Tài liệu Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng từ thực tiễn thành phố hội an, tỉnh quảng nam

  • Số trang: 91 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Tham gia: 05/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ CÔNG HỒNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, năm 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ CÔNG HỒNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 8.38.01.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THẾ TÂM HÀ NỘI, năm 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan những tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, chính xác. Luận này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không trùng lặp, không sao chép bất kỳ công trình khoa học nào. Tôi xin chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên. Tác giả Lê Công Hồng MỤC LỤC MỞ ĐẦU.....................................................................................................................................................1 CHƯƠNG 1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG................................................................................................................6 1.1. Nhận thức chung về quản lý cư trú công dân...............................................................6 1.2. Nhận thức về quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng.........................................10 CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM......................................................................................................................26 2.1. Tình hình, đặc điểm liên quan đến công tác quản lý tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố Hội An.....................................................................................................26 2.2. Thực trạng về nhân khẩu tạm trú, tạm vắng tại thành phố Hội An..............32 2.3. Thực trạng về công tác quản lý tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố Hội An........................................................................................................................................................36 CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỘI AN....................................................................................................52 3.1. Dự báo những yếu tố có tác động, ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố Hội An.........................................52 3.2. Giải pháp nâng cao công tác quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố Hội An...............................................................................................................54 KẾT LUẬN............................................................................................................................................68 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ANTT: An ninh, trật tự CAP Công an phường CSKV: Cảnh sát khu vực KV1: KV2: Sổ theo dõi kiểm tra cư trú Sổ danh sách hộ khẩu, nhân khẩu KV3: Sổ danh sách đối tượng PC06: Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội QLHC: Quản lý hành chính TTATXH: Trật tự an toàn xã hội MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận văn Thành phố Hội An là đô thị loại 03 và hiện là một trung tâm kinh tế, văn hoá của tỉnh Quảng Nam nói riêng cũng như khu vực miền Trung - Tây Nguyên chung. Thành phố Hội An có cơ sở hạ tầng và dịch vụ đầu tư khá hoàn thiện, trước đây là một thương cảng sầm uất của cả vùng. Hội An có mức tăng trưởng kinh tế liên tục và khá ổn định, gắn liền với các mặt tiến bộ trong đời sống xã hội, cơ sở hạ tầng phát triển, đô thị chỉnh trang. Hội An còn có tiềm năng du lịch phong phú, nằm trên “Con đường di sản thế giới”, đặc biệt có di sản văn hóa thế giới phố cổ Hội An được du khách biết đến như là một trong những điểm nhấn của du lịch miền Trung. Bên cạnh đó tốc độ đô thị hóa tại thành phố Hội An diễn ra nhanh chóng, kéo theo số lượng người từ các