Tài liệu Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan - qua thực tiễn hải quan tỉnh thừa thiên huế

  • Số trang: 117 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 51 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC Formatted: No widow/orphan control Formatted: Font: 13 pt LỜI CAM ĐOAN Formatted: Font: 14 pt, Not Bold CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Formatted: Left, No widow/orphan control MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 Formatted: TOC 1, Justified, Right: 0,8 cm, Widow/Orphan control 1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................. 1 Formatted: Justified, Right: 0,8 cm, Line spacing: 1,5 lines 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .................................................. 3 3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài .................................................................... 4 4. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài .................................................................... 4 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu .................................................. 5 6. Đóng góp mới của luận văn ........................................................................ 5 7. Kết cấu của luận văn .................................................................................. 5 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN ........................................ 7 1.1. Các khái niệm liên quan đến quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan ................................................................................ 7 1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật ..................................... 7 1.1.2. Khái niệm hải quan ........................................................................... 9 Formatted: Justified, Indent: Left: 0,5 cm, Right: 0,8 cm, Line spacing: 1,5 lines 1.1.3. Khái niệm hoạt động hải quan ........................................................ 11 1.1.4. Khái quát về sự hình thành phát triển của hải quan ......................... 20 1.2. Đặc điểm, nội dung của quản lý nhà nước bằng pháp luật trong Formatted: Justified, Right: 0,8 cm, Line spacing: 1,5 lines lĩnh vực hải quan ........................................................................................ 23 1.2.1. Đặc điểm của quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan .. 23 1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan........ 32 Kết luận chương 1 ...................................................................................... 36 Chương 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QLNN TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN ................................................. 39 Formatted: Justified, Indent: Left: 0,5 cm, Right: 0,8 cm, Line spacing: 1,5 lines Formatted: Justified, Right: 0,8 cm, Line spacing: 1,5 lines 2.1. Pháp luật về kiểm tra thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.............. 41 Formatted: Justified, Right: 0,8 cm, Line spacing: 1,5 lines 2.2. Pháp luật về thủ tục hải quan ............................................................. 43 2.3. Pháp luật về kiểm tra, giám sát hải quan ........................................... 45 2.4. Pháp luật về phòng, chống buôn lậu và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan .............................................................................. 46 Kết luận chương 2 ...................................................................................... 49 Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QLNN TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QLNN BẰNG PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN .............. 51 3.1. Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan tại Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế ..................................... 51 3.1.1. Giới thiệu sơ lược về Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế .............. 52 3.1.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về kiểm tra thu thuế hàng hoá Formatted: Justified, Indent: Left: 0,5 cm, Hanging: 1,25 cm, Right: 0,8 cm, Line spacing: 1,5 lines xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế ......... 55 3.1.3. Thực trạng thực hiện pháp luật về thủ tục hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế .............................................................. 57 3.1.4. Thực trạng thực hiện pháp luật về kiểm tra, giám sát hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế ................................................ 59 3.1.5. Thực trạng thực hiện pháp luật về phòng, chống buôn lậu và xử lý vi phạm pháp luật hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế ......... 62 3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý nhà nước bằng Formatted: Justified, Right: 0,8 cm, Line spacing: 1,5 lines pháp luật trong lĩnh vực hải quan ............................................................. 64 3.2.1. Những tác động khách quan tiêu cực, yếu kém của cơ chế quản lý vĩ mô, những ảnh hưởng mặt trái của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa ................................................................................... 64 3.2.2. Những tồn tại, hạn chế của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực hải quan .. 67 Formatted: Justified, Indent: Left: 0,5 cm, Hanging: 1,25 cm, Right: 0,8 cm, Line spacing: 1,5 lines 3.2.3. Những nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan ......................... 71 3.3. Giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Formatted: Justified, Indent: Left: 0,5 cm, Hanging: 1,25 cm, Right: 0,8 cm, Line spacing: 1,5 lines Formatted: Justified, Right: 0,8 cm, Line spacing: 1,5 lines bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan .................................................... 76 3.3.1. Giải pháp xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan ................................................................... 76 Formatted: Justified, Indent: Left: 0,5 cm, Hanging: 1,25 cm, Right: 0,8 cm, Line spacing: 1,5 lines 3.3.2. Tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy quản lý hoạt động hải quan ......... 80 3.3.3. Tiếp tục tăng cường hoạt động, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong lĩnh vực hải quan.................................................... 85 3.3.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật hải quan; phòng, chống và xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan ............................................................ 86 3.3.5. Tăng cường phối hợp giữa ngành Hải quan với ngành, các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng trong quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan............................ 90 3.3.6. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học hải quan, khoa học pháp lý để tạo cơ sở khoa học cho việc đổi mới quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan ........................................... 92 Kết luận chương 3 ...................................................................................... 94 KẾT LUẬN ................................................................................................. 95 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA CÁC TÁC GIẢ................................. 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 99 PHỤ LỤC Formatted: Justified, Right: 0,8 cm, Line spacing: 1,5 lines CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN DN Doanh nghiệp GTGT Giá trị gia tăng NK Nhập khẩu PL Pháp luật PLHQ Pháp luật hải quan QLNN Quản lý nhà nước QPPL Quy phạm pháp luật TTHQ Thủ tục hải quan UBND Ủy ban nhân dân XHCN Xã hội chủ nghĩa XK Xuất khẩu XNC Xuất cảnh, nhập cảnh XNK Xuất khẩu, nhập khẩu Formatted: No widow/orphan control Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, Space Before: 0 pt, No widow/orphan control Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, Space Before: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines, No widow/orphan control Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, Space Before: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines, No widow/orphan control Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, Space Before: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines, No widow/orphan control Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, Space Before: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines, No widow/orphan control Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, Space Before: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines, No widow/orphan control Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, Space Before: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines, No widow/orphan control Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, Space Before: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines, No widow/orphan control Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, Space Before: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines, No widow/orphan control Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, Space Before: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines, No widow/orphan control Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, Space Before: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines, No widow/orphan control Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, Space Before: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines, No widow/orphan control Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, Space Before: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines, No widow/orphan control Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, Space Before: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines, No widow/orphan control MỞ ĐẦU Formatted: Font: Times New Roman Formatted: Centered, Level 1, Indent: First line: 0 cm Mở đầu Formatted: Footer distance from edge: 2,15 cm Formatted: Font: 14 pt 1. Tính cấp thiết của đề tài Formatted: Justified, Level 1, No widow/orphan control Pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong việc Nhà nước thực hiện chức Formatted: Level 1, Indent: First line: 0 cm, No widow/orphan control năng quản lý của mình. Pháp luật là công cụ của Nhà nước để quản lý xã hội, công cụ hướng dẫn và bảo đảm, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân. Do đó, quản lý nhà nước (QLNN) bằng pháp luật không có nghĩa là áp dụng, sử dụng pháp luật một cách cứng nhắc, bóp nghẹt tính chủ động, sáng tạo, mà phải xác định và điều chỉnh đúng các quy luật vận động của đời sống KTXH từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước trong việc thực hiện chức năng quản lý của mình, đồng thời giúp đất nước phát triển đúng định hướng và mục tiêu đã định trước. Hoạt động QLNN trong lĩnh vực hải quan không nằm ngoài ý nghĩa nêu trên, song trên thực tế vẫn còn tồn tại không ít vấn đề cần phải được nghiên cứu, bởi sự cần thiết cả về lý luận cũng như thực tiễn của vấn đề này. Hiện nay, vấn đề QLNN trong lĩnh vực hải quan là vấn đề hết sức cấp bách, đặc biệt cần phải được quan tâm, coi trọng, đó là vì: Thứ nhất, Đảng ta chủ trương chính sách "độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế"; chủ động hội nhập để phát triển kinh tế, nhưng phải bảo vệ được lợi ích dân tộc, độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia và an ninh kinh tế, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường; bảo vệ và phát triển, giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam, giao lưu, hội nhập với các nền văn hoá thế giới. Thứ hai, đời sống kinh tế, văn hoá - xã hộii… trên toàn cầu, ở từng khu vực "từng ngày, từng giờ" thay đổi phức tạp, đòi hỏi các quốc gia phải có sự hợp tác, thống nhất tiêu chuẩn pháp lý về thủ tục hải quan, kiểm tra, kiểm soát, 1 Formatted: Font: 6 pt Formatted: Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu; phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; phòng, chống các hoạt động vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, "rửa tiền", buôn bán, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia…; giảm thiểu các biện pháp kiểm soát bằng phi quan thuế, tiến tới thống nhất biểu thuế quan chung. Hải quan được xem là “người gác cửa” nền kinh tế của hầu hết các quốc gia, vì thế khi lực lượng này triển khai thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình thì hàng hóa trong nước sẽ được ổn định về số lượng và giá cả, giúp cho nền kinh tế từng bước phát triển; đặc biệt hàng hóa là chất ma túy, chất độc hại sẽ được ngăn chặn, không cho xâm nhập vào thị trường nội địa góp phần giữ gìn trật tự xã hội. Cần nhấn mạnh thêm ý: vai trò của hải quan trong phát triển KT, XH Thứ ba, tTrong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011), Đảng ta khẳng định: "Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành ban? pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa " [1203]. Thứ tư, cải cách nền hành chính nhà nước là xu thế chung của các quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, trong đó đòi hỏi phải cải cách, đổi mới cả thể chế, bộ máy, các biện pháp đảm bảo thực hiện. Xây dựng một nền hành chính hiện đại, trong sạch, vững mạnh, đơn giản, giảm thiểu phiền hà, tiêu cực, tham nhũng; một nền "hành chính công" phải lấy mục tiêu, mục đích "phục vụ" là chủ yếu. 2 Formatted: Expanded by 0,2 pt Thứ năm, hệ thống pháp luật trong lĩnh vực hải quan mặc dù luôn được phát triển, củng cố, đổi mới; nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành, bổ sung, sửa đổi., Tuy nhiênSong, bên cạnh những ưu điểm, vẫn còn không ít hạn chế, tồn tại, như: hệ thống pháp luật đồ sộ, tính ổn định kém, bất cập, nhiều quy định chưa rõ ràng, ban hành chậm trễ; thiếu tính đồng bộ giữa pháp luật thủ tục và luật nội dung; hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và rà soát, hệ thống hóa pháp luật chưa được chú trọng, quan tâm đúng mức, còn mang nặng tính tạm thời, đối phó tình thế là chủ yếu… Thứ sáu, tình hình thực hiện pháp luật trong lĩnh vực hải quan còn Formatted: Expanded by 0,2 pt nhiều bất cập: thủ tục hành chính rườm rà, nạn nhũng nhiễu của cán bộ công chức... Đặc biệt, Thứ bảy, qua thực tiễn công tác tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế, tôi nhận thấy rằng việc tổ chức thực hiện và đảm bảo thực hiện pháp luật bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn không ít khiếm khuyết, hạn chế, chưa đạt yêu cầu, mục tiêu, mục đích, hiệu quả quản lý đặt ra, như là: một số văn bản pháp luật bị chồng chéo gây ảnh hưởng rất lớn đến việc triển khai thực hiện; công cụ hỗ trợ quản lý chưa được trang bị một cách đầy đủ, hiện đại.., ví dụ.. Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: "Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan - qua thực tiễn Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế" là rất cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Formatted: Level 1, Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control Ở Việt Nam trước đó, đã có một số công trình có đề cập đến QLNN Formatted: Not Expanded by / Condensed by bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan, như: "Hải quan trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của Nguyễn Đức Kiên, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7-2002; "Đặc thù của công tác hải quan ở nước ta hiện nay" của ThS. Chu Văn Nhân, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8-2002; 3 Formatted: Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control "Một số vấn đề về văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp tới hoạt động quản lý nhà nước về hải quan" của Nguyễn Hữu Xuân, Tạp chí Nghiên cứu Hải quan, số 3-2002; “Pháp luật hải quan Việt Nam trước yêu cầu thực hiện “tự do hóa thương mại” và nghĩa vụ thành viên WTO” của Phạm Thị Hải Yến, luận văn thạc sĩ Luật năm 2008; “Pháp luật về kiểm tra sau thông quan, chuẩn mực quốc tế và thực tiễn áp dụng của Hải quan Việt Nam” của Nguyễn Thị Thu Hường, luận văn thạc sĩ Luật năm 2009… Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu, những công trình này chỉ đề cập đến QLNN bằng pháp luật ở một số góc độ, khía cạnh nhất định, chưa có tính khái quát, bao trùm toàn bộ nội dung QLNN bằng PL trong lĩnh vực hải quan. 3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Formatted: Level 1, Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ luật và với khả năng cho phép, tác Formatted: Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control giả cố gắng nghiên cứu một số vấn đề lý luận về QLNN về hải quan cũng như hệ thống pháp luật thực định về hải quan; tổng quát hoạt động QLNN của Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2010 đến nay; tập trung nghiên cứu một số nội dung cơ bản của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế. 4. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài Formatted: Level 1, Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control - Về mục đích, luận văn nhằm tìm ra những quan điểm, giải pháp nâng Formatted: Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control cao hiệu quả QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng. - Về nhiệm vụ, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau: + Phân tích cơ sở lý luận về QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan, như: phân tích một số khái niệm liên quan, đặc điểm và nội dung QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan. + Phân tích, đánh giá khái quát thực trạng QLNN bằng pháp luật tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm gần đây, rút ra những thành quả, 4 tồn tại và nguyên nhân hạn chế. + Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Formatted: Level 1, Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Formatted: Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm có tính lý luận của Đảng trong các đường lối, chủ trương đổi mới, thực hiện "đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế", xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học Mác Lênin như: phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp lịch sử cụ thể và một số phương pháp của các bộ môn khoa học khác như: phương pháp luật học so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp hệ thống, phương pháp của xã hội học... 6. Đóng góp mới của luận văn Formatted: Level 1, Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control - Luận văn nghiên cứu có hệ thống những khái niệm liên quan đến vấn Formatted: Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control đề QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan; phân tích đặc điểm, nội dung của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan. - Phân đtích, đánh giá, tổng kết thực trạng QLNN bằng pháp luật tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm gần đây. - Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan. 7. Kết cấu của luận văn Formatted: Level 1, Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Formatted: Justified, Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước bằng pháp trong luật lĩnh vực hải quan. 5 Chương 2: Một số quy định của Ppháp luật về QLNN trong lĩnh vực hải quan. Formatted: Expanded by 0,3 pt Formatted: Font: 14 pt, Expanded by 0,3 pt Chương 3: Thực trạng thực hiện pháp luật về QLNN trong lĩnh vực hải Formatted: Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control quan tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan. Formatted: Font: Italic Formatted: Centered, Level 1, Indent: First line: 0 cm, No widow/orphan control Formatted: Level 1, No widow/orphan control 6 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước Formatted: Font: Times New Roman Formatted: Centered, Level 1, Indent: First line: 0 cm Formatted: Level 1, No widow/orphan control bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan Formatted: Level 1, Indent: First line: 0 cm, No widow/orphan control 1.1. Các khái niệm liên quan đến quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan Formatted: Level 1, Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control Formatted: Font: 14 pt Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan vừa liên quan Formatted: Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control đến những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học pháp lý, vừa là lĩnh vực QLNN chuyên ngành - khoa học hải quan. Vì thế, nghiên cứu vấn đề QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan qua thực tiễn hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế, về lý luận phải làm rõ các khái niệm, phạm trù liên quan. Đó không chỉ là vấn đề nhận thức, mà còn có ý nghĩa phương pháp luận để nghiên cứu những đặc điểm, nội dung QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan, và đặc biệt là giúp cho việc đánh giá chính xác thực trạng, từ đó đưa ra các đề xuất, các giải pháp có tính thuyết phục nhằm nâng cao hiệu quả QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan tại Cục hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế. 1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật Formatted: Font: Italic Quản lý là một khái niệm được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Formatted: Level 1, Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control Theo sách "Gốc và Nghĩa từ Việt thông dụng", quản lý là "trông nom, sửa sang, sắp đặt công việc", trong đó "quản" là "coi sóc công việc", "lý" là "sửa sang, sắp đặt công việc" [330, tr. 695]. Theo quan niệm của điều khiển học, quản lý là "điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên 7 Formatted: Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước" [289, tr. 7]. Các Mác - nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học - khi nghiên cứu những vấn đề tổ chức quản lý xã hội, trước hết là quản lý lao động, đã chỉ rõ: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều Formatted: Indent: Left: 0 cm, First line: 1,27 cm, No widow/orphan control hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một nghệ sĩ vĩ cầm tự điều khiển mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [21, tr. 480]. Trong tiến trình phát triển của lịch sử, cùng với sự phát triển của khoa Formatted: Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control học quản lý đã xuất hiện những quan niệm khác nhau về quản lý, trong đó quan niệm phổ biến của quản lý, ở đây quản lý xã hội "là sự tác động nhằm điều khiển các quá trình xã hội, các hành vi và hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt được mục đích và đúng với ý chí của chủ thể quản lý". Quản lý nhà nước là quản lý xã hội, quản lý từng lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, do Nhà nước tiến hành, và quản lý chính việc tổ chức, Formatted: Not Expanded by / Condensed by hoạt động của Nhà nước. Như thế, QLNN chỉ xuất hiện khi Nhà nước xuất hiện. Ph.Ăngghen, người bạn chiến đấu vĩ đại của C. Mác đã chỉ rõ bản chất giai cấp, đặc trưng của QLNN. Theo ông, QLNN là quản lý xã hội do giai cấp nắm quyền thống trị xã hội thực hiện thông qua Nhà nước của nó. Nhà nước quản lý xã hội bằng cách phân chia dân cư theo "địa vực", trên cơ sở thiết lập một "quyền lực công cộng" tách rời khỏi dân cư và bằng việc đặt ra pháp luật, Formatted: Not Expanded by / Condensed by bắt buộc mọi tổ chức, mọi thành viên xã hội phải thi hành [32, tr. 178; 251; Formatted: Not Expanded by / Condensed by 253; 254]. