Tài liệu Quyền con người trong tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự - qua thực tiễn thành phố hải phòng

  • Số trang: 115 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 422 |
  • Lượt tải: 3
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TRƢƠNG NGỌC SƠN QUYÒN CON NG¦êI TRONG T¹M GI÷, T¹M GIAM Vµ THI HµNH ¸N H×NH Sù QUA THùC TIÔN THµNH PHè H¶I PHßNG Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật Mã số: 60 38 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu,ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Trƣơng Ngọc Sơn MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Danh mục các từ viết tắt MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ .......12 1.1. Khái niệm quyền con ngƣời của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam và thi hành hình phạt tù .................................................................. 12 1.1.1. Người bị tạm giữ, tạm giam và thi hành hình phạt tù ........................ 12 1.1.2. Cơ sở hình thành và phát triển quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù ........................................... 15 1.1.3. Đặc điểm và định nghĩa về quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình phạt tù .......................................... 22 1.2. Bảo đảm quyền con ngƣời của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù .................................................................... 27 1.2.1. Đảm bảo bằng pháp luật ..................................................................... 27 1.2.2. Đảm bảo việc thực thi pháp luật ........................................................ 38 1.2.3. Cơ chế kiểm soát việc thực thi pháp luật ........................................... 45 Chƣơng 2: CÁC TIÊU CHÍ QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ ........49 2.1. Hệ thống các văn bản pháp luật quốc tế về quyền của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù .......................... 49 2.1.1. Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc, 1948 ............................ 49 2.1.2. Các văn bản pháp luật quốc tế khác ................................................... 49 2.2. Các quyền của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù theo pháp luật Việt Nam theo tiêu chí quốc tế ........ 51 2.2.1. Quyền sống ......................................................................................... 51 2.2.2. Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử tàn bạo ......................... 53 2.2.3. Quyền được bảo vệ không bị bắt làm nô lệ hay bị hạ nhục ............... 53 2.2.4. Quyền được xét xử công bằng ........................................................... 55 2.2.5. Quyền được đối xử nhân đạo, tôn trọng phẩm giá của những người bị tước quyền tự do .................................................................. 56 2.2.6. Quyền được thừa nhận bình đẳng trước pháp luật ............................. 57 2.2.7. Quyền được hưởng an ninh ................................................................ 58 2.2.8. Quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống .................................. 59 2.2.9. Quyền về sức khỏe ............................................................................. 60 2.2.10. Quyền được giáo dục ......................................................................... 62 Chƣơng 3: THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƢỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ NGƢỜI CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ Ở VIỆT NAM........................................................................................ 64 3.1. Hệ thống các qui định của pháp luật .............................................. 64 3.1.1. Hiến pháp ........................................................................................... 64 3.1.2. Văn bản luật........................................................................................ 65 3.1.3. Văn bản dưới luật ............................................................................... 67 3.2. Thực tiễn việc bảo đảm quyền con ngƣời của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam, ngƣời chấp hành hình phạt tù ở Hải phòng ......... 68 3.2.1. Những bất cập trong việc thực hiện quyền con người khi bị tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự ..................................................... 