Tài liệu Quy chế pháp lý về ủy ban bảo vệ môi trường nước theo các lưu vực sông luận văn ths. luật

  • Số trang: 88 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 48 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN HẢI HÀ AN QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ ỦY BAN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC THEO CÁC LƯU VỰC SÔNG Chuyên ngành: Luật kinh tế Mã số : 60 38 50 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội - 2010 1 MỤC LỤC Lời mở đầu Chƣơng 1. Bảo vệ môi trƣờng nƣớc và hiện trạng bảo vệ môi trƣờng nƣớc ở Việt Nam 1.1 Bảo vệ môi trƣờng nƣớc 1.1.1 Khái niệm 1.1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường nước 1.2 Hiện trạng bảo vệ môi trƣờng nƣớc ở Việt Nam hiện nay 1.2.1 Thực trạng môi trường nước 1.2.2 Các yếu tố tác động đến hoạt động bảo vệ môi trường nước 1.2.3 Các biện pháp bảo vệ môi trường nước 1.2.3.1 Biện pháp tổ chức – chính trị 1.2.3.2 Biện pháp kinh tế 1.2.3.3 Biện pháp khoa học – công nghệ 1.2.3.4 Biện pháp giáo dục 1.2.3.5 Biện pháp pháp luật 1.3 Pháp luật tài nguyên nƣớc và Uỷ ban bảo vệ môi trƣờng nƣớc theo lƣu vực sông 1.3.1 Pháp luật tài nguyên nước 1.3.2 Uỷ ban bảo vệ môi trường nước theo lưu vực sông 1.3.2.1 Khái niệm 1.3.2.2 Đánh giá tổng quan về các Uỷ ban bảo vệ môi trường nước theo lưu vực sông 1.4 Kinh nghiệm của các nƣớc trên thế giới 1.4.1 Mô hình quản lý lưu vực sông Murray- Darling (Australia) 1.4.2 Mô hình quản lý lưu vực sông Hoàng Hà (Trung Quốc) 1.4.3 Mô hình quản lý lưu vực sông của Pháp 1.4.4 Mô hình quản lý lưu vực sông Mekong 1 Trang Chƣơng 2. Một số vấn đề pháp lý về tổ chức, hoạt động của Ủy ban Bảo vệ môi trƣờng nƣớc theo lƣu vực sông ở Việt Nam hiện nay 2.1 Hiện trạng quy định pháp luật Việt Nam về Uỷ ban bảo vệ môi trƣờng nƣớc theo lƣu vực sông 2.1.1 Cơ sở pháp lý 2.1.2 Đánh giá hoạt động thực tiễn 2.2 Mục đích, yêu cầu đối với các Uỷ ban bảo vệ môi trƣờng theo lƣu vực sông 2.2.1 Về mặt quản lý 2.2.2 Về mặt kinh tế 2.2.3 Về mặt xã hội 2.3 Việc thành lập Uỷ ban bảo vệ môi trƣờng lƣu vực sông 2.4 Tổ chức, hoạt động của Uỷ ban bảo vệ môi trƣờng theo lƣu vực sông 2.4.1 Vai trò của Nhà nước, các doanh nghiệp và các tổ chức khác 2.4.2 Chức năng, nhiệm vụ 2.4.3 Cơ cấu tổ chức 2.4.3.1 Thành phần tham gia 2.4.3.2 Cơ quan giúp việc 2.4.4 Cơ chế hoạt động 2.4.5 Tài chính 2.5 Nhận xét, đánh giá, bình luận 2.5.1 Những kết quả đã đạt được 2.5.2 Những tồn tại cần khắc phục 2.5.2.1 Hoạt động trên thực tế của các Uỷ ban chưa hiệu quả 2.5.2.2 Sự phối hợp giữa các cơ quan Trung ương với địa phương, giữa các địa phương trong lưu vực sông còn yếu 2 2.5.2.3 Vấn đề tài chính 2.5.2.4 Nguồn nhân lực hạn chế và chưa chú trọng đúng mức đến vai trò và trách nhiệm của cộng đồng lưu vực sông Chƣơng 3. Kiến nghị và giải pháp 3.1 Về xây dựng, hoàn thiện chính sách pháp luật và thể chế 3.2 Xây dựng quy chế pháp lý 3.2.1 Xác định quyền, nghĩa vụ của Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác 3.2.2 Thành phần 3.2.3 Cơ chế hoạt động 3.2.4 Cơ chế tài chính: cần nguồn kinh phí ổn định lâu dài 3.3 Mô hình 3.3.1 Mô hình một cơ quan đầu mối 3.3.2 Nguyên tắc hoạt động 3.3.2.1 Độc lập 3.3.2.2 Có sự phân cấp phân quyền 3.3.2.3 Đảm bảo việc tiếp nhận và chia sẻ thông tin 3.3.2.4 Đảm bảo sự tham gia và giám sát của cộng đồng dân cư lưu vực sông 3.3.2.5 Nguyên tắc phối hợp giữa trung ương và địa phương 3.3.3 Chức năng, nhiệm vụ Kết luận Tài liệu tham khảo 3 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Số hiệu hình vẽ Tên hình vẽ 1.1 Sơ đồ giới thiệu tổng quát một lưu vực sông 2.1 Mô hình tổ chức các Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông ở Việt Nam hiện nay 3.1 Mô hình tổ chức quản lý lưu vực 4 Trang LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước là khởi nguồn của sự sống, là phần cấu thành quan trọng của