Tài liệu Rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 trung học phổ thông

  • Số trang: 114 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 156 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39841 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ HỒNG RÈN KỸ NĂNG TRI GIÁC NGÔN NGỮ VÀ TÁI HIỆN HÌNH TƯỢNG TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH Ở LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC (BỘ MÔN NGỮ VĂN) Mã số: 60 14 10 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN VIẾT CHỮ HÀ NỘI – 2012 1 MỤC LỤC Trang Lời cảm ơn ........................................................................................................ i Danh mục viết tắt .............................................................................................. ii Danh mục các bảng ...........................................................................................iii Mục lục .............................................................................................................iv MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chƣơng 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ RÈN KỸ NĂNG TRI GIÁC NGÔN NGỮ, TÁI HIỆN HÌNH TƢỢNG TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH Ở LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ..........................12 1.1. Khái niệm về kỹ năng .................................................................................12 1.2. Ngôn ngữ nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương ..............................................................................................................13 1.2.1. Ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật và đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật ..................................................................................................................13 1.2.2. Hình tượng, hình tượng nghệ thuật và đặc trưng của hình tượng nghệ thuật ..........................................................................................................18 1.3. Năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng nghệ thuật ....................22 1.3.1. Năng lực và năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật ..................................22 1.3.2. Năng lực tái hiện hình tượng trong tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật ngôn từ ..............................................................................................................26 1.3.3. Năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình của học sinh lớp 11 THPT................................................28 1.4. Thể loại văn học .........................................................................................29 1.5. Thơ trữ tình và đặc điểm thơ trữ tình ..........................................................31 1.5.1. Thơ trữ tình .............................................................................................31 1.5.2. Đặc điểm thơ trữ tình ...............................................................................32 1.6. Yêu cầu luyện tập kỹ năng cho học sinh ....................................................37 Chƣơng 2: THỰC TIỄN DẠY HỌC VÀ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG TRI GIÁC NGÔN NGỮ, TÁI HIỆN HÌNH TƢỢNG TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH Ở LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.................40 2.1. Khảo sát khả năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng thơ trữ tình của học sinh ...............................................................................................40 2.1.1. Mục đích khảo sát ....................................................................................40 4 2.1.2. Đối tượng khảo sát...................................................................................40 2.1.3. Phương pháp khảo sát ..............................................................................40 2.1.4. Nội dung khảo sát ....................................................................................40 2.1.5. Thời gian, địa điểm khảo sát ....................................................................41 2.1.6. Kết quả khảo sát .....................................................................................41 2.1.7. Kết luận về năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng nghệ thuật trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 