ra rất khó viết khi lên lớp trên sửa lại cho các em thật khó. 15 VI.MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHÁC 1.Phương pháp nêu gương Một trong các phương pháp giúp trẻ học tốt đó chính là phương pháp nêu gương. Học sinh lớp 2 rất thích được khen, vì vậy khi HS đạt được thành tích gì dù là nhỏ nhưng giáo viên cũng phải biết để động viên, khuyến khích học sinh kịp thời. Khi viết chính tả cũng vậy, nếu thấy học sinh nào có tiến bộ, có những thành tích về chữ viết dù là chút ít tôi cũng thường tuyên dương các em trước lớp trong giờ học đó . 2.Đề cao sự gương mẫu của giáo viên Học sinh Tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 2 , các em luôn lấy thầy cô của mình làm chuẩ mực. Vì vậy, để rèn chữ viết của học sinh đạt kết quả cao thì trước hết giáo viên phải rèn chữ viết của mình. Chữ viết của giáo viên khi giảng bài, chấm chữa bài.. cần phải chân phương gương mẫu. Lời nhận xét của giáo viên luôn mang tính động viên, khuyến khích học sinh. 3.Tổ chức cho học sinh: “ Học mà vui- Vui mà học” Học sinh lớp 2 còn rất nhỏ, các em còn mải chơi chưa xác định được nhiệm vụ học tập của mình. Vì vậy, giáo viên phải là người hướng học sinh vào quá trình học tập để các em chủ động tìm tòi, khám phá và chiếm lĩnh tri thức. Muốn vậy giáo viên cần tổ chức cho học sinh: “ học mà vui- vui mà học” qua các hình thức và phương pháp khác nhau. Đối với học sinh lớp 2, việc viết bài chính tả là một việc làm căng thẳng đối với các em. Các em phải tập trung, chú ý nhiều giác quan để viết liền mạch bài viết. Để gây hứng thú cho học sinh, để học sinh thấy thoải mái, thích thú, tiết học sôi nổi, đạt hiệu quả cao, trong các giờ học tôi luôn tổ chức các cuộc thi, các trò chơi giúp các em hứng thú học tập, qua đó các em ghi nhớ kiến thức một cách chủ động có hiệu quả. 4.Giáo dục tính cẩn thận “ Viết ngoáy”, là viết nhanh một cách cẩu thả, không thể chấp nhận được với bất kì lớp nào, nhất là với học sinh lớp 2. Với học sinh lớp 2, giáo viên cần phải giáo dục học sinh tính tỉ mỉ, cẩn thận, giáo dục qua các bài học, qua các gương trong thực tế ngay từ thời gian dầu để học sinh không có thói quen viết ngoáy. Nếu có, giáo viên phải giúp học sinh dần dần khắc phục nhược điểm này, để khắc phục được lỗi trên, nhìn chung giáo viên phải ân cần, dịu dàng uốn nắn, kể cả lỗi do vụng về mà để vở bị dây bẩn hay quăn góc. Thông qua rèn chữ viết cần nhắc nhở học sinh có ý thức giữ sách vở bằng cách: Có giấy lót tay khi viết, để tay cẩn thận không làm quăn góc. Riêng với lỗi viết ngoáy giáo viên có thể nghiêm khắc hơn để đưa học sinh vào nề nếp.giáo viên luôn nhắc nhở học sinh: các em luôn phải ghi nhớ dòng chữ ghi ngay góc mỗi trang vở: “ Nắn nét chữ, rèn nết người”. từ đó để các em luôn có tính tự giác nhưng giáo viên luôn lưu ý, đối với HS lớp 2 thì giáo viên phải “ Vừa dạy, vừa dỗ”. 