tất cả mọi sinh vật cũng như con người trên thế giới. Hơn 70% diện tích của Trái đất được bao phủ bởi nước. Lượng nước trên trái đất vào khoảng 1,38 tỉ km3 nhưng đa số là nước mặn trong các đại dương trên thế giới, phần còn lại: 2,6% là nước ngọt, tồn tại chủ yếu dưới dạng băng tuyết đóng ở 2 cực và trên các ngọn núi, chỉ có 0,3% nước trên thế giới (xấp xỉ 3,6 triệu km3) là có thể sử dụng làm nước uống [56]. Theo Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 (Bộ Tài nguyên và Môi trường (BộTN&MT), 2005) Việt Nam có khoảng 2.372 con sông lớn nhỏ có chiều dài từ 10 km trở lên, trong đó có 109 sông chính. 9 con sông (sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang - Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, dông Vu Gia – Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai và sông Cửu Long) và 4 nhánh sông (sông Đà, sông Lô, sông Sê San, sông Serepok) đã tạo nên một vùng lưu vực trên 10.000 km2, chiếm khoảng 93% tổng diện tích của mạng lưới sông ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có rất nhiều các loại hồ tự nhiên và hàng ngàn các hồ đập nhân tạo với tổng sức chứa lên đến 26 tỷ m3 nước. Với sự ưu ái của thiên nhiên này giúp Việt Nam có nguồn cung cấp nước dồi dào (255 tỷ m3/năm) [47]. Nhờ trữ lượng nước dồi dào, hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt khiến Việt Nam có ưu thế rất lớn trong việc phát triển mạng lưới thuỷ điện, thuỷ lợi, giao thông đường thuỷ và nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên trên thực tế, nguồn nước có thể sử dụng ngay không phải là vô tận do sự phân bố không đồng đều. Hơn nữa, hàng loạt những hoạt động của con người, những yếu tố tác động cả khách quan và chủ quan đang ngày càng gia tăng áp lực đối với môi trường nước nói chung, tài nguyên nước nói riêng. Hệ luỵ tất yếu của sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, của sự gia tăng dân số đó là tình trạng ô 5 nhiễm nguồn nước nặng nề. Nước đang ngày càng cạn kiệt về số lượng, suy giảm về chất lượng. Việc quản lý nguồn tài nguyên nước tại Việt Nam đang gặp phải nhiều thách thức lớn. Điều đó đòi hỏi Việt Nam cũng như các nước trên thế giới cần phải tìm các phương thức thích hợp để bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước của mình; khai thác và sử dụng nước phải bảo đảm cả ba mục tiêu kinh tế, phát triển xã hội và sự toàn vẹn của môi trường. Trong những năm gần đây, quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam với cách tiếp cận quản lý tài nguyên nước tổng hợp và dựa trên lưu vực đã được đẩy mạnh; việc quản lý lưu vực sông trở thành một trong những nội dung chủ yếu của quản lý tài nguyên nước và các lưu vực sông đã được xem là cơ sở để lập quy hoạch và quản lý. Quản lý lưu vực sông là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều nước. Kể từ sau Hội nghị Dublin và Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển của thế giới họp tại Rio de Janero (Brazin,1992) phần lớn các nước trên thế giới đều áp dụng phương thức quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông. Đối với Việt Nam, thực hiện quản lý nước theo lưu vực sông là một xu thế và định hướng tất yếu. Tuy nhiên nó cũng là một vấn đề rất mới và việc thực hiện trong thực tế gặp rất nhiều khó khăn. Mặc dù vậy, việc tiếp cận kinh nghiệm của các nước trên thế giới và nghiên cứu vận dụng cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội lại là một lợi thế lớn cho Việt Nam. Việc thực hiện quản lý nước theo lưu vực sông luôn gắn với việc thành lập trên lưu vực một tổ chức có vai trò chủ yếu là điều hành tất cả các hoạt động có liên quan đến sử dụng nước và các yếu tố liên quan đến nước, bảo vệ môi trường lưu vực sông (gọi chung là tổ chức lưu vực sông). Nhằm đáp ứng các yêu cầu cần thiết của công tác quản lý lưu vực sông, ngày 