THPT ................................................47 2.2. Biện pháp rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 trung học phổ thông .............................................53 2.2.1. Những yêu cầu có tính nguyên tắc ...........................................................53 2.2.2. Một số biện pháp rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng cho học sinh ...........................................................................................55 Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM .......................................................77 3.1. Mục đích thực nghiệm ................................................................................77 3.2. Yêu cầu thực nghiệm ..................................................................................77 3.3. Địa bàn, đối tượng và bài thực nghiệm .......................................................77 3.4. Nội dung và tiến trình thực nghiệm............................................................78 3.4.1. Nội dung thực nghiệm .............................................................................78 3.4.2. Tiến trình thực nghiệm ............................................................................78 3.5. Giáo án thực nghiệm...................................................................................79 3.6. Kết quả thực nghiệm...................................................................................98 3.6.1. Tiêu chí đánh giá .....................................................................................98 3.6.2. Kết quả thu được .....................................................................................98 3.6.3. Kết luận rút ra qua thực nghiệm ...............................................................100 KẾT LUẬN CHUNG ......................................................................................103 TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................................106 PHỤ LỤC.........................................................................................................108 5 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ ĐC Đối chứng GV Giáo viên HS Học sinh Nxb Nhà xuất bản SGK Sách giáo khoa SL Số lượng THPT Trung học phổ thông TN Thực nghiệm 2 DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 2.1. Thống kê số câu hỏi tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng thơ trữ tình của các bài thơ trữ tình hiện đại lớp 11 ......................... 42 Bảng 2.2. Thống kê kết quả khảo sát giáo án ………………………......... 43 Bảng 2.3. Thống kê kết quả phiếu khảo sát giáo viên ………… ............... 44 Bảng 2.4. Thống kê kết quả khảo sát năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật. ........................................................................................................ 46 Bảng 2.5. Thống kê kết quả khảo sát năng lực tái hiện hình tượng thơ trữ tình ..................................................................................................... 47 Bảng 3.1. Bảng kết quả kiểm tra lớp 11B, 11C ........................................ 99 Bảng 3.2. Bảng kết quả kiểm tra lớp 11G, 11H ........................................ 99 Bảng 3.3. Bảng kết quả kiểm tra lớp 11D, 11E ........................................100 3 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong nhiều năm trở lại đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học được quan tâm và bàn tới. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã nhấn mạnh đến việc “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp Giáo dục – Đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học…”. Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác dộng đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Gần đây, trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010”, Đảng ta cũng xác định: “Đổi mới và hiện đại hóa giáo dục, chuyển từ việc tiếp nhận tri thức thụ động, thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh”. Như vậy, những yêu cầu về nội dung, nhiệm vụ và phương pháp giáo dục đã được Đảng và Nhà nước xác định rõ. Tuy nhiên, trong thực tế, để đạt được nhiệm vụ và mục đích trên vẫn còn là một thách thức đối với ngành giáo dục. Trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay đòi hỏi con người phải có năng lực, trình độ nhận thức, hiểu biết và phải có tầm khái quát toàn diện và sâu sắc. Để đáp ứng được yêu cầu trên thì chất lượng giáo dục phổ 6 thông phải được nâng cao. Cùng với các môn học khác, môn Ngữ văn có một vị trí và vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Muốn đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất, việc dạy và học văn phải tiến hành sao cho phù hợp với đặc trưng của bộ môn, vừa mang bản chất xã hội, vừa là hiện tượng nghệ thuật, thẩm mỹ. Ngữ văn là bộ môn nghệ thuật, chất liệu xây dựng là ngôn từ. “Ngôn từ trong văn học được coi là một thứ ngôn từ đặc biệt, được chưng cất từ hiện thực ngôn ngữ toàn dân. Nhờ sự nung chảy, cô đúc, gọt giũa từ hiện thực mà ngôn ngữ văn học có tính hình tượng” [2, tr.7]. Hình tượng là vấn đề sống còn của nghệ thuật ngôn từ. Chính nhờ hình tượng được ngôn ngữ tạo thành mà hình tượng văn học có tính phi hình thể và sự tổng hợp khái quát kì lạ. Vì thế, một tác phẩm văn chương đích thực không chỉ đem tới thông tin mà phải là một hệ thống tín hiệu kích thích để bùng nổ thông tin. Ở đây, cái lạ, cái thật, cái ảo, cái thực trong thế giới hình tượng nghệ thuật gợi mở ra những điều thú vị trong trường liên tưởng của người đọc. Mọi hoạt động của môn Văn trong nhà trường đều xoay quanh vấn đề trung tâm là tác phẩm. Các tác phẩm chân chính đều là sản phẩm kì diệu của người nghệ sĩ. Nó là kết quả của sự phản ứng linh diệu giữa người nghệ sĩ với cuộc đời. Để hiểu được tác phẩm văn chương, người đọc phải huy động thoạt đầu là tri giác và sau đó là tái hiện, liên tưởng, tưởng tượng để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của văn bản. Nếu quá trình này không xảy ra thì người đọc, dù bằng cách nào đi nữa, cũng khó có thể hiểu được sâu sắc văn bản mình đọc. Tác phẩm văn học nào cũng tồn tại qua hệ thống ngôn ngữ vốn là vỏ vật chất của tác phẩm. Con đường đi vào tác phẩm văn học, vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm phải bắt đầu từ bước tri giác ngôn ngữ của tác phẩm. Không có hoạt động tri giác ngôn ngữ của người đọc thì tác phẩm chỉ là tập hợp ký hiệu chết, không có linh hồn. Cho nên tri giác được ngôn ngữ nghệ thuật trong văn bản văn học và nhất là trong thơ trữ tình là biểu hiện năng lực ban đầu của 7 năng lực tiếp nhận, tiếp cận, chiếm lĩnh được tác phẩm văn học. Vì vậy, năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật phải gắn liền với nhiều năng lực khác, trong đó phải kể đến năng lực tái hiện hình tượng, để nhận ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm do tác giả dựng lên. Tái hiện hình tượng sẽ giúp người đọc tìm ra thế giới bên trong của tác phẩm nằm dưới các ký hiệu ngôn ngữ, có tưởng tượng tái hiện thì thế giới nghệ thuật của tác phẩm mới hiện hình với nhiều gam màu, với bao con người khác nhau về diện mạo và tính cách. Và không riêng gì việc tiếp nhận văn bản văn học mà đối với việc tiếp nhận bất cứ loại hình nghệ thuật nào khác thì cũng diễn ra quá trình tương tự. Một xu hướng dạy học hiện đại và tiến bộ được đưa ra đó là thay đổi vị trí của người thầy và người trò: người thầy đóng vai trò chủ đạo, thầy là người cố vấn, người kích thích, người điều khiển, tổ chức và hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tri thức, học sinh đóng vai trò tích cực, chủ động, tự giác, tự lực trong quá trình lĩnh hội tri thức. Điều đó có nghĩa là giáo viên là người hướng dẫn để học sinh chủ động trong quá trình học của mình. Đề cao vai trò chủ thể học sinh trong quá trình giảng dạy và học tập văn hoá nói chung, văn học nói riêng chính là tìm một phương hướng cơ bản để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học. Phương hướng đó không những phù hợp với yêu cầu của thời đại khoa học hiện nay mà còn là quan điểm nhân văn về nhận thức khoa học đó là xây dựng những con người mới tích cực, chủ động, sáng tạo và tự tin vào năng lực của mình. Muốn vậy, giáo viên phải rèn cho học sinh nhiều kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng tiếp nhận văn học. Thực tiễn sư phạm chỉ ra rằng dạy học văn ở nhà trường phổ thông hiện nay đã bộc lộ không ít những bất cập và hạn chế về nhiều mặt. Những tác phẩm được lựa chọn vào chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn thuộc nhiều thể loại khác nhau nhưng có điểm chung đều là những tác phẩm có giá trị, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Tuy nhiên, thực trạng các giờ dạy học văn nói chung và giờ dạy học tác phẩm trữ tình nói riêng còn đơn điệu, tẻ nhạt, không lôi 8 cuốn học sinh, thậm chí nhiều học sinh có tâm lí chán học văn do đó hiệu quả dạy học không cao…. Hơn nữa, các tác phẩm văn học thực sự có giá trị nhưng chưa có được vị trí, chỗ đứng xứng đáng trong lòng những người yêu văn chương. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên nhưng nguyên nhân chính là do khi tìm hiểu, phân tích tác phẩm văn chương chúng ta không xác định đúng “chất của loại” trong thể, chưa bám sát đặc trưng thể loại. Mỗi tác phẩm văn chương đều tồn tại dưới hình thức một loại thể nhất định vì thế đòi hỏi một phương pháp, một cách thức giảng dạy phù hợp. Bên cạnh đó nhiều giáo viên trong quá trình dạy văn chưa có sự đổi mới phương pháp dạy học, chỉ chú ý đến đọc văn, hay nói cho đúng phát âm mà không chú ý giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng tiếp nhận văn học, đặc biệt là kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng cho học sinh. Chỉ có thể bắt đầu giờ dạy và học tác phẩm văn chương khi thế giới tác phẩm hiện hình trong tưởng tượng của học sinh. Thực tế trong chương trình Ngữ văn lớp 11, các tác phẩm thơ trữ tình được đưa vào giảng dạy đều là những tác phẩm đạt tới trình độ nghệ thuật cao, có giá trị mà tiêu biểu phải kể đến những sáng tác của các nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới như Vội vàng của Xuân Diệu, Tràng giang của Huy Cận hay Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Tương tư của Nguyễn Bính…. Những tác phẩm trên đã đạt đến mức cổ điển trong văn học Việt Nam. Thơ trữ tình là cả một thế giới vẻ đẹp của tâm hồn con người, của cuộc sống. Để đọc hiểu thơ trữ tình đòi hỏi học sinh phải được rèn luyện thực sự, đúng phương pháp để bồi dưỡng, phát huy hết khả năng tiềm ẩn, tạo cho các em yêu thích bộ môn và có những năng lực văn học nhất định. Tuy nhiên, khi giảng dạy các tác phẩm thơ trữ tình nhiều giáo viên chỉ phân tích, khám phá giá trị nội dung và nghệ thuật chung nhất của tác phẩm qua từng khổ thơ hay đoạn thơ. Giáo viên chưa chú ý tới tri giác ngôn ngữ, không chú ý giúp học sinh rèn luyện trí 9 tưởng tượng tái hiện và không khai thác hết chiều sâu tư tưởng, giá trị nghệ thuật của bài thơ. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài : Rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 trung học phổ thông. Với đề tài này, chúng tôi sẽ tìm tòi và đề xuất một số biện pháp, cách thức và hình thức rèn luyện kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình. Đồng thời, chúng tôi mong muốn góp phần thực thi việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trung học phổ thông và góp phần hiện thực hóa một phần nhiệm vụ của giáo dục. 2. Lịch sử vấn đề Thơ trữ tình vốn chiếm vị trí quan trọng trong các thể loại văn học. Với các tác phẩm văn học trong nhà trường, thơ trữ tình cũng chiếm tỉ lệ khá lớn. Vì thế quan tâm đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường không thể không nghiên cứu về thơ và giảng dạy thơ. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi lưu tâm đến những ý kiến thuộc hướng nghiên cứu về năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình. Trong cuốn Tài liệu bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên THPT về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn của Bộ giáo dục và Đào tạo năm 2005 có đề cập chuyên đề: Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông của tác giả Nguyễn Viết Chữ. Chuyên đề phân tích sâu sắc bản chất quá trình dạy học văn trong nhà trường là quá trình bồi dưỡng kỹ năng đọc, kỹ năng nghe mà biểu hiện ra ở kỹ năng nói, kỹ năng viết và quá trình phát triển năng lực tiếp nhận văn học. Theo tác giả: “phát triển năng lực tiếp nhận của học sinh là hạt nhân của quá trình dạy học văn hiện đại” [1, tr.5], đó là các năng lực: tri giác ngôn ngữ nghệ thuật; tái hiện hình tượng; liên tưởng trong tiếp nhận văn học; cảm thụ cụ thể kết hợp với khái quát hóa các chi tiết nghệ thuật của tác phẩm trong tính chỉnh thể; nhận 10 biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận; tự nhận thức và năng lực tự đánh giá. Cuốn Hiểu văn, dạy văn, Nxb Giáo dục 2001, nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Hùng cho rằng muốn cắt nghĩa văn bản “…phải nghiên cứu và xác định mối quan hệ bên trong mỗi tác phẩm trữ tình thông qua tác động và chức năng của hình tượng âm thanh, của cấu trúc câu thơ, của khổ thơ, của tính hình ảnh” [6, tr.98]. “Phân tích tác phẩm trữ tình cần phải quan tâm đến bình diện diễn đạt ngôn ngữ nghệ thuật” [6, tr.103]. Như vậy, để cắt nghĩa văn bản đòi hỏi người dạy và người học phải nhận diện được hình thức nghệ thuật, các mối quan hệ bên