Tài liệu Quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tại thành phố hạ long, tỉnh quảng ninh

  • Số trang: 87 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 69 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Tham gia: 05/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LẠI TRUNG DŨNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH Hà Nội, 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LẠI TRUNG DŨNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 8.38.01.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Nguyễn Tuấn Khanh Hà Nội, 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Hà Nội, ngày tháng năm 2018 TÁC GIẢ LUẬN VĂN LẠI TRUNG DŨNG MỤC LỤC MỞ ĐẦU.............................................................................................................................................1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA.......................................................................................9 1.1. Văn hóa và quản lý nhà nước về văn hóa...............................................................9 1.2. Điều chỉnh pháp luật đối với quản lý nhà nước về văn hóa.....................14 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về văn hóa...........................22 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH.................................28 2.1. Các yếu tố có ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về văn hóa....................28 2.2. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.............................................................................................................37 2.3. Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh...........................................................................45 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH.............................................................................................................57 3.1. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về văn hóa tại Thành phố Hạ Long, Tỉnh Quảng Ninh...........................................................................................................57 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại Thành phố Hạ Long, Tỉnh Quảng Ninh.........................................................................................61 KẾT LUẬN....................................................................................................................................72 TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................................73 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới thì các vấn đề có liên quan đến vấn đề văn hóa được Đảng và Nhà nước ta xác định là vấn đề hệ trọng có tác động mạnh mẽ đến tinh thần của nhân dân trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Quá trình phát triển văn hóa nói chung đã và đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội, nó không chỉ diễn ra không chỉ ở các quốc gia đang phát triển, kém phát triển mà còn ở cả những nước phát triển, có trình độ khoa học - công nghệ tiên tiến. Tại Việt Nam, trong những năm vừa qua thì tình hình và hoạt động phát triển văn hóa trong cả nước, từ thành thị đến nông thôn nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là điều mà chúng ta hướng đến. Chúng ta biết rằng bên cạnh công cuộc xây dựng và phát triển đất nước thì yếu tố phát triển tinh thần trong đó có vấn đề văn hóa luôn là yếu tố được cộng đồng hết sức quan tâm. Vấn đề về văn hóa nói chung và vấn đề QLNN về văn hóa nói riêng trong những năm gần đây được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm và được xem là một trong những vấn đề có tác động, mang ý nghĩa lớn lao, ảnh hưởng đến sự phát triển về kinh tế - xã hội, về an toàn xã hội và cộng đồng nhân dân. Làm tốt công tác này Đảng và Nhà nước luôn chỉ đạo và đề ra những giải pháp quan trọng nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hóa, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của nhân dân, đáp ứng với yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển đất nước trong tình hình mới. Vì thế, tại Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” được xem là nền tảng quan trọng của Đảng và Nhà nước để chỉ đạo, hướng dẫn nhằm bảo đảm thực hiện có hiệu quả công tác quản lý NN về văn hóa trong giai đoạn hiện nay. Thông 1 qua đó, chúng ta đã có nhiều kết quả rất quan trọng nhằm làm tốt công tác QLNN về văn hóa đáp ứng với yêu cầu của hoạt động xây dựng và phát triển đất nước. Có thể nói rằng vấn đề văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội; là năng lực sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người; trụ cột phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc và nhân loại. Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa thì quản lý văn hóa đóng vai trò rất quan trọng. Trên phương diện vĩ mô, hoạt động quản lý văn hóa sẽ góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng cầm quyền, từ đó tác động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc. Trên phương diện vi mô, hoạt động quản lý văn hóa trong các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cư cụ thể sẽ giúp kiểm soát sự tùy tiện, sai lệch trong khi thực thi các cơ chế, chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa. Những năm qua, quán triệt tinh thần: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội” của Đảng, hoạt động quản lý văn hóa ở Việt Nam đã có những kết quả khả quan Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh là một trong những thành phố lớn, có vị trí chiến lược trong quá trình phát triển của địa phương có đủ điều kiện để phát huy tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác, tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, hòa nhập với nền kinh tế thị trường, phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ, dân số đông nên mật độ dân số cao. Chính vì vậy, quá trình QLNN về văn hóa đã và đang có nhiều vấn đề rất quan trọng mà chính quyền địa phương nơi đây quan tâm, chú ý. Hoạt động quản lý về văn hóa của cơ quan chức năng bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì chưa chặt chẽ, ảnh hưởng nghiêm trọng trong công tác quản lý. Do vậy tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn thành phố có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng quản lý về văn hóa 2 trên địa bàn thành phố nói riêng và trên toàn tỉnh Quản Ninh nói chung. Trước tính thiết thực của việc nghiên cứu vấn đề thực tiễn trên, tôi chọn đề tài "Quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh" làm đề tài nghiên cứu là một việc làm cần thiết và cấp bách nhằm góp phần phát hiện những hạn chế của pháp luật về quản lý nhà nước về vấn đề này cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi tại địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Từ đó, đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống chính sách pháp luật về văn hóa nói chung, nâng cao hơn nữa hiệu quả áp dụng pháp luật về văn hóa tại địa phương và ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài * Đối với các giáo trình, tài liệu Giáo trình quản lý nhà nước về văn hóa – giáo dục- y tế của trường học việc hành chính quốc gia. Trong đó đã đề cập đến hoạt động QLNN về văn hóa trong thực tiễn thông qua quy định cụ thể và rõ ràng về vấn đề này, Cơ sở lý luận về quản lý văn hóa, Đại học Văn hóa Hà Nội, năm 2014: Trong đó giáo trình của Đại học văn hóa đã đề ra những cơ sở trên phương diện lý luận trong hoạt động QLVH ở nước ta hiện nay. Điều là hoàn toàn cần thiết trong hoạt động QLNN nói chung và trong lĩnh vực văn hóa nói riêng đối với nước ta hiện nay, Nghiên cứu Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Tình (Nxb Văn hóa, thông tin – Hà Nội): Trong nội dung tác phẩm tác giả đã trực tiếp nghiên cứu những chính sách văn hóa trên thế giới và vấn đề hoàn thiện ở nước ta hiện nay. Tác giả đưa ra những luận điểm nhằm hoàn thiện về hoạt động QLVH trong thực tế. * Về tài liệu nghiên cứu trực tiếp có liên quan đến đề tài có một số tác phẩm sau: 3 - Quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, những vấn đề lý luận và thực tiễn – Vũ Thị Phương Hậu (2008): Tác giả đã đề cập đến vao trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa. Thông qua các quy định pháp lý về vấn đề này, tác giả đã chỉ rõ ra những thực tiễn áp dụng ở nước ta hiện, những khó khăn, vướng mắc và phương hướng hoàn thiện nhằm đáp ứng với yêu cầu của hoạt động QLNN trong lĩnh vực này. - Luận văn thạc sỹ “ Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội” của tác giả Trần Thị An đã tiến hành thực hiện tại huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nôi. Trong đó, tác giả trên cơ sở lý luận trong hoạt động QNLL về văn hóa đã áp dụng vào thực tiễn từ đó, chỉ ra những khó khăn vướng mắc và giải pháp hoàn thiện vấn đề này. - Luận văn “Quản lý nhà nước về văn hóa ở thành phố Thái Nguyên” của tác giả Bùi Quốc Chiều; - Luận văn Quản lý nhà nước về văn hóa ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang hiện nay của tác giả Lê Thị Thu Hương - Luận văn “Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ” của tác giả Trần Xuân Lực - Luận văn Quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng của tác giả Ngô Trường Long năm 2017 - Khóa luận tốt nghiệp: Quản lý nhà nước về văn hóa tại huyện Văn Chấn – tỉnh Yên Bái của sinh viên Vũ Văn Tuân * - Một số đề tài, bài viết có liên quan: Chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của nhà nước Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế của tác giả TS. Nguyễn Vinh Hưng – trường Đại học Quốc gia Hà Nội : Bài viết đã đề cập đến chức năng quản lý văn hóa, giáo dục là chức năng rất quan trọng, có ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến hầu hết các hoạt động của Nhà nước Việt Nam và nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống văn hóa, xã hội. Mặt khác, văn hóa, giáo dục luôn là lĩnh vực nhạy cảm và phức 4 tạp, vì vậy, hình thức và phương pháp thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục trong giai đoạn hội nhập quốc tế luôn cần phải có sự xem xét để điều chỉnh kịp thời. - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa của tác giả THs. Nguyễn Thị Hằng (học viện chính trị khu vực II): Bài viết khẳng định hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của Nhà nước. Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về văn hóa ở Việt Nam đã đạt nhiều kết quả, song còn một số hạn chế, cần khắc phục. - Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về văn hóa trong tình hình mới của tác giả Bình Minh. Trong đó, khẳng định phải tập trung đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, truyền thông nói chung và trong lĩnh vực văn hóa nói chung. - Đề tài Quản lý nhằ nước về Văn hóa, nghệ thuật trong cơ chế thị trường – đề tài cấp bộ do Trần Quốc Bảng làm chủ nhiệm đề tài. Đề tài nghiên cứu tập trung đi sâu phân tích thực trạng về quản lý trong ngành văn hóa - thông tin trong thời kỳ đổi mới. Trình bày những quan điểm cơ bản về quản lý văn hóa nghệ thuật, xác định cơ chế quản lý trong cơ chế thị trường. Kiến nghị những giải pháp về quản lý nhà nước về văn hóa - nghệ thuật trong cơ chế thị trường. - Sách Công cuộc đổi mới động lực phát triển lý luận văn hóa của tác giả - Bài viết một số vấn đề quản lý nhà nước về văn hóa của tác giả Lê Thị Bich Thuận đăng trên tạp chí Văn học nghệ thuật số 352, tháng 10 năm 2013 Trong giai đoạn bùng nổ của toàn cầu hóa và hội nhập và phát triển như hiện nay thì công tác QLNN về văn hóa càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, tôi chọn đề tài: "Quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn tại thành phố Hạ 5 Long, tỉnh Quảng Ninh" làm luận văn thạc sỹ để thể hiện tâm huyết và đóng góp của bản thân đối với vấn đề này. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn có mục đích tổng quát là xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại Thành phố Hạ Long, tỉnh Hạ Long nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận và pháp luật liên quan đến quản lý nhà nước về văn hóa ở Việt Nam. - Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại Thành phố Hạ Long, tỉnh Hạ Long. Từ đó, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế trong quản lý nhà nước về văn hóa tại Thành phố Hạ Long, tỉnh Hạ Long. quả Xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quản lý nhà nước về văn hóa tại Thành phố Hạ Long, tỉnh Hạ Long nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu QLNN về văn hóa là một lĩnh vực tương đối rộng và phức tạp thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều ngành chuyên ngành nhau. Trong khuôn khổ đề tài, tác giả không có tham vọng giải quyết toàn bộ và trọn vẹn các vấn đề của công tác QLNN về văn hóa về vấn đề này mà đi sâu vào nội dung này ở một số khía cạnh sau: Vấn đề khẳng định vai trò của QLNN về văn hóa nói chung, cũng như các quy định có liên quan nói riêng trong công tác thực thi trên thực tế. Trong đó, đi sâu phân tích công tác QLNN về văn hóa thông qua các quy định của pháp luật hiện hành và có sự so sánh, đối chiếu với các quy định có liên quan. Thực tế áp dụng các quy định về QLNN về văn hóa tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nhằm đánh giá thực trạng, tìm hiểu những hạn chế và 6 khó khăn trong quá trình áp dụng. Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác QLNN về văn hóa nói riêng và cả nước nói chung trước yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Về phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng và quản lý nhà nước về văn hóa ở một số lĩnh vực như: quản lý hoạt động thông tin tuyên truyền cổ động, quản lý hoạt động thư viện, quản lý các thiết chế văn hóa, quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, quản lý các dịch vụ văn hóa, di sản văn hóa. - Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa tại Thành phố Hạ Long, tỉnh Hạ Long . Luận văn có nghiên cứu so sánh với một số địa phương khác có những nét tương đồng với Thành phố Hạ - Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn Thành phố Hạ Long trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Phương pháp sử dụng cho toàn đề tài là tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác – Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: - Kết hợp giữa phân tích với tổng hợp, diễn dịch với quy nạp làm rõ nội dung cần nghiên cứu trong vấn đề nghiên cứu về vị QLNN về văn hóa thông qua các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam được ghi nhận tại chương 1 cũng như thực tiễn áp dụng tại trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và chương 2 của đề tài. - So sánh, đối chiếu, thống kê, phân tích số liệu, kết quả tổng kết và các quan điểm khác nhau để rút ra kết