Tài liệu Quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại cổ phần á châu. ths

  • Số trang: 103 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 217 |
  • Lượt tải: 1
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --------------------- LƢƠNG THỊ PHƢƠNG THẢO QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Hà Nội – 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --------------------LƢƠNG THỊ PHƢƠNG THẢO QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU Chuyên ngành: Tài chính & Ngân hàng Mã số : 60 34 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ THƢ Hà Nội – 2013 MỤC LỤC Trang Danh mục các ký hiệu viết tắt i Danh mục các bảng ii MỞ ĐẦU 1 Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của ngân hàng thương mại 8 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 8 1.1.1 Khái niệm 8 1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 9 1.2 Quản trị rủi ro thanh khoản 1.2.1 Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản; Cung và cầu về thanh khoản; Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản 10 10 1.2.2 Nội dung quản trị rủi ro thanh khoản 17 1.3 Kiểm định các giả thiết về khả năng thanh khoản 32 1.3.1 Kiểm định về chỉ số trạng thái tiền mặt 33 1.3.2 Kiểm định về chỉ số năng lực cho vay 34 1.3.3 Kiểm định về chỉ số dư nợ/tiền gửi khách hàng 34 1.3.4 Kiểm định về chỉ số chứng khoán thanh khoản 34 Kết luận Chương 1 35 Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu 2.1 Khái quát về hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu 2.2 Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu giai đoạn 2009 – 2011 2.2.1 Quy định về hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân 36 36 40 40 hàng thương mại cổ phần Á Châu 2.2.2 Các chỉ số đo lường thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu 2.3 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu 41 52 2.3.1 Thành tựu 52 2.3.2 Hạn chế 54 2.3.3 Nguyên nhân 57 Kết luận Chương 2 59 Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Á 61 Châu 3.1 Định hướng phát triển của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu đến năm 2015 và định hướng chiến lược đến năm 2020 3.1.1 Định hướng phát triển của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu đến năm 2015 3.1.2 Định hướng chiến lược của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu đến năm 2020 3.1.3 Định hướng quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu đến năm 2020 3.2 Biện pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu 3.2.1 Quản trị thanh khoản trong những điều kiện bất thường: phân tích kịch bản (“what if” analysis) 3.2.2 Xét tới cả các yếu tố bên trong ngân hàng và bên ngoài (liên quan tới thị trường) 3.2.3 Kế hoạch ứng phó tình trạng khẩn cấp thanh khoản 61 61 62 63 67 67 68 71 3.2.4 Đánh giá xác suất diễn biến của các dòng tiền để gán một lịch trình các dòng tiền của từng loại tài sản và nợ. 3.2.5 Gắn rủi ro thanh khoản với rủi ro thị trường trong quản trị 3.3 Biện pháp của cơ quan quản lý: Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước 73 74 76 KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT STT Nguyên nghĩa Ký hiệu 1 ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu 2 ADB Ngân hàng phát triển Châu Á 3 BASEL Hiệp ước vốn Basel 4 BCTC Báo cáo tài chính 5 BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 6 CTG Ngân hàng Công thương Việt Nam 7 DTBB Dự trữ bắt buộc 8 GDP Tổng sản phẩm quốc nội 9 HĐQT Hội đồng quản trị 10 MBB Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội 11 NH Ngân hàng 12 NHNN Ngân hàng Nhà nước 13 NHTM Ngân hàng thương mại 14 NHTW Ngân hàng Trung ương 15 OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế 16 QTRRTK Quản trị rủi ro thanh khoản 17 RRTK Rủi ro thanh khoản 18 TB Trung bình 19 TCB Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ 20 TCTD 21 TMCP Tổ chức tín dụng Thương Thương mại cổ phần 22 TSC Tài sản có 23 TSN Tài sản nợ 24 VCB Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ii DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU STT Số hiệu 1 Bảng 1.1 Nội dung Bảng thống kê mô tả về các hệ số an toàn và chỉ số thanh khoản trung bình 2 Bảng 2.1 Số tiền tối thiểu cho mỗi lần điều vốn 3 Bảng 2.2 Các chỉ số đo lường thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại cổ Trang 33 41 41 phần Á Châu 4 Biểu 2.1 Vốn tự có của top 10 ngân hàng 5 Biểu 2.2 Vốn tự có của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu 6 Biểu 2.3 Tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu 7 Biểu 2.4 Hệ số H1 và H2 của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu 42 42 43 44 8 Biểu 2.5 Chỉ số trạng thái tiền mặt - H3 45 9 Biểu 2.6 Chỉ số năng lực cho vay - H4 47 10 Biểu 2.7 Chỉ số dư nợ/tiền gửi khách hàng - H5 48 11 Biểu 2.8 Chỉ số chứng khoán thanh khoản - H6 49 12 Biểu 2.9 Chỉ số trạng thái ròng đối với các TCTD - H7 50 13 Biểu 2.10 Chỉ số (tiền mặt+tiền gửi tại các TCTD)/tiền gửi khách hàng iii 51 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản là yếu tố quyết định sự an toàn trong hoạt động của bất kỳ ngân hàng thương mại nào. Trong tình hình hiện nay, nhiều ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng căng thẳng thanh khoản, khi mà sự cạnh tranh khốc liệt về thu hút tiền gửi buộc các ngân hàng phải tìm kiếm các nguồn tài trợ khác. Khả năng thanh khoản không hợp lý là dấu hiệu đầu tiên của tình trạng bất ổn về tài chính. Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, cơ hội và rủi ro trong quản trị thanh khoản của các ngân hàng thương mại cũng gia tăng tương ứng. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc kế hoạch được nhu cầu thanh khoản bằng các phương pháp mang tính ổn định và chi phí thấp để tài trợ cho hoạt động của các ngân hàng thương mại trong thị trường cạnh tranh ngày càng gia tăng. Với tốc độ tăng trưởng khá cao và vị thế ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế, Việt Nam đang là điểm đến của các dòng vốn đầu tư nước ngoài. Đóng góp vào thành công đó, không thể không kể đến ngành ngân hàng, được xem là “mạnh máu của nền kinh tế”. Tuy nhiên, với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, cùng với những gì đã diễn ra trên thị trường tiền tệ Việt Nam những tháng cuối năm 2011 và đầu năm 2012 cho thấy vấn đề thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn. Hậu quả của rủi ro thanh khoản đối với mỗi ngân hàng nói riêng và cả hệ thống ngân hàng thương mại nói chung là vô cùng nghiêm trọng. Rủi ro thanh khoản xảy ra nhẹ sẽ làm suy giảm mức sinh lợi của ngân hàng, còn nếu nặng có thể đưa ngân hàng đến chỗ phá sản. Vì vậy mà quản trị thanh khoản luôn là hoạt động xuyên suốt trong quá trình hoat động của mỗi ngân hàng. Trên cơ 2 sở vận dụng những lý thuyết được học trong chương trình đào tạo bậc cao học - Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội vào điều kiện Việt Nam, Luận văn nghiên cứu về “Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu”. 2. Tình hình nghiên cứu Nghiên cứu về công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại đã có rất nhiều nghiên cứu trong cả nước về vấn đề này. Ví dụ: - Nguyễn Duy Sinh - Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (2009). Luận văn thạc sĩ: “Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại Việt Nam” - Nguyễn Đại Lai (2008). Tạp chí Công nghệ ngân hàng, số 28 trang 8 11: “Rủi ro thanh khoản của các NHTM bản chất và giải pháp” - Đặng Thị Ái (2005). Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Kế toán, số 3 trang 24 - 26: “Rủi ro thanh khoản - Thách thức lớn đối với hoạt động ngân hàng” - Nguyễn Thị Mùi (2008). Thị trường Tài chính - Tiền tệ, số 10 trang 18 20: “Ổn định thanh khoản: Yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại Việt Nam”. - PGS.TS Nguyễn Đắc Hưng (2008). “Phân tích nguyên nhân ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng thương mại”. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ mới đề cập sơ lược lý thuyết về công tác quản trị rủi ro thanh khoản mà chưa đi sâu vào nghiên cứu các chuẩn mực quốc tế áp dụng trong việc đo lường, đánh giá, kiểm soát rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại hiện nay. Từ năm 2009 đến nay thị trường tài chính cũng đã có những biến đổi khác biệt mới. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài nhằm nghiên cứu những vấn đề lý thuyết cơ bản về quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại, thông qua việc hệ thống hóa lý 3 thuyết và các chuẩn mực quốc tế trong chính sách quản trị rủi ro thanh khoản và các bài học kinh nghiệm từ các nước trên thế giới cũng như cái nhìn thực tế cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn thời gian qua. Qua việc đánh giá thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản và các nguy cơ rủi ro thanh khoản tiềm ẩn tại ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu, từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp quản trị rủi ro thanh khoản phù hợp, khả thi. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:  Tìm ra giải pháp quản trị rủi ro thanh khoản khả thi cho ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu.  Xác định được thời điểm và cách quản trị rủi ro thanh khoản thích hợp với ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: bản chất của giải pháp quản trị rủi ro thanh khoản khả thi cần xem xét và làm rõ; phân tích nội dung cơ bản của quản trị rủi ro thanh khoản trong kinh doanh ngân hàng; đánh giá tính thanh khoản và hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản ngân hàng, tìm ra những hạn chế, tồn tại và một số biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động này trong thời gian tới ở ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu. Phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong phạm vi ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu trong vòng 03 năm qua. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu tài liệu, công trình khoa học có sẵn liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài * Phương pháp nghiên cứu hồi cứu Nghiên cứu hồi cứu là nghiên cứu để định hướng 1 hay nhiều vấn đề nhằm kiểm định một giả thuyết. Đó là một nghiên cứu, trong đó các dữ liệu của các nhóm cá thể là như nhau theo nhiều cách nhưng khác nhau bởi một đặc tính 4 nhất định được so sánh cho một kết quả cụ thể. Trong nghiên cứu hồi cứu, một tỷ lệ rủi ro hoặc tỷ lệ cược cho việc đánh giá nguy cơ tương đối . Trong trường hợp của một nghiên cứu hồi cứu, nghiên cứu viên thu thập dữ liệu từ các hồ sơ quá khứ và không theo dõi đối tượng như trường hợp với một nghiên cứu tiềm năng. Đầu tiên mục tiêu là thành lập hai nhóm – có yếu tố quan tâm và không có yếu tố quan tâm, và các nhóm này được theo dõi trong khoảng thời gian tiếp theo. Tóm lại, trong nghiên cứu hồi cứu, tất cả các sự kiện tiếp xúc, thời gian tiềm ẩn, và kết quả sau đó đã xảy ra trong quá khứ. Người nghiên cứu chỉ đơn thuần là thu thập dữ liệu bây giờ, và thiết lập các nguy cơ phát triển một chỉ tiêu quan tâm nếu tiếp xúc với một yếu tố nguy cơ cụ thể. Mặt khác, có triển vọng nghiên cứu tiền cứu được tiến hành bằng cách bắt đầu với hai nhóm tại thời điểm hiện tại, và theo dõi trong tương lai cho sự xuất hiện của chỉ tiêu quan tâm, nếu có. Điều quan trọng là phương pháp nghiên cứu hồi cứu và tiền cứu về cơ bản là giống nhau. Thời gian để hoàn thành một nghiên cứu hồi cứu chỉ là thu thập và giải thích dữ liệu. Nghiên cứu hồi cứu kiểm tra nguy cơ có thể và các biến bảo vệ liên quan đến một kết quả đã được thành lập tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu. Cần phải được thực hiện cẩn thận cụ thể với các nghiên cứu hồi cứu vì những lỗi do nhiễu và thiên vị là phổ biến hơn trong các nghiên cứu hồi cứu hơn là trong các nghiên cứu tiền cứu tương lai. Ưu điểm Nghiên cứu hồi cứu, có những ưu điểm tốt khi so sánh với các nghiên cứu tiền cứu tương lai, bao gồm cả quy mô nhỏ hơn mà nghiên cứu hồi cứu thường đòi hỏi. Một lợi ích quan trọng của nghiên cứu hồi cứu là thường đòi hỏi ít thời gian để hoàn thành. Một ưu điểm khác là nghiên cứu hồi cứu là tốt 5 hơn cho phân tích nhiều kết quả. Và một trong những lợi ích lớn nhất đối với một nghiên cứu hồi cứu trong một bối cảnh kinh tế là khả năng để giải quyết các chỉ tiêu quan tâm hiếm, mà sẽ đòi hỏi đội quân rất lớn trong các nghiên cứu tiền cứu tương lai. Trong nghiên cứu này, chỉ tiêu quan tâm đã được xác định, do đó, các nghiên cứu hồi cứu đặc biệt hữu ích trong việc giải quyết chỉ tiêu quan tâm tỉ lệ thấp. Thực tế là nghiên cứu hồi cứu nói chung là ít tốn kém hơn so với các nghiên cứu tiền cứu cũng có thể là một lợi ích quan trọng. Những nghiên cứu này có xu hướng ít tốn kém một phần là do kết quả và yếu tố quan tâm đã xảy ra, và các nguồn lực chủ yếu hướng vào thu thập dữ liệu. Ngoài ra, nó có về cơ bản tất cả những lợi ích của một nghiên cứu đoàn hệ (thống kê) Nhược điểm Nghiên cứu hồi cứu cũng có những nhược điểm như là nghiên cứu tiền cứu. Trong số những khó khăn là một số số liệu thống kê quan trọng không thể được đo, và những thành kiến đáng kể có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn của các yếu tố kiểm soát được. Ngoài ra, những thành kiến lớn với các nghiên cứu hồi cứu có thể ảnh hưởng đến việc thu hồi tiếp xúc với cựu biến nguy cơ. Trong số các thành kiến tiêu cực có thể ảnh hưởng đến tính xác thực của loại nghiên cứu này là sai lệch lựa chọn và phân loại sai hoặc thông tin sai lệch như là kết quả của các khía cạnh hồi cứu Với nghiên cứu hồi cứu, mối quan hệ thời gian thường là khó khăn để đánh giá. Hơn nữa, những người thực hiện nghiên cứu hồi cứu không thể kiểm soát yếu tố quan tâm hoặc đánh giá kết quả, nhưng thay vào đó cần phải dựa vào người khác để xác thực dữ liệu lưu giữ. Điều này là vấn đề đặc biệt bởi vì nó có thể rất khó để so sánh chính xác giữa yếu tố quan tâm và yếu tố không quan tâm. Nghiên cứu hồi cứu cũng có thể cần các mẫu có kích thước rất lớn cho kết cục hiếm. * Phương pháp phân tích tổng hợp 6 Trong thống kê, phân tích tổng hợp (tiếng Anh: meta-analysis) kết hợp kết quả của một vài nghiên cứu để giải quyết một chuỗi các giả thuyết liên quan đến nghiên cứu. Đơn giản hơn, nó có thể coi là sự xác định phép đo chung của cỡ hiệu ứng, trong đó bình quân gia quyền có thể là kết quả của phân tích tổng hợp. Tính bình quân gia quyền có liên quan tới cỡ mẫu trong mỗi nghiên cứu cá nhân. Dù có những sự khác biệt giữa các nghiên cứu cá nhân, nhưng mục tiêu của phân tích tổng hợp là ước lượng chính xác hơn cỡ hiệu thực so với cỡ hiệu ứng kém chính xác hơn trong các nghiên cứu riêng lẻ. Phân tích tổng hợp là một trong những thành tố quan trọng trong quy trình xem xét hệ thống. Cũng như bất cứ nghiên cứu nào, một phân tích tổng hợp được tiến hành qua các công đoạn như: thu thập dữ liệu, kiểm tra dữ liệu và kiểm tra kết quả phân tích. Phân tích tổng hợp cung cấp cho chúng ta một phương tiện định lượng để hệ thống bằng chứng. Với phân tích tổng hợp, chúng ta có cơ hội để xem xét những nghiên cứu nào đã được tiến hành để giải quyết vấn đề; kết quả của các nghiên cứu đó thế nào; hệ thống các tiêu chí lâm sang đáng quan tâm; rà soát những khác biệt về đặc tính giữa các nghiên cứu; cách thức để tổng hợp kết quả và truyền đạt kết quả một cách khoa học. Phân tích tổng hợp cũng không phải là không có những khiếm khuyết. Nếu các dữ liệu được sử dụng trong phân tích không có chất lượng cao thì kết quả phân tích tổng hợp cũng chẳng có giá trị khoa học gì. Do đó, vấn đề quan trọng nhất trong phân tích tổng hợp là chọn dữ liệu và nghiên cứu để phân tích. Vấn đề này cần phải được cân nhắc cực kì cẩn thận để đảm bảo tính hợp lý và khoa học của kết quả. 6. Đóng góp mới của luận văn 7  Làm rõ cơ sở lý luận của công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại và khung lý thuyết để đánh giá công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại.  Áp dụng khung lý thuyết vào quản trị rủi ro thanh khoản ngân hàng và chỉ ra các điểm hạn chế tại ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu hiện nay.  Giải pháp khả thi cho công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu hiện nay. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, kết quả nghiên cứu đề tài được bố cục thành 3 chương. Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu. Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 1.1.1 Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại Khái niệm Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng giao dịch trực tiếp với các tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nêu trên. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Sự có mặt của loại hình ngân hàng này trong hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội có thể cho rằng ở đâu có một hệ thống ngân hàng thương mại phát triển, thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế. Theo Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa X, kỳ họp thứ hai thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm 1997, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” (Khoản 2 Điều 4). Luật các tổ chức tín dụng còn xác định “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân” (Khoản 1 Điều 4) và “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung 9 ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây a/ Nhận tiền gửi. b/ Cấp tín dụng. c/ Cung ứng dich vụ thanh toán qua tài khoản” (Khoản 12 Điều 4). Đạo luật ngân hàng của Cộng hòa Pháp khẳng định ngân hàng thương mại là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới hình thức khác và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Như vậy, ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời số vốn đó được sử dụng để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế và cá nhân với mục đích phát triển kinh tế xã hội. 1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và hệ thống ngân hàng phát triển, ngân hàng thương mại có ba chức năng cơ bản chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán và chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng. * Chức năng trung gian tín dụng: ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian trong việc tập trung, huy động các nguồn tiền tệ tạm thời, nhàn rỗi trong nền kinh tế, bao gồm tiền tiết kiệm của dân cư, vốn bằng tiền của các đơn vị, tổ chức kinh tế; biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay (cấp tín dụng), đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội. * Chức năng trung gian thanh toán: ngân hàng thương mại đứng ra làm trung gian thanh toán để thực hiện các giao dịch giữa người mua với người bán, giưa các khách hàng với nhau nhằm hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại của các đối tượng nêu trên. 10 * Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng: nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng; do vậy, ngoài hai chức năng trên, ngân hàng thương mại còn thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng. 1.2 Quản trị rủi ro thanh khoản 1.2.1 Một số khái niệm * Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản: tính thanh khoản của ngân hàng thương mại được xem như khả năng tức thời (the short-run ability) để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết. Như vậy, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng chi phí cao. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. RRTK không phải là rủi ro đơn lẻ (isolated risk) như rủi ro thị trường hay rủi ro tín dụng mà là loại rủi ro mang tính hệ quả (consequential risk) bởi lẽ ngoài các nguyên nhân mang tính đặc thù, RRTK còn có thể bắt nguồn và chuyển biến xấu dưới tác động của các rủi ro phi tài chính và rủi ro tài chính khác trong hoạt động của ngân hàng. * Cung và cầu về thanh khoản: khả năng đáp ứng và nhu cầu về sử sụng vốn khả dụng thể hiện ở cung thanh khoản (LS – Liquidity Supply) và cầu thanh khoản (LD – Liquidity Demand). Thanh khoản của một ngân hàng có thể được xem xét bằng mô hình cung-cầu về thanh khoản. Cung về thanh khoản: cung thanh khoản là khả năng cung ứng tiền của một NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, bao gồm việc giữ tài sản thanh khoản và khả năng huy động mới. Đó là các khoản vốn, các nguồn cung cấp làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, bao gồm: 11 - Các khoản tiền gửi đang đến. - Doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi tiền gửi. - Thu hồi các khoản tín dụng đã cấp. - Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng. - Vay mượn trên thị trường tiền tệ. Trong các nguồn cung thanh khoản trên, luồng tiền thu về từ huy động vốn tiền gửi chiếm khối lượng lớn và là nguồn cung thanh khoản mới chủ yếu của ngân hàng. Cầu về thanh khoản: cầu về thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng. Thông thường, trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng, những hoạt động tạo ra cầu về thanh khoản bao gồm: - Khách hàng rút tiền từ tài khoản. - Yêu cầu vay vốn từ những khách hàng có chất lượng tín dụng cao. - Thanh toán các khoản vay phi tiền gửi. - Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ. - Thanh toán tổ tức bằng tiền. Trong các nhu cầu thanh khoản mà ngân hàng phải đối mặt trên, lượng tiền cần để giải ngân cho các hợp đồng tín dụng chiếm số lượng lớn. * Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản Những nguyên nhân tiền đề: thanh khoản của một ngân hàng phải