trong của tác phẩm trữ tình. Tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong bài Tác phẩm trữ tình và phương pháp giảng dạy, đã khẳng định vị trí của thể loại trữ tình trong lịch sử, bản chất, khả năng tác động và đặc trưng riêng của thể loại trữ tình. Từ đó, tác giả nêu ra những kết luận về phương pháp: “Cần phải lưu ý đặc biệt đến nhà thơ- tác giả khi dạy tác phẩm trữ tình và cần phải quan tâm đến bình diện diễn đạt ngôn ngữ nghệ thuật”. Theo tác giả, tất cả những phương pháp trên đều nhằm mục đích hướng học sinh vào những vấn đề như: làm thế nào để thông qua chủ thể trữ tình, người đọc lĩnh hội, nếm trải “ hiện thực xã hội”, làm thế nào để học sinh hiểu được “ hiện thực nghệ thuật” của tác phẩm. Như vậy, tác giả đã đặt ra vấn đề giảng dạy tác phẩm trữ tình gắn với đặc trưng thể loại của tác phẩm. Trong bài viết Về sự phân tích tác phẩm ngôn ngữ trong nhà trường (Tạp chí ngôn ngữ số 2/1975), giáo sư Đinh Trọng Lạc đã nêu khá cụ thể quá trình phân tích tác phẩm nghệ thuật: Đó là quá trình đi từ hình tượng từ ngữ đến hình tượng nghệ thuật; từ việc làm sáng tỏ hình tượng nghệ thuật để làm nổi bật tư tưởng của chủ đề. Hoặc có thể nêu ngay tư tưởng chủ đề rồi dùng hình tượng nghệ thuật để chứng minh; nêu ngay những hình tượng nghệ thuật rồi phân tích các yếu tố ngôn ngữ. Vấn đề quan trọng là biết xuất phát đúng; 11 nghĩa là biết tìm ra đúng hình tượng từ ngữ và biết phân tích chúng một cách chính xác và tinh tế. Bài viết “Suy nghĩ về một phương pháp phân tích văn bản thơ” của tác giả Trần Ngọc Thêm đăng trên Tạp chí văn học số 5/1981 cho rằng phương pháp phân tích văn bản thơ có những nguyên tắc chính. Văn bản thơ là một thể thống nhất hoàn chỉnh có chứa một hệ thống các mối liên kết bên trong và các mối liên kết bên ngoài. Theo tác giả: “Việc phát hiện các mối liên kết bên ngoài sẽ được tiến hành theo một quy trình đi từ cái có mặt trên văn bản đến cái vắng mặt, từ hình thức đến nội dung, hình thức ngôn ngữ - thông tin sự kiện – khôi phục thông tin sự kiện – thông tin khái niệm” [20, tr.36]. Giáo sư Phan Trọng Luận trong nhiều cuốn sách của mình như: Phương pháp giảng dạy văn, Văn chương bạn đọc sáng tạo, Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn… đều đề cập đến các năng lực tiếp nhận văn học. Trong cuốn Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường, Nxb Giáo dục 1977, giáo sư cho rằng: “Con đường đi vào tác phẩm văn học là con đường trải qua nhiều chặng, nhiều bước, nhiều giai đoạn để đi dần từ bề ngoài đến bên trong tác phẩm (…). Con đường đó bao giờ cũng bắt đầu từ công việc tri giác ngôn ngữ và lĩnh hội hình tượng tác phẩm từ những bình diện thấp cao khác nhau”. Giáo sư cũng khẳng định: “việc xác định tư tưởng chủ đề tác phẩm chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở tái hiện những hình ảnh cụ thể sinh động trong tác phẩm” [10, tr.110]. “Tái hiện hình tượng tác phẩm không những là một thao tác tư duy để đi vào tác phẩm mà cũng là một bí quyết truyền thụ bài văn thành công” [10, tr.113]. Trong bộ sách Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông gồm hai tập do Phan Trọng Luận chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục, 1999, các tác giả đã đề cập đến những vấn đề lý luận về đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương ở trường phổ thông. Tiếp đó là mô hình thiết kế thể nghiệm một số bài dạy theo chương trình sách giáo khoa. Bộ sách này 12 đã một bước cụ thể hoá những lý thuyết về phương pháp dạy - học Văn bằng việc thiết kế các giáo án giảng dạy cụ thể. Trong mỗi giáo án thiết kế, các tác giả đã thiết kế cặn kẽ từ mục đích yêu cầu bài dạy, nội dung lên lớp, phần vào bài, các bước tiến hành cũng như nội dung cơ bản của bài học. Nhìn chung bộ sách này có vị trí quan trọng góp phần vào tiếng nói chung, xu hướng chung là đổi mới phương pháp dạy - học Văn để nhằm đem lại hiệu quả dạy học cao hơn. Trong quyển Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, tác giả Nguyễn Trọng Hoàn đã đi sâu vào trình bày những biện pháp nhằm rèn luyện tư duy cho học sinh. Tác giả có phân loại các loại câu hỏi trong dạy học Văn. Theo tác giả, “Việc đặt câu hỏi đối với học sinh trong quá trình tiếp nhận văn học có ý nghĩa làm thay đổi tình thái của giờ học, hay nói cách khác là mở tình huống “có vấn đề”, xác định tâm thế thực tại và đặt học sinh vào các yêu cầu của việc nhận thức”[5, tr.160]. “Các câu hỏi liên tưởng và tưởng tượng trong hệ thống các câu hỏi sáng tạo trong bài học tác phẩm văn chương được xem như một trong các giải pháp liên kết phương hướng triển khai quá trình hình thành kiến thức, góp phần làm phong phú các hướng tiếp nhận tích cực ở học sinh”.[5, tr.164]. Vì thế, theo tác giả, hệ thống câu hỏi và bài tập trong giờ học Văn có ý nghĩa tạo ra các tình huống có vấn đề cho học sinh tìm hiểu và giúp học sinh tiếp nhận bài học một cách tích cực. Như vậy, tác giả Nguyễn Trọng Hoàn đã đưa ra một số giải pháp mang tính định hướng cho công việc dạy học tác phẩm văn chương. Nhưng tác giả chủ yếu đi vào nghiên cứu năng lực liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương nói chung. Đề cập tới ngôn ngữ thơ hiện đại Việt Nam, các tác giả Nguyễn Phan Cảnh, Hữu Đạt, Mã Giang Lân, Vũ Quần Phương… đã chú ý tới sự đổi mới ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại. Trong cuốn Ngôn ngữ thơ, Nguyễn Phan 13 Cảnh đã dành mục cuối cho “Sự khai thác về mặt tổ chức ngôn ngữ của thơ hiện đại”. Bên cạnh đó còn có một số luận văn, khóa luận nghiên cứu về phương pháp dạy học thơ trữ tình trong nhà trường phổ thông như: Lê Thị Thúy Huân với đề tài: “Giảng dạy Thơ mới (1930-1945) trong trường Trung học phổ thông”, Nguyễn Thị Lượm với đề tài “Phương pháp giảng dạy thơ mới từ góc độ thi pháp”, Nguyễn Thị Na với đề tài “Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới ở lớp 11, ban cơ bản, trung học phổ thông”, Hồ Thu Quyên với đề tài “Phương pháp dạy học Thơ mới cho học sinh trung học phổ thông từ góc độ đặc trưng thể loại”, Vũ Thị Thanh Tuyền với đề tài “Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường trung học phổ thông”, Lê Thị Dung với đề tài “Giảng bình trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình ở nhà trường phổ thông”…. Trên đây là những tài liệu đã đặt nền móng cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi. Tuy nhiên, các tài liệu trên mới chỉ là những gợi dẫn còn nặng về lý thuyết mà chưa đề cập cụ thể đến rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 THPT. Trân trọng, kế thừa các tư tưởng đi trước, vận dụng linh hoạt phương pháp, biện pháp dạy học, chúng tôi tiến hành thực hiện luận văn này mong muốn tìm ra các biện pháp hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng dạy học thơ trữ tình ở THPT và hiện thực hóa một trong những nhiệm vụ của giáo dục: Dạy cho học sinh biết tự học suốt đời. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu - Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học thơ trữ tình, đặc biệt là dạy học các tác phẩm văn chương của Xuân Diệu và Huy Cận ở lớp 11 THPT để xác định các biện pháp rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng cho học sinh. 14 - Góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy và học văn nói chung và rèn năng lực cảm thụ, năng lực tiếp nhận văn học trong dạy học thơ trữ tình nói riêng. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý thuyết có liên quan làm cơ sở cho những nghiên cứu về việc rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng. - Đề xuất một số biện pháp rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 THPT. - Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu - Điều tra dạy học thực nghiệm một số lớp 11 của trường THPT Kinh Môn II và trường THPT Kinh Môn. Cả hai trường đề nằm trên địa bàn huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Để tiếp nhận văn học và cảm thụ văn học, người học sinh phải rèn rất nhiều kỹ năng. Luận văn này tập trung vào việc rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 THPT, cụ thể là vận dụng các biện pháp rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học một số tác phẩm thơ trữ tình tiêu biểu như Vội vàng của Xuân Diệu, Tràng giang của Huy Cận. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu 5.1. Nhóm phương pháp phân tích , tổng hợp Chúng tôi dùng nhóm phương pháp này để phân tích, tổng hợp, thu thập thông tin khoa học từ các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, nhằm rút ra các cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu. 15 5.2. Nhóm phương pháp điều tra, khảo sát Nhóm phương pháp này dùng để điều tra, khảo sát thực trạng dạy học văn nói chung và giảng dạy các tác phẩm thơ trữ tình ở lớp 11 nói riêng. 5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Chúng tôi tổ chức giờ học thực nghiệm và đối chứng nhằm khẳng định tính khả thi và hiệu quả thực tế của các biện pháp do luận văn đề xuất. 5.4. Phương pháp thống kê Phương pháp này được dùng để khảo sát, phân loại, đánh giá kết quả thu được, xử lý các thông tin nhằm đối chiếu, kiểm chứng. 