16 5.Rèn thói quen đọc lại bài sau khi viết. Trước khi cho học sinh viết bài, giáo viên luôn cho học sinh đọc bài chính tả trước rồi mới viết.Khi viết song, cần giáo viên nhắc nhở học sinh tự đọc bài, những gì mình đã biết ( từ, câu , bài chính tả) , đẻ qua đó thấy mình sai gì sẽ sửa, tự khắc phục. Đặc biệt trong giờ chính tả, khi học sinh chép xong hoặc nghe song thì giáo viên vần đọc chậm lại nội dung bài viết và nhắc nhở học sinh theo vào bài viết của mình để tự sửa lỗi chính tả( có thể đổi chéo vở- kiểm tra lẫn nhau). Yêu cầu giáo viên đọc đúng, phát âm chuẩn. Học sinh phải thật chú ý: tai nghe- mắt nhìn và suy nghĩ để sửa chính tả cho đúng. 6.Luôn đổi mới Phương pháp dạy học Để góp phần giúp đỡ học thành công, người giáo viên phải không ngừng học hỏi, tìm tòi, và đổi mới các phương pháp sao cho phù hợp với đối tượng học sinh, với nội dung bài dạy, với điều kiện thực tế của lớp. Theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, tiết chính tả cần tạo điều kiện để học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức( tự quan sát- nhận xét - ghi nhớ), tự giác luyện tập và rút kinh nghiệm qua thực hành luyện viết dưới sự hướng dẫn của giáo viên. 7.Đổi mới về cách đánh giá học sinh Đánh giá kết quả học tập của học sinh không chỉ có giáo viên là người “ Cầm cân nảy mực” mà nên cho học sinh tham gia vào việc đánh giá kết quả học tập của bạn cũng như của mình. Khi chấm bài, đánh giá bài viết giáo viên có thể cho học sinh chấm bài kèm. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh đổi chéo vở kiểm tra lẫn nhau, chấm bài cho bạn, đối chiếu bài cô, tự chấm bài cho mình. Giaos viên là người bao quát, hướng dẫn và có nhận xét, kết luận chung. 8.Tổ chức tốt các phong trào thi đua Để gây không khí hào hứng thi đua rèn chữ sạch đẹp, tôi thường xuyên tổ chức các cuộc thi, cuộc triển lãm vở sạch chữ đẹp trong nội bộ lớp và các tiết sinh hoạt tập thể, cuối tuần( lớp học 2 buổi/ ngày). Những bài viết đẹp, sạc sẽ được trình bày để các em học tập, những bài viết có tiến bộ cũng được giáo viên nêu tên và lớp tuyên dương khuyến khích. Qua việc tổ chức như vậy , giáo viên thấy được khả năng của từng em để có biện pháp rèn luyện phù hợp. còn học sinh thì phấn khởi, quyết tâm giữ vở sạch - viết chữ đẹpở mức cao nhất mình có thể. 9.Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng HS viết chính tả chưa tốt là phụ huynh học sinh, thì ngược lại một trong những người giúp các em đọc- viết chính tả tốt đó cũng là phụ huynh học sinh. Đối với học sinh lớp 2, mỗi nét chữ của học sinh không chỉ có bàn tay cô giáo mà còn có sự hỗ trợ rất lớn của cha mẹ các em. 17 Chính vì vậy mà giáo viên cần biết kết hợp cùng với phụ huynh để trao đổi cùng nhau tìm ra biện pháp tốt nhất giúp học sinh khắc phục những nhược điểm đó. Cần giúp cho phụ huynh học sinh hiểu rằng, chính bản thân họ cũng phải đọc chuẩ- viết chuẩn thì việc rèn chữ cho con em họ mới có hiệu quả cao. * Một số ảnh hưởng đến giờ luyện viết chính tả. 1. Chọn bút Các em là học sinh lớp hai nên không chọn quá dài hay quá to chỉ khoảng 15cm và đường kính 7mm là vừa. Phần ngòi bút và lưỡi gà cắm vào ổ bút vừa khít không quá rộng hoặc quá trật. Phần ngòi bút không được mềm quá dễ hỏng. các bộ phận khác của bút phải đảm bảo cho việc hút mực, giữ mực và ra đều mực. 2. Chọn vở: - Khi mua vở phụ huynh chọ vở có bìa cứng để tránh tình trạng nhàu nát, rách bìa sau một thời gian sử dụng. Giấy vở tốt, dày và láng, viết không bị nhòe( vì học sinh lớp 2 khi viết các em đè bút mạnh, mực dễ thấm sang trang khác), vở có kẻ ô ly rõ ràng. 3. Bảng con và phấn: - Bảng con: nên dùng cỡ 20cm x 30 cm, mặt bảng có vạch rõ các ô vuông kích thước 3cm x 3cm kèm theo khăn ẩm để lau khô. - Phấn; Dùng phấn trắng, mềm, dùng phấn không bụi. 4.Cách để vở Giaó viên cần chú ý cho học sinh vở không gập đôi, để hoàn toàn trên mặt bàn, hơi nghiêng sang trái khoảng 15 độ so với mặt bàn sao cho mép vở song song với cánh tay. Vì thế giáo viên cần chú ý tất cả các điều kiện trên khi dạy giờ chính tả. VI. Kết quả đạt được Sau khi áp dụng các biện pháp trên vào thực tiễn giảng dạy , tôi thu được kết quả khá tốt. Tôi đã so sánh kết quả lúc đầu năm nhận lớp với kết thúc học kì I thì thấy: + Thi viết đẹp vòng trường lớp tôi có 1 em đạt giải Nhất. + Thi viết đẹp vòng huyện lần 1, lớp tôi 1 em đạt giải Nhất huyện. + Thi viết đẹp vòng huyện lần 2, lớp tôi được 1 em tham dự kì thi viết đẹp cấp tỉnh. + Kết quả chấm vở sạch chữ đẹp toàn trường, lớp tôi 100% đạt loại A và xếp thứ nhất trong khối 2. * Nhận xét chung: 18 Sau khi áp dụng giải pháp trên vào thục tiễn giảng dạy trong năm học vừa qua tôi thấy: Dù học sinh mới học lớp 2 nhưng tình trạng học sinh mắc lỗi về chính tả đã giảm hẳn, cụ thể: Không có học sinh nào mắc lỗi về trình bày kể cả đoạn văn, đoạn thơ. Học sinh hiểu nghĩa từ, ghi nhớ từ, nắm được quy tắc chính tả, các em đã viết đúng khoảng cách giữa chữ với chữ, giữa từ với từ, cách ghi dấu chấm, dấu phẩy, dấu mũ. Các em viết đúng tốc độ, nối chữ đúng quy định, bài viết sạch đẹp, không mắc lõi chính tả. nhờ được rèn đọc, rèn viết ngay từ đầu năm, trong tất cả các môn học nên đến nay các em đã viết rất tốt. Đặc biệt là học sinh tự chép hay nghe viết một bài chính tả theo đúng mẫu yêu cầu của cô. Trong các bài thi viết chính tả, thi viết đẹp do giáo viên trong tổ tự tổ chức vào các buổi chiều luyện Tiếng việt) học sinh đã viết, trình bày rất đúng và đẹp, không còn bị bỡ ngỡ do không phải là giáo viên chủ nhiệm đọc chính tả. Học sinh tự tin khi viết và làm bài. VII. Bài học kinh nghiệm Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp vào thực tế giảng dạy luyện viết chữ đẹp cho học sinh qua phân môn chính tả ở lớp 2 tôi thấy cần lưu ý những điểm sau: + Giáo viên là người làm gương cho học sinh noi theo. + Giáo viên giới thiệu với phụ huynh mẫu chữ mà nhà trường đang thực hiên để phối hợp hướng dẫn học sinh khi luyện viết ở nhà. + Đối với học sinh viết quá ẩu, quá xấu , hay sai. Giáo viên yêu cầu học sinh đó phải có một vở riêng để luyện viết và sắp xếp cho các em ngồi ở chỗ giáo viên thuận tiện theo dõi. + Trong tiết sinh hoạt, giáo viên cần tuyên dương, khen ngợi những em được xếp loại A, viết đẹp, nhắc nhở, động viên những học sinh còn lại. kể cho các em nghe những gương rèn chữ của những người đi trước được viết trong sách