01/12/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2008/NĐ-CP quy định các nguyên tắc quản lý, quy hoạch và tổ chức điều phối lưu vực sông. Bên cạnh đó, việc thành lập các Uỷ ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Đồng Nai đã đáp ứng phần nào các nhu cầu bức thiết của thực tế trong 6 việc quản lý tài nguyên nước nhằm phát triển bền vững, đảm bảo sự hài hoà giữa ba yếu tố: kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên, để các Uỷ ban bảo vệ môi trường theo lưu vực sông (Ủy ban lưu vực sông) hoạt động một cách có hiệu quả thì việc xây dựng một quy chế pháp lý về hoạt động của nó là vấn đề có ý nghĩa rất lớn đòi hỏi sự đầu tư nghiện cứu một cách thoả đáng. Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên tôi lựa chọn đề tài luận văn thạc sỹ của mình về “Quy chế pháp lý về Ủy ban bảo vệ môi trƣờng nƣớc theo các lƣu vực sông” với mong muốn góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật Việt Nam trong việc xây dựng các mô hình quản lý theo lưu vực sông cũng như quy chế pháp lý về các Uỷ ban bảo vệ môi trường nước. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý và cơ sở lý luận của việc quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông dựa trên cơ sở so sánh, đánh giá giữa các mô hình quản lý theo lưu vực sông trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Qua đó tác giả sẽ đưa ra những đánh giá, nhận xét về ưu điểm và những tồn tại cần khắc phục trong mô hình quản lý nước theo lưu vực sông ở Việt Nam (mà cụ thể là vai trò của các Uỷ ban lưu vực sông), từ đó đề xuất các giải pháp, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật trong việc xây dựng Quy chế pháp lý về tổ chức và hoạt động của các Uỷ ban này. 3. Tình hình nghiên cứu Phương thức quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông đã được các nước trên thế giới áp dụng một cách rộng rãi từ những năm cuối thế kỷ 20. Ở Việt Nam vài năm trở lại đây chúng ta mới thực sự chú trọng tới vấn đề này. Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và xây dựng các cơ chế, chính sách pháp luật nhằm thể chế hoá việc quản lý nước theo lưu vực sông cho phù hợp với điều kiện đặc trưng của Việt Nam. Một số bài báo và một vài công trình nghiên cứu về vấn đề này như: 7 - Nguyễn Văn Thắng (2004), Một số ý kiến về vấn đề thực hiện Quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – số 10/2004. - Lê Trung Tuân (2005), Quản lý tổng hợp lưu vực sông trên thế giới và những vấn đề cần nghiên cứu khi đề xuất mô hình quản lý lưu vực sông ở Việt Nam, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn-Kỳ 2, tháng 3/2005. - Đỗ Hồng Phấn, Lê Thạc Cán (2006), Quản lý Tổng hợp lưu vực sông ở Việt Nam nhằm phát triển bền vững, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường tháng 8/2006. - Nguyễn Biểu, Kinh nghiệm quản lý lưu vực sông trên thế giới khu vực và Việt Nam. - Ngô Trọng Thuận, Vấn đề quản lý tổng hợp lưu vực sông, Hội thảo khoa học lần thứ 9 - Viện Khí tượng thủy văn. - Các tham luận tại Hội thảo “Đối thoại: Quản lý lưu vực sông ở Việt Nam”, Núi Cốc – Thái Nguyên, tháng 8/2009. …….. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng ở mức độ các bài báo, tạp chí hay các tham luận trong các Hội thảo dưới các góc độ riêng lẻ mà chưa có đề tài nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phép biện chứng triết học Mác – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh để đánh giá các vấn đề. Bên cạnh đó, trên cơ sở tiếp cận kinh nghiệm của các nước trên thế giới kết hợp với việc nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Việt Nam tác giả đưa ra những nhận xét, kiến nghị nhằm xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam trong việc xây dựng quy chế Pháp lý về tổ chức, hoạt động của các Uỷ ban lưu vực sông. 5. Bố cục của luận văn 8 Ngoài phần Mục lục, Lời nói đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương1: Bảo vệ môi trường nước và hiện trạng bảo vệ môi trường nước ở Việt Nam. Chương 2: Một số vấn đề pháp lý về tổ chức, hoạt động của Ủy ban bảo vệ môi trường nước theo lưu vực sông ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Kết luận và Kiến nghị. 9 CHƢƠNG 1 BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG NƢỚC VÀ HIỆN TRẠNG BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG NƢỚC Ở VIỆT NAM 1.1 Bảo vệ môi trƣờng nƣớc 1.1.1 Khái niệm Khái niệm môi trường được sử dụng khá phổ biến và cũng có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau. Môi trường theo định nghĩa thông thường “là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy” [58]. Trang Wikipedia (Bách khoa toàn thư mở) lại đưa ra định nghĩa “Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế”[57]. Môi trường sử dụng trong lĩnh vực khoa học pháp lý là khái niệm được hiểu như mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu như là những yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người. Điều 1 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 định nghĩa môi trường “bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại,phát triển của con người và sinh vật”[1]. Môi trường được tạo thành bởi các thành phần cơ bản là các yếu tố vật chất như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thức vật chất khác. Có bốn loại môi trường cơ bản: môi trường đất, môi trường không khí, môi trường nước và môi trường sinh vật. Môi trường hiện nay đang có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là những yếu tố mang tính tự nhiên như nước, đất, không khí, hệ thực vật, hệ động vật. 10 Nghiên cứu và bảo vệ môi trường có ý nghĩa sống còn đối với mỗi quốc gia bởi vì sự phát triển của mỗi quốc gia chỉ có thể được bền vững, đảm bảo khi môi trường sống và thiên nhiên được bảo vệ tốt, duy trì mối cân bằng sinh thái, hạn chế sự ô nhiễm, có biện pháp khai thác, sử dụng phục hồi một cách hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường nước nói riêng là “hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học” [5]. 1.1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường nước Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước. Dưới góc độ pháp luật, nguồn nước là khái niệm chỉ các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác sử dụng được, bao gồm: sông, suối, kênh, rạch, biển, hồ, đầm, ao, các tầng nước dưới đất, mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác. Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tốc độ đô thị hóa khá nhanh và sự gia tăng dân số đã gây áp lực nặng nề khiến tài nguyên nước ngày càng có xu hướng cạn kiệt về số lượng và suy giảm về chất lượng. Nhu cầu về nước ngày càng tăng dẫn đến việc khai thác sử dụng tài nguyên nước ngày càng nhiều. Suy thoái, cạn kiệt nguồn nước mặt, nước ngầm; thiếu nước, khan hiếm nước ngày càng trở nên phổ biến hơn. Các yếu tố ảnh hưởng đến tài nguyên nước không chỉ là các yếu tố chủ quan (hoạt động sản xuất kinh doanh trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và du lịch, giải trí hay sinh hoạt của con người) mà còn là các yếu tố khách quan mang tính tự nhiên gây ô nhiễm, suy thoái nước như hiện tượng động đất, núi lửa phun, lũ lụt, sóng thần, hạn hán….Như vậy, bảo vệ tài nguyên nước dưới góc độ bảo vệ môi trường không chỉ nhằm giữ gìn trữ lượng, chất lượng các nguồn nước mà còn 11 phải nhằm phòng chống, khắc phục các hậu quả, tác hại do sự vận động bất thường của nước gây ra [55]. Việc bảo vệ môi trường cần được coi là trách nhiệm của từng cá nhân cũng như của cả cộng đồng. Do các hoạt động của mỗi cá nhân có thể ảnh hưởng trực tiếp (bảo vệ hoặc gây tổn hại) đến môi trường nên mỗi cá nhân đều có trách nhiệm thực hiện đúng những quy định của pháp luật, các quy tắc của cộng đồng để