luận, tìm hiểu nguyên nhân vấn đề và các giải pháp hữu hiệu khắc phục hạn chế. Các phương pháp này được áp dụng 7 trong chương 2 và chương 3 của đề tài. Thông qua đó, tác giả muốn đưa ra một bức tranh toàn cảnh về công tác QLNN về văn hóa trên địa bàn cũng như một số biện pháp nhằm hoàn thiện yêu cầu đề ra của công tác này, đáp ứng với yêu cầu hội nhập và phát triển đất nước. Phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Với những nội dung được trình bày trong đề tài hy vọng sẽ đem lại những đóng góp thiết thực cho việc hoàn thiện những quy định của chính sách pháp luật về QLNN về văn hóa, đồng thời góp phần xây dựng cơ chế hợp lý và hiệu quả hơn trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa vững mạnh ở nước ta hiện nay. Luận văn này là kết quả của quá trình nghiên cứu, tổng hợp, phân tích và đánh giá về lý luận các quy định về QLNN về văn hóa và thực tiễn. Vì vậy, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo và cung cấp cho người đọc kiến thức chung nhất về QLNN về văn hóa tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương. Chương 1: Những vấn đề lý luận và phát luật của quản lý nhà nước về văn hóa Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 8 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA 1.1. Văn hóa và quản lý nhà nước về văn hóa 1.1.1. Nhận thức chung về văn hóa Khái niệm về văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm văn hóa rất phức tạp. Điều này được thể hiện trong cuốn sách Culture, a critical review of concept and definitions [Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa] của A.L. Kroeber và Kluckhohn năm 1952, trong đó tác giả đã trích lục khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau. Từ đó, khái niệm văn hóa cũng được thể hiện một cách đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy rằng khái niệm này được hiểu theo rất nhiều định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung khi nghiên cứu văn hóa dựa trên khía cạnh tính cách con người, văn hóa được tập trung vào hai nội dung chính, bao gồm: Một là, văn hóa ngoài việc chứa đựng văn học và nghệ thuật còn chứa đựng cả cách sống, phương thức chung sống… Trong Bản tuyên bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization) chủ trì từ ngày 26 tháng 7 đến ngày 6 tháng 8 năm 1982 tại Mexico, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Hơn nữa, Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” (Hồ Chí Minh). Theo đó, tính cách của dân tộc là một trong những thành tố tạo nên nền văn hóa dân tộc. 9 Mặt khác, văn hóa được xem như một quá trình, là phương thức ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Văn hóa, dựa trên các đặc trưng cơ bản, được hiểu là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Có thể nói, văn hóa được tạo nên từ quá trình, từ phương thức ứng xử của con người đối với môi trường từ nhiên và môi trường xã hội. Mặt khác, tính cách con người là một thành tố trong quá trình sáng tạo văn hóa của con người. 1.1.2. Quản lý nhà nước về văn hóa Hoạt động quản lý nhà nước là một công việc quan trọng trong quá trình vận động của một Nhà nước của mỗi một quốc gia nói riêng. Khi tìm hiểu về QLNN, trước tiên cần bàn về khái niệm QLNN. Khái niệm QLNN được coi là một trong các khái niệm cơ bản và quan trọng của pháp luật Việt Nam. Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước, trước hết cần làm rõ khái niệm “ quản lý”. Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tới những đối tượng quản lý để điều chỉnh chúng vận động và phát triển theo những mục tiêu nhất định đã đề ra. Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau: - Chủ thế quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ, hình thức và phương pháp thích hợp, cần thiết và dựa trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Đối tượng quản lý (khách thể quản lý): Tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý đề ra. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các hình thức, phương pháp thích hợp. Điều này là vô cùng hợp lý bởi, quản lý nói chung là đối tượng nghiên cứu của nhiều 10 ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Xuất phát điểm của các ngành khoa học khác nhau thì sẽ có một định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. C.MÁC đã nói: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng”. Dưới góc độ nghiên cứu của Mác thì quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất. Ở đây Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý. Dưới góc độ nghiên cứu của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay thì Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý (khái niệm này được tiếp cận dưới góc độ là quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý. Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý nói chung). Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra”. Hoặc tiếp cận thông qua mục đích thì quản lý được hiểu là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức . Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau ,các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Như vậy, qua phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm khoa học về 11 QLNN được hiểu theo hai nghĩa là nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”. Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sửa dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt. Dưới góc độ pháp lý: Thuật ngữ quản lý nhà nước là chức năng quan trọng trong vận hành thường xuyên bộ máy nhà nước bảo đảm hoạt động của xã hội cũng như trên từng lĩnh vực đồi sống xã hội vận động theo một hướng, đường lối nhất định do NN đặt ra. Đây là hoạt động thực thi quyền lực NN nhằm xác lập trật tự ổn định, phát triển theo mục tiêu mà giai cấp cầm quyền đề ra. Có thể hiểu theo nghĩa phổ biến nhất là việc hướng dẫn chấp pháp, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện và đc đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế. Thông qua khái niệm trên có thể hiểu hoạt động quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp. Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính 12 trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật. * Quản lý nhà nước về văn hóa Như đã trình bày có thể hiểu quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra. Hiện nay có rất nhiều cách hiểu về hoạt động quản lý trong công tác văn hóa có thể hiểu sơ lược là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào các yếu tố có liên quan đến hoạt động về văn hóa bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội , tổ chức kĩ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được kết quả, hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất trong điều kiện cụ thể do chủ thể là các cơ quan nhà nước tiến hành. Hoạt động văn hóa là một trong những lĩnh vực được xem là một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của mỗi một quốc gia. Vấn đề này có sự tác động không nhỏ đối với cộng đồng. Để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước cũng như điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội, thì hoạt động quản lý NN về vấn đề này luôn được chú trọng, sửa đổi, bổ sung một cách hoàn thiện hơn. Quản lý nhà nước về văn hóa cũng có thể hiểu là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực của mình tác động có tổ chức và điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong hoạt động này nhằm đảm bảo cho hoạt động về văn hóa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, và thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của nó. Hoạt động này là một quá trình từ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến kiểm tra, tuyên truyền, phổ biến, chế độ, chính sách pháp luật; tổ chức thực hiện cũng như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hoạt động của chương trình có liên quan đến vấn đề văn hóa. Việc quản lý nhà nước về văn hóa có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của kinh tế- xã hội nước ta nói chung. Trong quan hệ pháp luật về văn hóa 13 đã xây dựng các quy phạm pháp luật quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa; Với các quy định như trên thì hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa đã điều chỉnh một cách tương đối hợp lý các vấn đề liên quan đến việc áp dụng những quy định từ lý luận đến thực tiễn. Tạo ra nền tảng pháp lý cơ sở cho các hoạt động có liên quan đến văn hóa ở nước ta trong tiến trình hội nhập kinh tế - quốc tế. 1.2. Điều chỉnh pháp luật đối với quản lý nhà nước về văn hóa 1.2.1. Thẩm quyền quản lý nhà nước về văn hóa Thông qua quy định quản lý nhà nước về di sản văn hóa thì đã quy định rõ ràng tại Điều 54 và 55 Luật di sản văn hóa 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009. Đây chính là cơ sở quan trọng và tiền đề cho hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động quản lý và phát huy những giá trị chiến lược quan trọng đối với các di sản văn hóa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, đáp ứng với yêu cầu xây dựng đất nước ta của hoạt động hội nhập và phát triển đất nước nói chung giai đoạn hiện nay, cụ thể như sau: * Tổ chức bộ máy quản lý, triển khai hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở nước ta hiện nay Theo quy định tại Luật DSVH và các văn bản hướng dẫn thi hành thì các cơ quan nhà nước co thẩm quyền trong việc quản lý nhà nước văn hóa bao gồm: Chính phủ, Bộ văn hóa, Thể thao và du lịch, Bộ, các cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm trong công tác quản lý, hướng dẫn việc thực hiện quản lý quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đối với cơ quan cấp trung ương thì Chính phủ thống nhất quản lý về văn hóa, Bộ văn hóa, thể thao và du lịch phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa, trong đó, ban hành các quy hoạch, kế hoạch về quản lý DSVH, quản lý văn hóa xã hội... 14
- Xem thêm -