báo, câu chuyện, những gương rèn chữ của học sinh năm trước. + Nắm vững tầm quan trọng của môn học và nắm chắc kiến thức trọng tâm cần truyền thụ cho học sinh trong từng bài. + Giáo viên cần phải có sự chuẩn bị chu đáo: nghiên cứu kĩ từng bài, có đủ tài liệu và đồ dùng khi lên lớp. + Cần phải tính đến điều kiện cụ thể cho phép như thời gian cho từng tiết học, điều kiện học sinh lớp mình để lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học sao cho phù hợp. + Dạy học phải đảm bảo tính hệ thống, tính khoa học, tính vững chắc, tính vừa sức với đối tượng học sinh lớp mình. + Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh trong việc giáo dục học sinh nói chung và rèn chữ viết cho học sinh nói riêng. + Giáo viên không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn của mình, phải luôn cải tiến phương pháp dạy học. 19 + Ngay từ đầu năm giáo viên cùng phụ huynh thống nhất đồ dùng cho học sinh: cùng một loại vở và bìa bọc, cùng viết một loại bút máy và viết cùng loại mực. + Phát động phong trào vở sạch chữ đẹp trong nội bộ lớp, thường xuyên khen thưởng, động viên học sinh có thành tích cao hay có tiến bộ trong phong trào vở sạch chữ đẹp. + Phối kết hợp rèn chữ trong tất cả các môn học. + Một trong những điều quan trọng rèn chữ đạt kết quả là giáo viên cần phải giúp học sinh hiểu tác dụng của việc rèn chữ trong giờ chính tả. Từ đó học sinh chủ động , tự giác trong việc rèn chữ. Qua quá trình tôi thực hiện ở lớp mình và đã đem lại kết quả tốt, đáp ứng được yêu cầu đặt ra, góp phần tích cực trong việc đạt được hiệu quả giáo dục của lớp, của trường, Tôi xin trình bày trao đổi kinh nghiệm và rất mong được sự đánh giá, góp ý của hội đồng sư phạm nhà trường và bạn bè đồng nghiệp. với mong muốn đề tài của tôi ngày càng được hoàn thiện, áp dụng có hiệu quả hơn trong thực tiễn và được nhân rộng đến các bạn đồng nghiệp, để chữ viết của mỗi học sinh ngày một đẹp hơn. VIII. Phạm vi ứng dụng của đề tài Kinh nghiệm về “ Rèn viết chữ đẹp cho học sinh trong giờ chính tả” có thể áp dụng cho tất cả các lớp khối 2 các trường Tiểu học và có thể áp dụng một phần đối với học sinh lớp trên của bậc Tiểu học. I X. Một số kiến nghị Việc rèn chữ viết cho học sinh là một việc làm hết sức quan trọng , để nâng cao hơn nữa chất lượng rèn chữ cho học sinh lớp 2 tôi có một số kiến nghị sau: 1.Đối với giáo viên: - Luôn tâm huyết hết long với nghề. - Cần phải rèn đọc chuẩn, rèn chữ viết của mình, thường xuyên tự học hỏi, rèn luyện mình để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. - Tích cực học hỏi đồng nghiệp cũng như đọc các tài liệu nhằm phục vụ cho việc rèn chữ.. - Điều quan trọng hơn nũa là người giáo viên phải kiên trì, vượt khó, tìm tòi, sáng tạo và có bản lĩnh, có tinh thần trách nhiệm cao, say mê với công việc, tận tụy với học sinh. 2.Đối với học sinh - Có ý thức tự giác, tích cực trong học tập. Biết lắng nghe nhận xét của cô, của bạn để tự sửa chữa, khắc phục nhược điểm của mình. Mạnh dạn góp ý, sửa sai giúp đỡ bạn trong học tập cũng như trong rèn chữ. 20
- Xem thêm -