giữ gìn môi trường sống. Bên cạnh đó các cộng đồng cũng có vai trò rất lớn đối với việc bảo vệ môi trường đặc biệt là cộng đồng làng bản (xuất phát từ mối liên hệ mật thiết với môi trường với nhiều lợi ích ràng buộc). Ở cấp độ cộng đồng cao hơn (cấp độ địa phương, vùng) hay ở cấp độ quốc gia việc bảo vệ môi trường được thực hiện thông qua hoạt động quản lý của nhà nước. Ở cấp độ quốc tế hiện nay đã có rất nhiều các tổ chức được thành lập, các công ước quốc tế ra đời nhằm tìm tiếng nói chung giữa các dân tộc, quốc gia trong hoạt động bảo vệ môi trường. Tóm lại, trước thực tế nguồn nước đang bị suy thoái trầm trọng, xuất phát từ vai trò của tài nguyên nước đối với cuộc sống và môi trường đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách cần có những chính sách, biện pháp quản lý phù hợp trong việc bảo vệ môi trường nước – một nội dung quan trọng của công tác bảo vệ môi trường. 1.2 Hiện trạng bảo vệ môi trƣờng nƣớc ở Việt Nam hiện nay 1.2.1 Thực trạng môi trường nước Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu nước, cạnh tranh gay gắt về nước. Lượng nước bình quân đầu người ở Việt Nam khoảng 5000m3/năm. Trong tổng số nước được sử dụng thì hơn 70% phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Mặc dù có lượng mưa trung bình năm tương đối cao, nhưng lượng nước lại phân bố không đồng đều giữa các mùa, các vùng. Mùa khô nước ta kéo dài, lượng nước chủ yếu tập trung trong mùa mưa (chiếm 70 - 75%, trong đó có tháng đạt đến 20 – 30% lượng mưa cả năm gây ra lũ lụt nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất) dẫn đến hậu quả mùa khô rất nhiều 12 nơi xảy ra tình trạng thiếu nước [46.tr319]. Cạnh tranh giữa sử dụng nước cho thuỷ điện và các nhu cầu tiêu thụ nước khác, đặc biệt cho sản xuất nông nghiệp ở hạ lưu một số lưu vực sông lớn đã xảy ra trong những năm gần đây, nhất là vào mùa khô. Hơn nữa do nước ta có bờ biển dài nên nguồn nước bị ảnh hưởng mạnh bởi xâm ngập mặn (năm 2007, Ngân hàng Thế giới đưa dự báo Việt Nam là một trong năm nước (bốn nước còn lại là Ai Cập, Suriname, Bahamas, Bangladesh) bị ảnh hưởng nghiêm trọng của nước biển dâng do biến đổi khí hậu); dung tích trữ của các hồ chứa còn thấp; chất lượng nước giảm dần do những nguồn chất thải từ đô thị và các ngành công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và từ những hoạt động khác [59]. Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm 2003 thì tổng nhu cầu nước tưới cho sản xuất nông nghiệp năm 2000 là 76,6 tỉ m3, dự báo đến năm 2010 nhu cầu này sẽ tăng lên 88,8 tỉ m3. Cũng theo báo cáo này thì tiêu dùng nước sinh hoạt ở Việt Nam năm 1990 là khoảng 1,341 tỉ m3 nhưng có thể tăng lên đến 3,008 tỉ m3 trong năm 2010. Mặt khác hiện nay tình trạng ô nhiễm, suy thoái nguồn nước ở những khu vực khác nhau đang ở mức báo động. Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn, tại các thành phố lớn hiện nay nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý, độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép tới hàng chục lần. Ngay cả nguồn nước sinh hoạt là nguồn nước có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người cũng bị ô nhiễm ở mức đáng kể. Nguyên nhân chủ yếu của sự ô nhiễm trên là do việc các nhà máy, khu chế xuất, khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề và các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ; các bệnh viện và các cơ sở y tế không có hệ thống xử lý tập trung mà xả trực tiếp ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương...). Nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng mà lượng nước ngày càng giảm [64]. Theo tính toán sơ bộ cảnh báo đến năm 2010, lượng dòng chảy mùa cạn của các sông, kể cả dung tích được điều tiết và lượng nước ngầm không còn đáp ứng được nhu cầu dùng nước. Trước bối cảnh như vậy, để đảm bảo sự 13 phát triển bền vững