6. Dự kiến đóng góp của luận văn 6.1. Về lý luận - Góp phần hệ thống hoá lý luận về dạy học văn THPT nói chung và và dạy học thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn 11 nói riêng. - Góp thêm cơ sở khoa học cho việc đổi mới phương pháp dạy và học văn THPT. 6.2. Về thực tiễn - Đề xuất các cách thức rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình lớp 11cho học sinh THPT. Luận văn đưa ra một số thiết kế cụ thể cho một số văn bản được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 11, giúp giáo viên tham khảo và vận dụng trong giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn. 7. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 03 chương: Chương 1: Những tiền đề lý luận về rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 trung học phổ thông. Chương 2: Thực tiễn dạy học và những biện pháp rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng cho học sinh trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11trung học phổ thông Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 16 CHƢƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ RÈN KỸ NĂNG TRI GIÁC NGÔN NGỮ, TÁI HIỆN HÌNH TƢỢNG TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH Ở LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1. Khái niệm về kỹ năng Theo từ điển Tiếng Việt, kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế. Trong tâm lí học, kỹ năng được nghiên cứu nhiều, song chưa thống nhất, có hai hướng quan niệm cơ bản sau: Hướng thứ nhất : Coi kỹ năng như phương thức, cách thức hành động, được con người nắm vững, là khả năng con người thực hiện hành động một cách có kết quả .(V.S.Kudin, V.A.Krutetxki, A.G.Covaliôv, N.A.Rưcôv, Đại bách khoa toàn thư Liên Xô). Hướng thứ hai : Chú ý đến mặt kĩ thuật của hành động và đề cao kết quả cuối cùng của hành động. Nhóm tác giả này cho rằng: Kỹ năng là khả năng của con người tiến hành một cách có kết quả mục đích hành động đã được tự giác trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau ( N.D.Levitôv, K.K.Platonôv, E.A.Milerian, G.G.Colubev,…) Có nhiều quan điểm về vấn đề này, chúng tôi chấp nhận cho rằng kỹ năng như là phương thức, cách thức hành động được con người nắm vững, là khả năng con người thực hiện hành động một cách có kết quả. Kỹ năng là sự vận động tri thức vào hoạt động thực tiễn để giải quyết một nhiệm vụ nào đó, là năng lực hành động để đạt kết quả với mục đích đã đề ra. Do đó, muốn có kỹ năng trước hết ta phải có tri thức về lĩnh vực đó và trực tiếp thực hiện các thao tác, các hành động và phải luyện tập nhiều lần để đạt kết quả như mong muốn. 17 1.2. Ngôn ngữ nghệ thuật và hình tƣợng nghệ thuật trong tác phẩm văn chƣơng 1.2.1. Ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật và đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu thực hiện các chức năng nhận thức và giao tiếp trong quá tình hoạt động của con người. Nhờ có ngôn ngữ, con người có thể truyền đạt cho nhau những tư tưởng, tình cảm… của mình. Ngôn ngữ có hai dạng: ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nghệ thuật. Ngôn ngữ tự nhiên (ngôn ngữ phi nghệ thuật) có bản chất tín hiệu. Một tín hiệu bao giờ cũng có hai mặt: mặt biểu đạt và mặt được biểu đạt. Hai mặt này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhờ vậy, một tín hiệu có thể biểu thị nhiều nội dung, nhiều tín hiệu biểu thị một nội dung, nội dung mỗi tín hiệu vừa chứa đựng hiện thực được phản ánh, vừa gợi ra tình cảm, cảm xúc, cách đánh giá sự vật, hiện tượng… Ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ) được cấu tạo nên từ hệ thống ngôn ngữ tự nhiên nhưng được tổ chức, cấu tạo lại chức năng thẩm mỹ trong toàn bộ cấu trúc tác phẩm và trong quan hệ với những nhân tố của hoạt động sáng tác, tiếp nhận văn chương. Chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật được thể hiện ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ trở thành yếu tố tạo thành của hình tượng. Muốn vậy, ngôn ngữ nghệ thuật phải có những đặc trưng chung. Đi tìm đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật có nhiều quan điểm, tiêu chí đánh giá. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi dựa vào hai quan điểm cơ bản nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật đã được chấp nhận ở trường phổ thông: hướng tiếp cận ngôn ngữ học và hướng tiếp cận lý luận văn học. Đó là quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu, Đinh Trọng Lạc và Trần Đình Sử. Tổng hợp các quan điểm trên, chúng tôi lựa ra các đặc trưng của ngôn ngữ nghệ 18 thuật chi phối tới việc rèn luyện năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng cho học sinh THPT. Tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật. Tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật là tính chất theo đó các yếu tố ngôn ngữ trong một tác phẩm nghệ thuật phải gắn bó qua lại với nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ chung, phải phù hợp với nhau, giải thích cho nhau để đạt tới một hiệu quả diễn đạt chung. Tất cả các yếu tố với mối quan hệ như thế làm cho văn bản trở thành “một bản hòa tấu, có một tổng hợp lực mạnh mẽ, tác động tới người tiếp nhận văn bản” [22, tr.30]. Vì thế, chỉ cần bỏ đi một từ thay bằng một từ khác là đủ làm hỏng một câu thơ, phá tan cái nhạc điệu của nó, xóa sạch mối quan hệ của nó với hoàn cảnh xung quanh. Tính cấu trúc cho thấy một yếu tố ngôn ngữ không thể sống đơn độc; ý nghĩa thẩm mỹ của nó chỉ có được khi nằm trong tác phẩm. Tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật chi phối đến nhiệm vụ dạy học thơ trữ tình ở phổ thông. Học sinh muốn tri giác và tái hiện hình tượng tốt trước hết phải thuộc thơ chính xác, giải mã từ, tái hiện hình tượng phải đặt trong văn cảnh cụ thể. Tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật còn đặt ra vấn đề phạm trù “hình tượng tác giả”. Đó là những quan điểm nghệ thuật, lập trường tư tưởng được thể hiện trong tác phẩm. Người đọc nắm vững quan điểm nghệ thuật, lập trường tư tưởng ấy sẽ hỗ trợ cho việc tri giác ngôn ngữ diễn ra nhanh hơn. Để hiểu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, chúng ta phải hiểu được phong cách độc đáo của nhà thơ họ Hàn. Hàn Mặc Tử là một trong những đại biểu xuất sắc nhất của thơ ca lãng mạn. Hàn Mặc tử là người có cuộc đời thơ không dài nhưng để lại một sự nghiệp thơ ca lớn lao và có giá trị. Thơ ca của ông là một thế giới tâm linh tinh khiết mà người đọc phải nâng hồn mình lên đến mức cao sang thánh thiện mới tiếp cận được vẻ đẹp của nó. Vì thế, ngay từ năm 1940, Chế Lan Viên đã tiên đoán: “Còn lại của cái thời kì này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử”. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là sự chứng minh cho 19 lời tiên đoán của Chế Lan Viên. Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ xuất sắc của Hàn Mặc Tử, cũng là bài thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ Mới. Chỉ đúng 12 câu, bài thơ đã mang đến cho người đọc những hình ảnh tươi mới về cảnh và người xứ Huế, đẹp và rất thơ mộng. Bài thơ thể hiện khá tập trung thế giới tinh thần cao khiết và phong cách độc đáo của Hàn Mặc Tử: giàu cảm xúc, giàu liên tưởng, tưởng tượng, có sự hòa quyện giữa thực và ảo. Tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật. Tính hình tượng là thuộc tính của lời nói nghệ thuật truyền đạt không chỉ thông qua lôgic mà còn cả thông tin được tri giác một cách cảm tính nhờ hệ thống những ngôn từ hình tượng. Ở cấp độ từ ngữ, một từ trong tác phẩm nghệ thuật có hai bình diện theo khuynh hướng nghĩa của mình: Nó vừa có một nét nghĩa của ngôn ngữ tự nhiên, vừa mang nét nghĩa văn cảnh (nghĩa của ngôn từ nghệ thuật). Có thể nói, bất kì một từ nào của ngôn ngữ phi nghệ thuật trong điều kiện một ngữ cảnh nhất định đều có thể chuyển thành từ thi ca nếu có thêm một nghĩa hình tượng nào đó. Tuy vậy, trong văn bản nghệ thuật không phải từ nào cũng là từ thi ca. Vẫn có những từ có giá trị về mặt giao tiếp mà không hoặc ít có giá trị về mặt nghệ thuật. Vì thế, dạy học thơ trữ tình đòi hỏi cần tri giác đúng từ nghệ thuật mang nghĩa tạo hình để dựng lại hình tượng nghệ thuật; tìm ra phần thông tin hình tượng ẩn dưới bề mặt ngôn từ và giá trị biểu hiện của nó. Chẳng hạn để hiểu, cảm từ tràng giang trong bài Tràng giang của Huy Cận, cần đặt từ đó trong ngữ cảnh để tìm được giá trị hàm ẩn của nó. Bài thơ bộc lộ nỗi sầu của một cái tôi cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, trong đó thấm đượm tình người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha. Từ láy “tràng giang” đã góp phần thể hiện cảm xúc ấy. Ở cấp độ văn bản, tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật còn thể hiện ở sự thống nhất giữa mặt tạo hình và mặt biểu đạt của văn bản. Trong quá trình tìm hiểu văn bản nghệ thuật phải đi từ mặt tạo hình đến mặt biểu đạt của ngôn từ. Coi nhẹ yếu tố tạo hình, việc phân tích tác phẩm sẽ mắc phải 20
- Xem thêm -