địa phương khác tới học tập, lao động, kinh doanh, sinh sống, du lịch gây khó khăn rất lớn đến việc quản lý nhân, hộ khẩu nhất là quản lý tạm trú, tạm vắng. Tại thành phố Hội An hiện nay có 03 trường đại học, cao đẳng; 03 ký túc xá sinh viên, 1.180 cơ sở cho thuê lưu trú, với số lượng nhân khẩu đến lao động, học tập, hoạt động khoảng 16.855 người. Đặc biệt, những năm gần đây các khu du lịch, dịch vụ phát triển mạnh tập trung đông người lao động từ nơi khác đến làm việc, các loại đối tượng hình sự, tệ nạn xã hội đến hoạt động và ẩn náu cùng với người lao động tại các cơ sở cho thuê lưu trú mà chủ yếu là ở các hộ ngăn phòng cho thuê, nhà nghỉ diễn ra hết sức phức tạp, trong 05 năm từ năm 2014 đến 2018 có 155 đối tượng ở địa bàn khác đến gây án bị Công an thành phố Hội An bắt giữ. Hàng năm thông qua kiểm tra hộ khẩu, kiểm tra việc thực hiện, chấp hành công tác đăng ký tạm trú, tạm vắng đã phát hiện hàng trăm đối tượng phạm pháp, đối tượng có quyết định truy nã lẩn trốn. Các vụ án giết người cướp tài sản, trộm 1 cắp, cố ý gây thương tích, lừa đảo xảy ra trong các cơ sở cho thuê lưu trú đặc biệt là trong nhà cho thuê tập trung đông nhân khẩu tạm trú đang ngày càng gia tăng. Từ thực trạng trên đây đã làm cho tình hình ANTT ngày càng trở nên phức tạp và có ảnh hưởng lớn tới đời sống của cư dân thành phố. Mặc dù các lực lượng chức năng đã có nhiều cố gắng trong việc áp dụng các biện pháp để tổ chức, quản lý cư trú và đã thu được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn có nhiều sơ hở, bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu công tác quản lý nhân hộ khẩu, quản lý tạm trú, tạm vắng. Nhìn chung công tác quản lý cư trú mang tính hành chính đơn thuần chưa đi sâu vào nắm chắc hoạt động, thái độ của từng diện nhân hộ khẩu trong từng khu vực. Mặt khác, một bộ phận không nhỏ cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng chưa nhận thức đúng tình hình phức tạp nảy sinh tại các hộ ngăn phòng cho thuê, các hộ có nhà cho thuê, khu ký túc xá… cũng như nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác quản lý nhân hộ khẩu để giữ vững ANTT tại địa bàn phụ trách. Chính vì vậy công tác quản lý nhà nước về cư trú, quản lý tạm trú, tạm vắng có một vị trí hết sức quan trọng. Thực hiện tốt công tác này không những có ý nghĩa trong việc đảm bảo tình hình ANTT nói chung mà còn phục vụ cho công tác phòng, chống tội phạm nói riêng. Hơn nữa làm tốt công tác quản lý cư trú, quản lý tạm trú, tạm vắng còn góp phần đắc lực cho công tác quản lý xã hội, hoạch định chính sách phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, giải quyết chính sách xã hội (y tế, giáo dục, nhà ở…) tại thành phố Hội An nói riêng và của cả nước nói chung. Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng và từ thực tiễn công tác lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng tại thành phố Hội An tác giả chọn nghiên cứu luận văn: “Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng từ thực tiễn thành phố Hội An, tỉnh 2 Quảng Nam” làm luận văn Thạc sĩ Luật học. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn Đã có một số đề tài nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau về công tác quản lý nhân hộ khẩu trong những phạm vi và đối tượng nhất định như: - Đề tài khoa học cấp cơ sở “Quản lý người lao động tự do ngoài tỉnh của Công an các phường Hà Nội - góp phần đảm bảo an ninh trật tự” của tác giả Đặng Thị Thanh, năm 2003; - Đề tài khoa học cấp cơ sở “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhân hộ khẩu tại khu công nghiệp tập trung ở Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Dân, năm 2006; Ở thành phố Hội An, ngoài các báo cáo chuyên đề, báo cáo tổng kết về công tác quản lý nhân hộ khẩu, quản lý tạm trú, tạm vắng của Phòng cảnh sát QLHC về TTXH (PC06) - Công an tỉnh Quảng Nam thì chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố Hội An, phân tích, làm rõ những tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân nhằm đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tạm trú, tạm vắng phục vụ công tác quản lý nhà nước trên địa bàn thành phố Hội An. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau: + Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận, những quy định của pháp luật về việc tổ chức quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng. 3 + Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố Hội An; kết quả đạt được trong phòng, chống tội phạm; tìm ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân. + Dự báo tình hình và đưa ra được các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố Hội An phục vụ công tác quản lý xã hội trong thời gian tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Thực trạng công tác quản lý tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. 4.2. Phạm vi nghiên cứu + Chủ thể tiến hành: UBND thành phố Hội An, Công an thành phố Hội An, các Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan Công an cấp xã trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. + Thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2018. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng và pháp Luật của nhà nước ta về quản lý nhà nước. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Nghiên cứu tài liệu; thống kê, phân tích, tổng hợp; tọa đàm, trao đổi và xin ý kiến các chuyên gia. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6.1. Ý nghĩa lý luận Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận 4 nghiệp vụ quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính về ANTT đối với công tác đảm bảo ANTT, phòng, chống tội phạm nói riêng. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Những kết luận khoa học trong luận văn và các đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng phục vụ qunr lý xã hội trên địa bàn thành phố Hội An. Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu, học tập trong học viên của Học viện Khoa học xã hội. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và luận văn gồm 03 chương: Chương 1: Nhận thức chung về quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của trên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam 5 Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG 1.1. Nhận thức chung về quản lý cư trú công dân 1.1.1. Cư trú và quản lý cư trú công dân - Sơ lược về công tác đăng ký, quản lý cư trú của một số nước trên thế giới và của Việt Nam. Công tác đăng ký và quản lý cư trú có vị trí hết sức quan trọng và có tác dụng to lớn đối với hoạt động quản lý xã hội của nhà nước. Thông qua Công tác quản lý cư trú cơ quan chức năng thu thập thông tin, tài liệu về công dân và hoạt động cư trú của công dân để phục vụ cho các yêu cầu quản lý xã hội, hoạch định được các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đáp ứng việc thực hiện quyền nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật. Quản lý xã hội thực chất là quản lý con người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Con người luôn luôn là chủ thể của mọi hoạt động xã hội và là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, vì vậy quản lý cư trú được hình thành, phát triển từ rất sớm và nó diễn ra hầu như ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Từ đó cho thấy quản lý cư trú là một tất yếu khách quan vì trong xã hội có giai cấp, phải có quản lý xã hội, đồng thời nó đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội phải quản lý con người, mà trước hết là qua hoạt động cư trú. Vì thế chúng ta có thể khẳng định: Trên thế giới vấn đề quản lý cư trú của con người đã có từ rất lâu, do bản chất của từng nhà nước khác nhau mà mục đích, hình thức, biện pháp quản lý cư trú khác nhau. 6 Ở Mỹ: Mỗi người từ khi sinh ra đã được cấp mã số công dân riêng. Mã số được dùng chung cho tất cả các loại giấy tờ liên quan đến nhân thân công dân như căn cước, hộ chiếu, bằng lái xe… mã số không bao giờ được dùng lại cho người thứ hai trong xã hội (kể cả khi người được cấp thẻ chết). Liên minh Châu Âu (EU): Sau khi các nước trong liên minh Châu Âu ký hiệp định về việc mở cửa biên giới và tự do đi lại giữa các nước thành viên, các nước Pháp, Đức, Hà Lan đã thống nhất sử dụng một loại hộ chiếu EU. Loại thẻ công dân này chứa đựng thông tin đầy đủ về một con người gồm các nội dung như: hộ tịch, cư trú, căn cước. Ở Trung Quốc: Hiện tại vẫn thực hiện chế độ quản lý công dân theo hộ khẩu, trừ các đối tượng được quản lý theo diện tạm trú, tạm vắng thì ở Trung Quốc ngoài sổ hộ khẩu bình thường còn hình thành loại sổ hộ khẩu màu xanh dành cho dân nhập cư tạm trú và do đó các đối tượng có hộ khẩu xanh cũng không được hưởng đầy đủ các quyền lợi như dân có hộ khẩu thường. Một số nước khác có cách làm riêng tùy thuộc hoàn cảnh của từng quốc gia như quản lý công dân thông qua giấy phép lái xe hay thẻ thuế. Dữ liệu công dân được lưu giữ trong máy tính và cung cấp cho các cơ quan chức năng như cảnh sát, tư pháp, thuế, hải quan. Ở Việt Nam: Thời kỳ cổ và trung đại, theo sách sử để lại thì các quy định về quản lý con người đã xuất hiện trước công nguyên đến thế kỷ thứ 7. Hình thức quản lý đơn giản, theo trình độ phát triển, tóm lại trong giai đoạn cổ đại và Nhà nước phong kiến vấn đề quản lý cư trú của con người nhằm mục đích áp đặt sự thống trị giai cấp của nhà nước đó. Thời kỳ thống trị của thực dân Pháp (từ năm 1858 – 1945): Thực dân Pháp thực hiện các hình thức quản lý chặt chẽ, tỷ mỉ ở thành phố, thị xã. Quản lý từng người, từng gia đình, có sổ theo dõi quản lý, đối với những người từ 15 tuổi trở lên đều có danh chỉ bản. Mục đích: nộp tô, thuế, bắt lính, 7 bắt phu… phục vụ cho hoạt động cai trị, bóc lột và khai thác thuộc địa. Thời kỳ đấu tranh chống Đế quốc Mỹ: Ở miền Nam, dưới chế độ Mỹ, Ngụy chính sách quản lý cư trú chặt chẽ và có hệ thống, bao gồm vùng nội thành và vùng giáp ranh với vùng tự do. Thể hiện các quy định về lập hồ sơ, sổ sách từng người, từng gia đình, có dán ảnh được bảo quản và khai thác một cách quy mô và hệ thống. Mục đích: Phục vụ bắt lính, quản dân, thực hiện các chính sách chống cộng; miền Bắc, sau hòa bình lập lại (1954) Nhà nước nghiên cứu, tổ chức chỉ đạo quản lý cư trú nhằm tăng cường quản lý xã hội, củng cố chính quyền cách mạng. Năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Chính phủ ban hành Quyết định 54/CP ngày 17-8-1976 điều chỉnh công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu trên phạm vi toàn miền Nam. Quyết Định 167/CP ngày 18/9/1976 hướng dẫn, bổ sung và chỉ đạo công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu phù hợp với tình hình miền Nam. Ngày 07-01-1988 Chính phủ ban hành Nghị định 04/CP ban hành Điều lệ đăng ký, quản lý hộ khẩu. Ngày 10-5-1997 Chính Phủ ban hành Nghị định 51/CP quy định đăng ký, quản lý hộ khẩu thay thế các quy định trước đây và được thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Ngày 19-8-2005 Bộ Công an đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định 108/2005/NĐ-CP. Để công dân thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, ngày 29/11/2006 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật cư trú, đây là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất quy định về quyền tự do cư trú của công dân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trình tự, thủ tục đăng ký, quản lý cư trú (thường trú hoặc tạm trú), quyền, trách nhiệm của công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú theo đó là các nghị định thông tư hướng dẫn như nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25/6/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật cư trú; thông tư số 06/TT-BCA (C11) ngày 1/7/2007 hướng 8 dẫn thực hiện một số điều của luật cư trú. Nghị định số 56/2010/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định 107/2007/NĐ-CP. Trong điều kiện, tình hình thực tế hiện nay, ngày 20/6/2013 Quốc hội đã ban hành Luật số 36/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cư trú số 81/2006/QH11 và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2014. Ngày 18/4/ 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật cư trú; Bộ Công an ban hành Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày 9/9/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cư trú và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP. Thông tư số 61/2014/TT-BCA ngày 20/11/2014 quy định về quy trình đăng ký cư trú và Thông tư số 36/2014/TT-BCA ngày 9/9/2014 quy định về biểu mẫu sử dụng trong đăng ký, quản lý cư trú. Ngoài ra còn một số văn bản có liên quan như: luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012; Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính. Như vậy, quản lý cư trú công dân có thể hiểu khái quát là quản lý việc thường trú, tạm trú, tạm vắng của công dân. - Quản lý thường trú là việc đăng ký ghi nhận vào sổ hộ khẩu và áp dụng các biện pháp để quản lý đối với những người thường xuyên cư trú trên một địa bàn nhất định theo đơn vị hành chính. - Quản lý tạm trú là quản lý những người thường trú ở một nơi nhưng do lý do khác nhau họ đến ở lại một địa phương trong thời gian nhất định. - Quản lý tạm vắng là quản lý đối với những người thường trú của địa phương theo quy định của pháp luật khi đi ra khỏi địa phương của mình phải khai báo tạm vắng. 1.1.2. Đặc điểm của nhân khẩu tạm trú, tạm vắng Nhân khẩu từ nơi khác đến địa bàn hoạt động và quan hệ với nhân khẩu 9 thường trú có thể vì lý do thăm viếng, quan hệ làm ăn. Hoặc đối tượng phạm pháp nơi khác đến tạm trú nhằm trốn tránh sự truy bắt, xử lý của Công an, chính quyền địa phương nơi họ đăng ký hộ khẩu thường trú. Do đó nhân khẩu tạm trú là những người cần chú ý trong quản lý để phục vụ cho công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Ngoài ra theo quy luật chung của các băng nhóm tội phạm chuyên nghiệp thường đi địa bàn khác hoạt động. Vì vậy, đối với những đối tượng này thường đăng ký hộ khẩu tại phường này có thể sang địa bàn phường khác hoạt động, từ quận này sang quận khác tạm trú hoạt động hoặc từ thành phố đi các tỉnh hoạt động. 1.2. Nhận thức về quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng 1.2.1. Khái niệm, đối tượng, vai trò của công tác quản lý tạm trú, tạm vắng Trong thực tiễn mặc dù công dân đang đăng ký hộ khẩu thường trú ở một nơi nhất định nhưng không phải lúc nào họ cũng sinh sống và làm việc tại nơi đã đăng ký thường trú. Với nhiều lý do khác nhau, con người thường phải đi lại và thậm chí phải sống ở một nơi khác với nơi mình đã đăng ký thường trú trong một thời gian nhất định, đó chính là thời gian cư trú tạm thời để giải quyết công việc theo yêu cầu cá nhân. Thời gian cư trú tạm thời được gọi là thời gian tạm trú. Bên cạnh đó còn có một bộ phận không nhỏ những nhân khẩu sinh sống và làm ăn tại một thành phố, thị xã có tính lâu dài và họ coi nơi đang sinh sống là nơi cư ngụ thật sự của họ và những nhân khẩu này có ý định cư ngụ tại nơi ở hiện tại, không có ý định chuyển đi nơi khác; do quy định của pháp luật nên những nhân khẩu đang sinh sống tại nơi đang cư ngụ chưa được đăng ký hộ khẩu thường trú, những trường hợp này cũng được coi là tạm trú. Thời gian tạm trú ngắn hay dài là tùy theo yêu cầu của công việc cũng như cuộc sống đòi hỏi. Vì vậy Khoản 01 điều 30 Luật cư trú được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 10 thông qua ngày 29-11-2006, có hiệu lực thi hành ngày 01-7-2007 đã nêu: “Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký tạm trú, cấp sổ tạm trú cho họ.” [18] - Đối tượng phải đăng ký tạm trú và khai báo tạm vắng được quy định cụ thể tại khoản 2 điều 30 và khoản 1 khoản 2 điều 32 Luật cư trú. [18] + Đối tượng phải đăng ký tạm trú bao gồm: Người đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa phương đó thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày đến phải đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn. + Đối tượng phải khai báo tạm vắng bao gồm: Bị can, bị cáo đang tại ngoại, người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo; người bị phạt cải tạo không giam giữ; người đang bị quản chế; người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành khi đi khỏi nơi cư trú từ một ngày trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng. Người trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự, dự bị động viên khi đi khỏi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mình cư trú từ ba tháng trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng. - Vai trò của quản lý tạm trú, tạm vắng. Đối với hoạt động quản lý xã hội của đất nước, công tác quản lý cư trú, quản lý tạm trú, tạm vắng là một biện pháp quản lý hành chính nhằm xác định việc cư trú cũng như những thông tin cơ bản nhất về nhân thân của công dân 11 để làm tiền đề phục vụ cho hoạch định chính sách xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đồng thời nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường quản lý xã hội của Nhà nước. Công tác quản lý cư trú, quản lý tạm trú, tạm vắng là cơ sở đảm bảo cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Hiến pháp năm 2013 và pháp luật đã quy định quyền và nghĩa vụ của công dân. Để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mỗi công dân phải chứng minh tư cách công dân của mình trên cơ sở được chính quyền thừa nhận thông qua việc đăng ký và quản lý hộ khẩu, đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng để xác định về mặt cư trú. Thông qua nơi cư trú để công dân thực hiện các quyền: xây dựng chính quyền (quyền bầu cử, ứng cử...), quyền lao động, tự do kinh doanh, học tập, chăm sóc sức khỏe, tự do ngôn luận, tự do cư trú, tự do tín ngưỡng... và thực hiện nghĩa vụ của công dân như nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật... Đặc biệt là trên lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia và TTATXH, công tác quản lý tạm trú, tạm vắng có ý nghĩa quan trọng trong phòng, chống tội phạm. Thông qua công tác quản lý tạm trú, tạm vắng chúng ta có thể hiểu được những vấn đề cơ bản của từng con người cụ thể về tên tuổi, nơi cư trú, quan hệ xã hội, đời sống kinh tế, người tốt, người xấu, các đối tượng cần tập trung phòng ngừa, người lạc hậu... trên cơ sở nắm vững tình hình từng nhân, hộ khẩu cư trú trên địa bàn, từ đó Công an, ban ngành, đoàn thể, lực lượng an ninh cơ sở có kế hoạch, biện pháp phù hợp nhằm tuyên truyền, giáo dục họ trong việc thực hiện tốt những quy định của nhà nước về công tác bảo vệ ANTT cũng như có biện pháp phòng ngừa không để họ đi vào con đường hoạt động tội phạm. Đồng thời qua công tác quản lý tạm trú, tạm vắng để nắm chắc về con người sinh sống ở địa bàn trên mọi phương diện nhằm phục vụ cho việc tiến hành xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc 12 sát với tình hình thực tế cũng như làm cơ sở cho việc xây dựng thế trận an ninh nhân dân. Việc quản lý tạm trú, tạm vắng một cách chặt chẽ còn giúp cho chúng ta có điều kiện, chủ động phát hiện kịp thời các loại tội phạm, đặc biệt là các đối tượng trốn lệnh truy nã. Thực tế đã chứng minh rằng các đối tượng phạm tội trốn lệnh truy nã luôn tìm mọi cách để lẩn trốn vào những nơi mà công tác quản lý con người, quản lý tạm trú, tạm vắng của Công an có nhiều sơ hở. Trong những năm qua, nhờ thực hiện tốt công tác quản lý tạm trú, tạm vắng ở một số nơi nói trên, chúng ta đã phát hiện được nhiều đối tượng phạm tội trốn lệnh truy nã. Thực hiện tốt công tác quản lý tạm trú, tạm vắng sẽ góp phần tích cực trong việc phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, hạn chế nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm cũng như phục vụ công tác điều tra khám phá tội phạm. Trong nhiều trường hợp do công dân hoặc các cơ sở cho thuê lưu trú không thực hiện đúng quy định về công tác khai báo tạm trú nên dẫn đến việc các đối tượng lợi dụng để hoạt động phạm tội và khi tội phạm xảy ra đã gây khó khăn cho công tác điều tra vì không nắm được nhân thân, lai lịch của đối tượng. Phát hiện, thu thập các tài liệu cần thiết về nhân khẩu tạm trú trên địa bàn, phục vụ cho quản lý về ANTT của ngành Công an. 1.2.2. Những quy định