đòi hỏi phải tiến hành những biện pháp thích hợp trong khai thác, sử dụng, quản lý và bảo vệ tài nguyên nước. Bảo vệ môi trường nước là nhiệm vụ trở nên cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết. 1.2.2 Các yếu tố tác động đến hoạt động bảo vệ môi trường nước Mặc dù bảo vệ môi trường nước là nhiệm vụ cấp bách nhưng không phải là việc một sớm một chiều có thể hoàn thiện ngay được. Nó đòi hỏi cả một quá trình tác động và vận động một cách có tổ chức và khoa học đến nhận thức của con người. Bảo vệ môi trường nước cũng như bảo vệ môi trường nói chung chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như: Thứ nhất: Nhận thức của người dân, của cộng đồng. Con người tác động đến môi trường, giữa con người và môi trường có mối liên hệ gắn bó mật thiết không thể tách rời. Con người khai thác môi trường và cũng là nhân tố chủ yếu có thể bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, ở một thời điểm, một góc độ nào đó, con người có những nhu cầu bức thiết hơn (ví dụ như duy trì sự sống…) nên việc bảo vệ môi trường đã bị xem nhẹ hoặc không tính toán đến. Ở các nước phát triển, khi cuộc sống con người cơ bản được đảm bảo, họ bắt đầu quan tâm đến vấn đề môi trường. Điều đó giải thích tại sao việc bảo vệ môi trường cũng như công cuộc nghiên cứu khoa học về môi trường ở các nước phát triển được đầu tư và thực hiện tốt hơn ở những nước thuộc thế giới thứ ba, nơi mà cuộc sống còn chưa được đảm bảo những nhu cầu tối thiểu. Việc nâng cao nhận thức cộng đồng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các đoàn thể, các tổ chức xã hội, tư liệu, tranh ảnh, các chiến dịch truyền thông, các cuộc thi viết, vẽ, tìm hiểu luật bảo vệ môi trường… giúp mọi người dân đều hiểu rõ nguyên nhân và tác hại của ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đối với phát triển kinh tế, xã hội và sức khoẻ con người. Từ việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng dân cư đối với việc bảo vệ môi trường qua đó từng bước làm thay đổi hành vi, phong tục tập quán lạc hậu làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, tạo thói quen tự giác tham gia các 14 hoạt động, phong trào bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo. Thứ hai: Áp lực phát triển kinh tế Con người tác động vào môi trường trước hết là vì lợi ích kinh tế. Không phải mọi hành vi gây ô nhiễm môi trường đều xuất phát từ nhận thức yếu kém. Ở cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển, dưới áp lực của phát triển kinh tế, trước những món lợi khổng lồ các nhà đầu tư, các nhà quản lý đã chạy theo lợi nhuận mà không quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng. Các chủ doanh nghiệp khi đầu tư thì chỉ chú trọng các hạ mục đầu tư cho sản xuất, còn hạ mục xử lý chất thải nói chung và xử lý nước thải nói riêng thì thường bị xem nhẹ. Thậm chí không ít nhà máy đã xây dựng xử lý nước thải nhưng lại không vận hành hoặc vận hành rất hạn chế để giảm thiểu chi phí sản xuất. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, hy sinh lợi ích môi trường sống để đạt được tăng trưởng nhanh sẽ phải trả giá đắt hơn nhiều lần (thậm chí là không thể khắc phục ) những tổn hại về môi trường. Vì vậy để phát triển bền vững thì phát triển kinh tế phải gắn chặt với bảo vệ môi trường, kiên quyết loại bỏ tư tưởng “ phát triển kinh tế trước, giải quyết môi trường sau”, “ phát triển kinh tế bằng mọi giá” bởi chúng ta đang phải chạy đua với thời gian để cứu môi trường sống của mình. Thứ ba: Hệ thống quản lý nhà nước về môi trường còn nhiều hạn chế Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước trong đó đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước. Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu, cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa 15 phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng. Thứ tư: Vốn đầu tư cho công tác Bảo vệ môi trường thường đòi hỏi rất lớn trong khi nguồn ngân sách nhà nước lại có hạn. Nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn từ ngân sách thì các hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường sẽ luôn trong tình trạng hoạt động cầm chừng và không mang lại hiệu quả. Trong khi đó, lĩnh vực môi trường thường khó thu hút được các khoản đầu tư tự nguyện của các tổ chức, cá nhân đặc biệt là của các doanh nghiệp. Chính vì vậy cần xây dựng chính sách từ phía nhà nước nhằm khuyến khích cũng như bắt buộc các tổ chức, cá nhân liên quan đến nước phải có trách nhiệm đối với nguồn tài nguyên nước trên lưu vực mình sinh sống. Thứ năm: Sự tác động từ bên ngoài (đối với những con sông quốc tế mà Việt Nam là hạ nguồn) Việt Nam là nước nằm ở hạ lưu do đó có rất nhiều các con sông quan trọng rút nước từ các nước láng giềng đổ về. Một số sông lớn ở nước ta bắt nguồn hay có một phần lưu vực ở nước ngoài như các sông: sông Hồng, Mã, Cả, Vàm Cỏ, Mekong. Chất lượng và trữ lượng của nước mặt của các con sông cũng do đó mà phụ thuộc vào việc sử dụng nước ở các quốc gia vùng thượng lưu nên việc quản lý môi trường nước ở Việt Nam không thể tách rời quản lý sử dụng nước của các quốc gia này. Hợp tác là rất cần thiết cho việc quản lý và bảo vệ có hiệu quả môi trường nước chung. Tuy nhiên tiến trình quản lý sẽ chỉ đạt kết quả khi các quốc gia coi hợp tác là quyền lợi và mối quan tâm lớn nhất của họ. Chỉ cần một quốc gia không có thiện chí thì sẽ gây khó khăn rất lớn cho việc bảo vệ tài nguyên nước của các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia thuộc hạ lưu. 1.2.3 Các biện pháp bảo vệ môi trường nước 1.2.3.1 Biện pháp tổ chức – chính trị Chính trị được coi là một trong những biện pháp quan trọng của bảo vệ môi trường nói chung. Biện pháp chính trị tuy không tác động trực tiếp đến môi trường nhưng được xem là biện pháp mang tính nền tảng, cơ sở, khởi 16 nguồn cho các biện pháp cụ thể khác. Nếu như trên thế giới, vấn đề môi trường được các đảng phái, tổ chức sử dụng triệt để để thu hút sự ủng hộ chính trị của quần chúng, nâng cao vai trò và tầm ảnh hưởng của Đảng mình đối với xã hội thì ở Việt Nam, với đặc trưng chỉ có một Đảng cầm quyền; Đảng cộng sản Việt Nam đưa vấn đề môi trường vào cương lĩnh, chiến lược hành động của mình. Vấn đề bảo vệ môi trường trở thành các nhiệm vụ chính trị và sẽ được Nhà nước thể chế hoá thành các chính sách pháp luật [55]. 1.2.3.2 Biện pháp kinh tế Biện pháp kinh tế là biện pháp được sử dụng khá phổ biến và có tác dụng trong việc quản lý các vấn đề xã hội. Trong việc quản lý và bảo vệ môi trường nước các biện pháp kinh tế cũng tỏ ra rất hiệu quả bởi nó sử dụng đòn bẩy lợi ích kinh tế để tác động đến các chủ thể có liên quan. Thực chất của phương pháp kinh tế trong bảo vệ môi trường là việc dùng những lợi ích vật chất để kích thích chủ thể thực hiện những hoạt động có lợi cho môi trường, cho cộng đồng [55]. Các biện pháp kinh tế được thực hiện trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ môi trường nước nói riêng rất phong phú và đa dạng, gồm [56]: - Thành lập các quỹ bảo vệ môi trường (ở nước ta quỹ này mang tên Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam); - Áp dụng các ưu đãi về thuế đối với những doanh nghiệp, những dự án có các giải pháp tốt về bảo vệ môi trường; - Áp dụng thuế suất cao đối với những sản phẩm mà việc sản xuất chúng có tác động xấu đến môi trường; - Gắn hạn chế hoặc khuyến khích thương mại với việc bảo vệ môi trường; - Bên cạnh đó, việc quy định thu phí bảo vệ môi trường cũng được áp dụng trên nguyên tắc coi nước là một loại hàng hoá, người sử dụng nước phải trả tiền và trả phí ô nhiễm. Người dùng nước phải mất tiền mua nước và khi 17 thải nước ra môi trường cũng phải đóng một khoản phí nhất định để đầu tư vào hệ thống xử lý nước thải chung. Việc áp dụng các biện pháp kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên nước, nó thường mang lại hiệu quả cao hơn so với các biện pháp khác. 1.2.3.3 Biện pháp khoa học – công nghệ Việc áp dụng các biện pháp khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào giải quyết những vấn đề môi trường được khẳng định trong nguyên tắc thứ 9 của Tuyên bố Rio De Janerio. Biện pháp khoa học – công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cả quá trình quản lý và bảo vệ môi trường nước. Để vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường bắt buộc phải sử dụng công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay việc áp dụng biện pháp khoa học – công nghệ còn gặp nhiều khó khăn do trình độ phát triển về khoa hoặc kỹ thuật của chúng ra chưa cao, chi phí đầu tư cao hơn so với các biện pháp thủ công truyền thống và hơn nữa do chúng ta chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của biện pháp này [55]. Tóm lại, công nghệ được xem là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển. Việc sử dụng các thông tin khoa học để xây dựng các cơ sở dữ liệu rất cần thiết cho quá trình lập quy hoạch quản lý tài nguyên nước đồng thời cũng đưa ra các gải pháp khoa học tiên tiến cho việc xử lý và bảo vệ môi trường một cách hiệu quả nhất. 1.2.3.4 Biện pháp giáo dục (bao gồm cả khía cạnh xã hội hoá) Phổ cập kiến thức nâng cao dân trí qua các hệ thống thông tin đại chúng có vai trò to lớn trong việc huy động thu hút các cộng đồng tham gia vào các phong trào bảo vệ môi trường nước của địa phương. Sử dụng phương tiện thông tin và sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý môi trường. Ý thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường sẽ được nâng cao thông qua các hoạt động tuyên truyền và giáo dục. Đây cũng là một nguyên tắc quan trọng được ghi nhận trong Tuyên bố Rio De Janerio [55]. 18 Các biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường có thể thực hiện dưới nhiều hình thức, cấp độ và phạm vi khác nhau như: Đưa vào chương trình học - Sử dụng phương tiện thông tin đại chúng - Tổ chức các hoạt động cụ thể (như phong trào tình nguyện) - Tổ chức các diễn đàn và các cuộc điều tra xã hội (Việt Nam hiện nay có khá nhiều Diễn đàn về môi trường; đây là dấu hiệu đáng mừng cho thấy một bộ phận không nhỏ người dân đã thực sự quan tâm đến việc bảo vệ môi trường). 1.2.3.5 Biện pháp pháp luật Pháp luật đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ môi trường nước. Các biện pháp bảo vệ môi trường nói trên tuy có tác động nhưng chắc chắn không phát huy tác dụng nếu không có sự trợ giúp của pháp luật. Pháp luật bản thân nó có những ưu thế đặc biệt của một công cụ quản lý mà các công cụ khác không có được. Pháp luật thông qua các hệ thống quy phạm để điều chỉnh hành vi xử sự của con người và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước, do đó sự điều chỉnh của pháp luật trong việc quản lý và bảo vệ môi trường nước là đặc biệt hiệu quả so với các biện pháp khác. Việc bảo vệ môi trường nước thực hiện thông qua biện pháp pháp luật bằng các hình thức như [55]: Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi khai thác và sử dụng tài nguyên nước. Việc khai thác tài nguyên nước một cách có định hướng, tuân theo những tiêu chuẩn nhất định và có tính đến sự cân bằng của môi trường sẽ hạn chế được các tác hại xấu, ngăn chặn sự suy thoái của môi trường nước, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Pháp luật quy định các chế tài hình sự, kinh tế, hành chính đề buộc các các nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên nước. Các chế tài này vừa có tác dụng ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật môi trường nước vừa có tác dụng giáo dục công dân tôn trọng pháp luật bảo vệ môi trường. 19
- Xem thêm -