68 3.2.2. Những vi phạm đối với quyền của người bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù thường gặp ....................................................... 74 3.3. Hoàn thiện pháp luật về quyền của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi các quyền đó ....................................................... 81 3.3.1. Những yêu cầu, đòi hỏi trong tình hình hiện nay............................... 81 3.3.2. Hoàn thiện các quy định pháp luật ..................................................... 88 3.3.3. Các giải pháp khác nâng cao đảm bảo về quyền con người ............ 100 KẾT LUẬN .................................................................................................. 106 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 107 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT - BLHS: Bộ luật hình sự; - BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự; - CAT: Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt và đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục khác, 1984 (Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment - CAT); - CEDAW: Công ước về xóa bỏ mọi phân biệt đối xử với phụ nữ, 1979 (Convention on the Elimination of all forms of Discrimination against women – CEDAW) - CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa; - ICCPR: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR); - ICESCR: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, 1966 (International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights - ICESCR); - MTTQ: Mật trận tổ quốc; - TAND: Tòa án nhân dân; - THAHS: Thi hành án hình sự; - TTHS: Tố tụng hình sự; - UDHR: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, 1948 ((Universal Declaration of Human Rights - UDHR); - UNCHR: Ủy ban quyền con người Liên hợp quốc (The United Nations Commission on Human Rights - UNCHR); - UNHRC: Hội đồng quyền con người Liên hợp quốc (The United Nations Human Rights Council - UNHRC); - (UN) HCR: Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn (The United Nations High Commissioner for Refugees); - VKS: Viện kiểm sát; - VKSND: Viện kiểm sát nhân dân. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nền văn minh của nhân loại tồn tại cho đến bây giờ suy đến cùng là vì con người và những giá trị cao đẹp nhất của con người. Lịch sử loài người đã trải qua bao thăng trầm từ thấp đến cao, từ sơ khai đến hiện đại là sự chắt lọc ngày càng thuần khiết những phẩm chất cao đẹp của con người. Con người tồn tại trong xã hội với những quyền căn bản của mình có sẵn trong tự nhiên hoặc được xã hội khẳng định, nhưng dù thế nào thì tiến trình của thời gian vẫn chứng minh rằng các quyền con người như những bức tường thành vững chắc ngày càng được nâng cao hơn. Các quốc gia và dân tộc trên thế giới đang chung tay xây dựng một nền văn hóa nhân quyền (human right culture) cho tất cả mọi con người trên trái đất. Để làm được điều đó trách nhiệm đầu tiên là thuộc về các nhà nước, nhưng sự đồng thuận của từng cá nhân cũng quan trọng không kém trong việc góp những giọt nước biển tạo nên đại dương bao la về quyền con người. Ngoài những quyền căn bản, con người khi tiến đến thế giới văn minh sẽ còn cần đến rất nhiều những quyền năng khác nữa. Song trên thế giới hiện nay những quyền căn bản của con người như quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc… vẫn chưa được khẳng định hoặc bị xâm hại một cách vô lý. Một số quốc gia vẫn chưa bảo vệ con người ngay cả đối với những quyền con người tối thiểu. Họ vẫn có thể bị bắt giữ vô cớ, bị đánh đập, bị nô dịch như những nô lệ mà không được coi là con người. Đôi khi họ bị xét xử không công bằng hoặc thiếu bình đẳng. Những thiết chế của Nhà nước không đủ mạnh để bảo vệ cho con người. Tìm hiểu về quyền con người trong góc độ này chúng ta sẽ nhìn nhận ra những nhu cầu thiết yếu nhất của con người, những giá trị chung nhất về quyền con người mà chúng ta cần bảo vệ. 1 Luận văn này chỉ là một nghiên cứu dưới góc độ cá nhân về vấn đề trên đối với quyền con người đang bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù trong lĩnh vực thi hành án hình sự tại nhà tạm giữ, trại giam và trại tạm giam. Có nhiều tài liệu về vấn đề này nhưng trong khuôn khổ tài liệu có hạn và sự tiếp cận còn hạn chế, tác giả không thể trình bày hết được các nội dung về vấn đề trên. Rất mong những ý kiến hữu ích đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Với cách nhìn nhận ngày càng sâu về quyền con người trong thế giới hiện