trong các văn bản pháp lý của Nhà nước về trình tự thủ tục, thẩm quyền trong đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng 1.2.2.1. Trình tự thủ tục trong đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng - Trình tự thủ tục trong quản lý tạm trú: được quy định tại điều 30 Luật cư trú và Thông tư 35/2014/TT-BCA ngày 09 tháng 09 năm 2014 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cư trú và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật cư trú 13 + Tại điều 16 Thông tư 35/2014/TT-BCA ngày 09 tháng 9 năm 2014 quy định: [3] 1. Hồ sơ đăng ký tạm trú bao gồm: a. Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu b. Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý cho đăng ký tạm trú vào chỗ ở của mình và ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, ký, ghi rõ họ, tên; trường hợp người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đã có ý kiến bằng văn bản đồng ý cho đăng ký tạm trú vào chỗ ở của mình thì không phải ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu. Xuất trình chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn nơi người đó thường trú. 2. Người tạm trú được chủ hộ đồng ý cho nhập vào sổ tạm trú hoặc đồng ý cho đăng ký tạm trú tại nơi thường trú của chủ hộ thì việc đồng ý phải được ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, ký, ghi rõ họ tên và ngày, tháng, năm. 3. Người đăng ký tạm trú nộp hồ sơ đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn. + Tại điều 17 quy định về cấp sổ tạm trú: [3] 1. Sổ tạm trú được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký tạm trú theo quy định tại Điều 30 Luật Cư trú và quy định tại Thông tư này, có giá trị xác định nơi tạm trú của công dân và có thời hạn tối đa là hai mươi bốn tháng. Như vậy sổ tạm trú cấp cho cá nhân hoặc hộ gia đình có thời hạn tối đa không quá hai mươi bốn tháng. Khi sổ tạm trú hết thời hạn, hộ gia đình hoặc cá nhân vẫn tiếp tục tạm trú thì đại diện hộ gia đình hoặc cá nhân đến cơ quan Công an nơi cấp sổ tạm trú làm thủ tục gia hạn tạm trú; thời hạn tạm trú của 14 mỗi lần gia hạn tối đa không quá thời hạn còn lại của sổ tạm trú. Trường hợp sổ tạm trú hết thời hạn sử dụng mà hộ gia đình hoặc cá nhân vẫn tiếp tục tạm trú tại đó thì đại diện hộ gia đình hoặc cá nhân đến cơ quan Công an nơi cấp sổ tạm trú làm thủ tục cấp lại sổ tạm trú. Mỗi hộ gia đình đăng ký tạm trú thì được cử một người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ làm chủ hộ để thực hiện và hướng dẫn các thành viên trong hộ thực hiện quy định về đăng ký, quản lý cư trú. Trường hợp không có người từ đủ 18 tuổi trở lên hoặc có người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được cử một người trong hộ làm chủ hộ. Học sinh, sinh viên, học viên ở tập trung trong ký túc xá, khu nhà ở của học sinh, sinh viên, học viên; người lao động ở tập trung tại các khu nhà ở của người lao động thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải có văn bản đề nghị đăng ký tạm trú, kèm theo danh sách và được ghi vào sổ đăng ký tạm trú. Danh sách bao gồm các thông tin cơ bản của từng cá nhân: Họ và tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; nguyên quán; dân tộc; tôn giáo; số chứng minh nhân dân; nghề nghiệp, nơi làm việc; nơi thường trú; nơi tạm trú, thời hạn tạm trú. Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm xác nhận về việc đã đăng ký tạm trú vào danh sách đăng ký tạm trú của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Trường hợp cá nhân có nhu cầu cấp sổ tạm trú riêng thì được cấp riêng. 2. Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày trước ngày hết thời hạn tạm trú, cá nhân, cơ quan, tổ chức đến cơ quan Công an nơi đăng ký tạm trú để làm thủ tục gia hạn tạm trú. a. Hồ sơ gia hạn tạm trú, bao gồm: - Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; - Sổ tạm trú; - Đối với trường hợp học sinh, sinh viên, học viên ở tập trung trong ký túc xá, khu nhà ở của học sinh, sinh viên, học viên; người lao động ở tập 15
- Xem thêm -