đối mặt với rủi ro có thể do các nguyên nhân cơ bản sau đây: Một là, sự không cân xứng về kỳ hạn giữa TSC và TSN, ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài chính khác; sau đó chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn. Cho nên, đã xảy ra tình trạng mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, mà thường gặp là dòng tiền thu về từ tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền chi 12 ra để trả các khoản tiền gửi đến hạn. Vậy nên, NHTM luôn phải đối mặt với tình trạng thâm hụt hoặc thặng dư thanh khoản. Hai là, sự thay đổi của lãi suất có thể tác động đến cả người gửi tiền và người vay vốn. Khi lãi suất giảm, một số người gửi tiền rút vốn khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn; còn những người đi vay tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì lãi suất đã thấp hơn trước như tìm cách trì hoãn việc hoàn trả các khoản nợ đã đáo hạn hoặc rút hết số đư hạn mức tín dụng với mức lãi suất đã thỏa thuận với NHTM có lãi suất thấp; tìm cách trả trước hạn hoặc trì hoãn việc rút vốn vay với mức lãi suất đã thỏa thuận với NHTM có lãi suất cao. Như vậy, rốt cuộc lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng trạng thái thanh khoản của ngân hàng. Hơn nữa, những xu hướng của sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ. Ba là, do ngân hàng có chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả như các chứng khoán đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả… Tính chất đặc biệt của ngành kinh doanh tiền tệ đòi hỏi NHTM phải luôn sẵn sàng đáp ứng cầu thanh khoản. Đối với lĩnh vực kinh doanh khác (không phải kinh doanh tiền tệ), các doanh nghiệp có thể dây dưa nợ với khách hàng, chậm thanh toán với đối tác, thậm chí chủ động chiếm dụng vốn của đối tác kinh doanh… Nhưng với NHTM kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ hết sức nhạy cảm, NHTM không thể làm như vậy. Bất kỳ một sự trục trặc nào về thanh khoản đều có thể gây tâm lý lo lắng trong công chúng, và nếu NHTM không giải quyết ngay khó khăn này, khách hàng gửi tiền có thể đồng loạt kéo đến ngân hàng để rút tiền, trạng thái thanh khoản sẽ trở nên trầm trọng và NHTM có thể bị phá sản. Mặt khác, trên bảng cân đối kế toán của NHTM, bên TSN luôn có một tỷ lệ nhất 13 định các khoản tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn nhưng có thể rút trước hạn. Đây là những TSN mà NHTM có nghĩa vụ phải trả ngay lập tức nếu khách hàng có nhu cầu rút, vì thế NHTM luôn luôn phải sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Những nguyên nhân từ hoạt động: rủi ro thanh khoản có thể phát sinh từ hoạt động bên tài sản và nguồn vốn của NH. - Nguyên nhân bên tài sản: rủi ro thanh khoản phát sinh liên quan đến các cam kết tín dụng. Một cam kết tín dụng cho phép người vay tiến hành rút tiền vay bất cứ lúc nào trong thời hạn của nó. Khi một cam kết tín dụng được người vay thực hiện,thì NH phải bảo đảm có đủ tiền ngay tức thời để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nếu không NH phải đối mặt với rủi ro thanh khoản. Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản bên tài sản, NH có thể giảm số dư tiền mặt, chuyển hoá các tài sản khác thanh tiền hoặc đi vay các nguồn vốn bổ sung trên thị trường tiền tệ. Một dạng khác của rủi ro thanh khoản bên tài sản phát sinh từ sự giảm sút giá trị thị trường của danh mục đầu tư. Khi lãi suất thay đổi (tăng) ngoài dự tính, giá trị của danh mục đầu tư giảm sút, có thể gây thiệt hại lớn. Thanh khoản thị trường có thể xấu đi, vì không có người mua trong khi nhiều người muốn bán (hành vi bầy đàn). Thanh khoản cạn, các chứng khoán chỉ bán được với giá rẻ làm rủi ro thanh khoản của ngân hàng tăng. - Nguyên nhân bên nguồn vốn (bên nợ): Rủi ro thanh khoản có thể phát sinh bất cứ khi nào khi những người gửi tiền thực hiện rút tiền ngay lập tức. Khi những người gửi tiền rút tiền đột ngột, buộc NH phải đi vay bổ sung hoặc bán bớt tài sản (chuyển hoá tài sản thành tiền mặt) để đáp ứng khả năng thanh khoản. Trong tất cả các nhóm thuộc loại tài sản, thì tiền mặt có mức độ thanh khoản cao nhất, chính vì vậy, NH sử dụng tiền là phương tiện đầu tiên và trực tiếp để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Nhưng đáng tiếc là tiền mặt không 14
- Xem thêm -