đại vì tầm quan trọng của vấn đề, hiện nay ở Việt Nam cũng như quốc tế có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể như: “Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực Asean” do trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân trực thuộc khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội phát hành đã đề cập tới quyền của con người dưới góc nhìn của khu vực. Cuốn sách giới thiệu và phân tích khái quát thực tiễn nhân quyền tại các quốc gia trong khu vực, sự hình thành chuẩn mực, các cơ chế khu vực bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, cũng như vai trò chủ thể khác nhau ở Asean (nhà nước, tổ chức phi chính phủ, cơ sở giáo dục, nghiên cứu…) “Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự”: do trung tâm nghiên cứu quyền con người – quyền công dân và trung tâm nghiên cứu tội phạm học và tư pháp hình sự trực thuộc khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội phát hành. Tố tụng hình sự là hoạt động trực tiếp nhất liên quan đến một bộ phận quan trọng của nhóm người bị hạn chế, bị tước tự do. Đó là những người bị tạm giữ, tạm giam hay đang phải chấp hành hình phạt tù. Tài liệu đã khái quát những tiêu chuẩn pháp lý về quyền con người trong các hoạt động tố tụng hình sự. Từ đó nhằm hướng dẫn, cung cấp những công cụ hữu hiệu cho việc bào chữa tại các tòa án hình sự địa phương. Đặc biệt, nó được viết ra 2 để hỗ trợ cho các luật sư hoặc thành viên của nhóm luật sư biện hộ các vụ án hình sự, nâng cao kiến thức và hiểu biết nhằm áp dụng hiệu quả luật quốc tế tại các tòa án địa phương. Từ góc độ đó, cuốn sách đề cập đến những khả năng áp dụng luật quốc tế như là một lập luận riêng biệt, và nếu có thể, như là một ý bổ sung nhằm củng cố sức thuyết phục của các lập luận. Quyền bào chữa là một trong số các quyền quan trọng của những người đang bị giam, giữ. Bởi lẽ nó đảm bảo cho các vụ án được xét xử công bằng và quyền của những người này sẽ được đảm bảo tốt nhất. Vì vậy cuốn sách đã góp một phần quan trọng trong những nỗ lực nhằm đảm bảo tốt hơn quyền của nhóm người bị bị giam, giữ nói chung và nhóm người dễ bị tổn thương nói riêng trong lĩnh vực tư pháp hình sự. “Hỏi đáp về quyền con người” của trung tâm nghiên cứu quyền con người – quyền công dân thuộc khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội phát hành nhằm giúp người đọc dễ dàng tiếp cận với những nội dung cốt lõi của vấn đề nhân quyền. Những thông tin ngắn gọn, súc tích, được chia thành các mục chuyên biệt với cả vấn đề lý luận, pháp lý về nhân quyền ở tầm quốc tế và Việt Nam. Sách đã cung cấp cho người đọc sự hiểu biết hệ thống nhưng dễ hiểu và dễ tiếp thu về quyền con người. “Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam” Chủ biên PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí - Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, 2014 trong đó với tinh thần đổi mới theo Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp, cũng như sự phát triển của khoa học pháp lý tố tụng hình sự những năm gần đây, nhất là vấn đề đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự. Các tác giả đã nhận thức rõ tầm quan trọng của việc đảm bảo quyền con người và đưa vấn đề này vào từng chương và dành hẳn một chương đề cập đến những vấn đề có tính khái quát về quyền con người, đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự. Giáo trình có phạm vi rộng, phong phú, kết cấu hợp lý hơn các giáo trình trước đó. 3 “Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người” – đề tài nghiên cứu khoa học, chủ trì Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Chí – Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội; Hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ở Việt Nam những năm qua đạt được những kết quả khả quan. Tuy vậy vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế. Vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học này đã nghiên cứu, tiếp thu những quan điểm và nhất là các tiêu chí về quyền con người trong các văn bản pháp luật quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Trên cơ sở đó nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền con người trong tố tung hình sự. Đề tài này đã làm rõ những quan điểm khoa học về quyền con người trong tố tụng hình sự và những tiêu chí quốc tế về nhân quyền; Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật về việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự đồng thời chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của nó đối với việc bảo vệ quyền con người trong quá trình giải quyết vụ án; Đề tài cũng đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự. Khía cạnh mà đề tài này đề cập đến là các quyền con người nói chung trong hoạt động tố tụng hình sự. Tuy nhiên, trong hoạt động tố tụng hình sự, các quyền con người được đề cập đến phần lớn là các quyền của những người bị tước tự do trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bên cạnh những người bị tước tự do, đề tài này cũng phản ánh đến quyền của những người tham gia tố tụng hình sự mà không bị tước tự do như là các bị can, bị cáo (trong nhiều trường hợp họ không bị tước tự do). Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam – Luận án của nghiên cứu sinh Lại Văn Trình, chuyên ngành hình sự, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2011. Luận án đã làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về quyền con người và đảm bảo quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự; hệ thống hóa được các biện pháp đảm bảo; làm rõ được các đặc điểm chung và 4 những đòi hỏi đặc thù trong việc đảm bảo quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các giai đoạn tố tụng khác nhau. Luận án đã phân tích tìm ra các hạn chế, bất cập trong vấn đề này và nguyên nhân để tìm ra giải pháp kiến nghị, sửa đổi bổ sung BLTTHS theo hướng tích cực hơn nhằm bảo vệ tốt hơn cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Ngoài ra còn một số bài viết, cuốn sách của các học giả khác có đề cập đến vấn đề này. Các công trình nghiên cứu trên cho thấy, việc nghiên cứu về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù ở Việt Nam trong những năm qua đã được quan tâm và đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên cần có một cái nhìn tổng quát hơn về những người bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù, đặc biệt là dưới góc độ của luật nhân quyền quốc tế. Trong xu thế toàn cầu hóa với các vấn đề về quyền con người trở thành điều toàn nhân loại đang hướng tới. Luận văn này cung cấp một cái nhìn thực tế để vận dụng những quy định của pháp luật cả trong nước và quốc tế về quyền con người đối với người bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù một cách hiệu quả và thiết thực, tránh được chủ nghĩa giáo điều. Đông thời bổ sung những nghiên cứu về quyền con người khi họ bị hạn chế tự do, tước tự do, từ đó nâng cao ý thức trước hết là của các chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thực thi các quyền con người cũng như trang bị cho những người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù nhận thức trong việc thụ hưởng các quyền của mình. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu về cơ sở hình thành các quyền của người bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành hình phạt tù, thực trạng và các quyền của họ; các đặc điểm của quyền con người trong khi bị giam, giữ để khái quát thành cơ sở lý luận. 5 Tìm ra các phương diện đảm bảo cho quyền của ngời bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành án phạt tù đi sâu phân tích những ưu, khuyết điểm và sự tiếp cận lý luận vào thực tiễn. Đối chiếu các quy định theo tiêu chuẩn quốc tế, các quy định của pháp luật quốc gia và làm rõ các quyền cụ thể, cơ bản của con người khi họ bị bắt, giam giữ trong thực tế và những nguyên nhân các hạn chế, bất cập so với yêu cầu, đòi hỏi trong tình hình hiện nay. Từ những vấn đề đã được nhìn nhận nêu những giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm của pháp luật, của việc tổ chức thực thi pháp luật và cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật nhằm đảm bảo quyền con người cho những người bị giam, giữ. Xây dựng nền văn hóa nhân quyền trong xã hội nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng; thúc đẩy sự phát triển bảo vệ các giá trị và hướng tới mở rộng quyền con người trong khi bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành án phạt tù. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận chung về người bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù. Việc đảm bảo thực hiện những quy định của pháp luật về quyền của những người bị hạn chế tự do, bị tước tự do. Nghiên cứu quy định pháp luật của quốc tế trên cơ sở so sánh, đối chiếu với pháp luật của Việt Nam về đảm bảo quyền của những người bị giam, giữ. Đánh giá thực trạng việc thực thi pháp luật giam, giữ tại các nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam; Bảo đảm quyền của người bị hạn chế tự do, bị tước tự do ở Việt Nam; Những ưu, khuyết điểm của vấn đề này. Từ các nghiên cứu trên đưa ra những vấn đề cần hoàn thiện sự bất cập của pháp luật Việt Nam với một số giải pháp nhằm tăng cường các quyền, giá trị cơ bản của con người khi bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù, đảm bảo quyền của họ được thi hành trong thực tế. 6 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng Luận văn tập trung nghiên cứu về quyền con người bị hạn chế tự do, bị tước tự do xem xét trên bình diện các quy định của pháp luật nhân quyền quốc tế cũng như các quy định của pháp luật quốc gia về vấn đề này. Người bị hạn chế tự do, bị tước tự do trong lĩnh vực tư pháp hình sự bao gồm: tù nhân (phạm nhân đang chấp hành án hình phạt tù); người bị tạm giữ, tạm giam. Các giá trị, các quyền con người được đưa ra xem xét là những giá trị cơ bản nhất đối với họ. Đồng thời cũng xem xét sự đảm bảo của mỗi quốc gia và của quốc tế khi thực hiện quyền con người với người bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Tên của đề tài luận văn là quyền của người bị tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự. Tuy nhiên góc độ quyền của người bị thi hành án hình sự rất rộng bao gồm tất cả những quyền của người: chấp hành hình phạt tù, người bị xử phạt án treo, cải tạo không giam giữ, cảnh cáo, quản chế, cấm cư trú… Trong những người này thì người đang chấp hành hình phạt tù là người bị tước tự do nhiều nhất và họ bị cách ly khỏi xã hội giống như những người bị tạm giữ, tạm giam. Chính vì vậy luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu đối với những người bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù dưới góc độ quy định pháp lý và thực tiễn trên phạm vi quốc tế và tình hình cụ thể ở Việt Nam. Nghiên cứu dưới góc độ pháp lý: Xem xét các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia quy định về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành hình phạt tù. Những quy định pháp lý trước hết xuất phát từ các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền nói chung, quyền của những người này nói riêng cũng như các cơ chế để bảo đảm các quyền đó. Đối chiếu, 7 so sánh với các quy định của pháp luật quốc gia với các chuẩn mực quốc tế: Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền UDHR; Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị - 1996 ICCPR; Công ước về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa - 1996 ICESCR; Những nguyên tắc cơ bản về đối xử với tù nhân 1990; Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào - 1988;… Các quy định pháp luật quốc gia phải kể đến như Hiến pháp - 2013; Bộ luật hình sự - 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Bộ luật tố tụng hình sự - 2003; Luật thi hành án hình sự - 2010… và các văn bản pháp lý liên quan. Nghiên cứu trong phạm vi thực tiễn: luận văn phân tích trước hết là thực trạng tình hình quyền con người trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam tại Việt Nam thông qua địa bàn thành phố Hải Phòng. Các phân tích, đánh giá những quy định nào phù hợp, quy định nào vẫn còn bất cập cần phải xem xét so với pháp luật quốc gia cũng như tiêu chuẩn về nhân quyền của pháp luật quốc tế. Từ đó đánh giá tính đúng đắn, mức độ phù hợp của các quy định pháp luật Việt Nam với các tiêu chuẩn pháp lý về nhân quyền. Đánh giá việc bảo đảm quyền cho những người bị tạm giữ, tạm giam, người bị tù giam trên thực tế. Trên cơ sở đó có những phân tích để hoàn thiện các quy định và những căn cứ thực tế để thực thi các quy định đó một cách hiệu quả nhất. 5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu Phương pháp luận của luận văn dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật nói chung, các khái niệm, đặc điểm về bảo đảm quyền con người nói riêng. Căn cứ vào các nguyên tắc, tiêu chí nền tảng theo quy định trong Luật nhân quyền quốc tế. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp diễn dịch: đi 8 từ cái chung nhất đến cái riêng; Xâu chuỗi các sự việc trong phương pháp hệ thống; Gạt bỏ những cái đơn lẻ, ngẫu nhiên để đi tìm cái chung, cái bản chất theo phương pháp trừu tượng; So sánh giữa các khu vực, giữa lý thuyết và thực tế theo phương pháp so sánh… 6. Kết quả nghiên cứu luận văn - Khái quát về người bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành hình phạt tù trong mối liên hệ giữa luật nhân quyền quốc tế và pháp luật quốc gia của Việt Nam đối với những người này. Việc tiếp cận dựa trên cơ sở hình thành của lịch sử về quyền con người, luận văn khẳng định các quyền con người được sinh ra là tự nhiên, bẩm sinh và Nhà nước ghi nhận lại, bảo đảm thực hiện trong các điều kiện, hoàn cảnh từng quốc gia. Các quyền đó được bảo đảm thực hiện trên cơ sở pháp luật quy định và những cơ chế thực thi. - Đánh giá tầm quan trọng, ý nghĩa của việc bảo đảm các quyền của người bị tạm giữ, tạm giam. Họ là người chưa bị tòa án kết tội nên họ chưa phải là tội phạm và họ được hưởng tất cả các quyền trên cương vị không phải là người có tội. Bên cạnh đó những người đang chấp hành hình phạt tù cũng được hưởng các quyền cơ bản, quyền đặc thù của tù nhân. Đảm bảo mạng sống, nhân phẩm, danh dự là điều tất yếu. Trên cơ sở đánh giá chính xác những điều này sẽ thúc đẩy sự xây dựng, bảo vệ, phát triển giá trị quyền con người; đảm bảo cho các quyền đó được thực thi và mở rộng những quyền đó. - Xây dựng nền văn hóa nhân quyền trong xã hội nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, góp phần thay đổi cách nhìn của xã hội. Khi thực hiện các quyền này những cá nhân, tổ chức, cơ quan Nhà nước phải thận trọng và phải đảm bảo các quyền này một cách đầy đủ nhất. - Luận văn nêu lên thực tại những thành tựu, hạn chế trong việc bảo đảm các quyền cho người bị hạn chế tự do, bị tước tự do ở Việt Nam nói 9 chung, tại thành phố Hải Phòng nói riêng, so sánh với các tiêu chí quốc tế đối với tù nhân và các quy định trong pháp luật quốc gia trong việc đảm bảo các điều kiện ăn, mặc, ở; lao động, học tập; quyền không bị tra tấn; không bị bắt, giam một cách tùy tiện… - Từ những vấn đề trên, luận văn phân tích tìm ra nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả đảm bảo các quyền cho người bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm ba chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam và thi hành hình phạt tù. Trong chương này, tác giả nêu lên cơ sở hình thành, các vấn đề lý luận về người bị tạm giữ, tạm giam và thi hành hình phạt tù và đưa ra định nghĩa về những người này. Việc hạn chế tự do, tước tự do không bao gồm tước bỏ toàn bộ các quyền tự do của con người mà chỉ bị giới hạn một số quyền tự do nhất định để đảm bảo cho các cơ quan chức năng thực hiện tốt công việc và cũng là để bảo vệ quyền con người. Bên cạnh đó tác giả phân tích các đặc điểm của quyền con người nói chung và của những người bị hạn chế quyền tự do, tước quyền tự do nói riêng cũng như các khía cạnh đảm bảo quyền con người của người bị giam giữ không bị xâm phạm. Chương 2: Các tiêu chí quốc tế về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù. Trong chương này, tác giả đưa ra các tiêu chí của pháp luật quốc tế về quyền con người nói chung cũng như quyền của người bị tạm giữ, tạm giam 10 và chấp hành hình phạt tù nói riêng. Trong đó tập trung làm rõ các quyền cụ thể của người bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù. Phân tích những quyền cơ bản của nhóm người này. Chương 3: Thực trạng và các giải pháp đảm bảo quyền của người bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù ở Việt Nam. Trong chương cuối, tác giả đề cập tới các quy định của pháp luật Việt Nam cũng như thực trạng về quyền con người tại các Nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam ở Việt Nam thông qua thực tiễn trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Từ những tồn tại, bất cập đó và trước những yêu cầu thực tại tác giả chỉ rõ các công việc cần hoàn thiện để đảm bảo quyền con người trong khi họ bị giam giữ, đồng thời đưa ra các giải pháp khắc phục đảm bảo thực thi cũng như nâng cao nhận thức của công đồng đối với vấn đề này. 11 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ 1.1. Khái niệm quyền con ngƣời của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam và thi hành hình phạt tù 1.1.1. Người bị tạm giữ, tạm giam và thi hành hình phạt tù Người bị tạm giữ, tạm giam và thi hành hình phạt tù là những người bị hạn chế, tước bỏ quyền tự do vĩnh viễn (chung thân) hoặc trong một khoảng thời gian nhất định (tù có thời hạn, tạm giữ, tạm giam) trên cơ sở và trong khuôn khổ của pháp luật quốc tế hoặc quốc gia. Mặc dù bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hình sự, nhưng những người này vẫn được tôn trọng và bảo đảm quyền con người theo qui định của pháp luật. Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền - 1948 Tại Điều 9 ghi nhận: “Không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện” [8, tr.229]. Giải thích và cụ thể hóa nguyên tắc này, Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị quy định: “Mọi người có quyền tự do và an toàn cá nhân. Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ. Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đố là có lý do và theo đúng thủ tục luật pháp đã quy định” [8, tr.232]. Như vậy, theo qui định của luật nhân quyền quốc tế thì “Mọi người có quyền tự do và an toàn cá nhân”, họ không bị bắt giữ, bỏ tù một cách tùy tiện, mà không theo qui định của pháp luật. Bình luận về nội dung này “Nghiên cứu về quyền của mỗi người được bảo vệ khỏi hành vi bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện” - Ấn phẩm của Liên hợp quốc số 65.XIV.2 - 1965, đã đưa cách giải thích về “sự tùy tiện” như sau: “Việc bắt hay giam giữ được xem là tùy tiện nếu trên cơ sở hay theo thủ tục không được quy định trong pháp luật, hay theo quy định của pháp luật thì mục đích của việc bắt và giam giữ này là không phù hợp với việc tôn trọng tự do và an ninh cá nhân” [8, tr. 233]. 12 Trong pháp luật quốc tế người bị tạm giữ, tạm giam hay người chấp hành hình phạt tù thường được gọi chung với một khái niệm chỉ người bị bắt, người bị giam, giữ. Đối với người bị tạm giữ, tạm giam thi Quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 1998 của Chính phủ định nghĩa về người bị tạm giữ, tạm giam như sau: 1. Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang và đối với họ đã có Lệnh tạm giữ. 2. Người bị tạm giam là bị can, bị cáo, người bị kết án tù hoặc tử hình bị bắt để tạm giam và đối với họ đã có Lệnh tạm giam [4, Điều 2]. Ngoài ra người bị bắt theo lệnh truy nã, người phạm tội đầu thú, tự thú khi bị bắt và có lệnh tạm giữ thì cũng được gọi là người bị tạm giữ. Theo pháp luật Việt Nam thì tạm giữ là một hoạt động trong tố tụng hình sự liên quan trực tiếp đến lợi ích của các công dân, quyền tự do thân thể, đây là chế tài hạn chế một số quyền cơ bản của con người nên cần rất thận trọng khi thực hiện biện pháp chế tài này. Để tránh việc lạm dụng bắt người trái pháp luật hay không có căn cứ cũng như đảm bảo tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm và những quyền khác của công dân chưa bị pháp luật tước bỏ Bộ luật tố tụng hình sự quy định rất chặt, chẽ và nghiêm ngặt đối với những trường hợp bị tạm giữ. Việc tạm giữ chỉ là biện pháp ngăn chặn thật cần thiết để ngăn chặn tội phạm xảy ra cũng như đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử được đảm bảo đúng pháp luật, trật tự xã hội tránh oan, sai. Thẩm quyền tạm giữ theo Điều 81 BLTTHS gồm cơ quan điều tra, bộ đội biên phòng, kiểm lâm và một số cá nhân, cơ quan khác. Những trường hợp bị tạm giữ bao gồm: phạm tội quả tang, bị bắt khẩn cấp, bị truy nã, đầu thú hoặc tự thú. Người bị tạm giữ hình sự là người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn ngay tức khắc trong thời gian ngắn (tối đa là 9 ngày) được quy định trong Bộ 13 luật tố tụng hình sự được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành do nghi ngờ người đó thức hiện tội phạm (chưa khởi tố) hoặc dã bị khởi tố mà đang bỏ trốn (truy nã) nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật hình sự, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử. Tóm lại người bị tạm giữ là người bị hạn chế quyền tự do trong một khoảng thời gian nhất định do bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, khẩn cấp, truy nã, đầu thú hoặc tự thú.… Một người chỉ bị tạm giam sau khi đã bị khởi tố về mặt hình sự mà cụ thể là khởi tố bị can của cơ quan điều tra và được Viện kiểm sát phê chuẩn, có hiệu lực pháp luật. Biện pháp tạm giam thường được áp dụng rất hạn chế vì đây là một trong những biện pháp liên quan tới tự do thân thể của con người trong thời gian dài. Theo quy định của Điều 120 BLTTHS Việt Nam thì cơ quan điều tra có thể ra lệnh tạm giam ít nhất là 2 tháng (đối với tội ít nghiêm trọng) và tối đa là tới 16 tháng (đối với loại tội đặc biệt nghiêm trọng). Ngoài ra còn phải kể đến thời gian tạm giam để truy tố, tạm giam để chờ xét xử, tạm giam trong khi chờ bản án có hiệu lực và đưa đi chấp hành án. Điều 88 BLTTHS quy định tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp: - Phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng; - Phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Trường hợp là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (thông thường là biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú), trừ những trường hợp: 14
- Xem thêm -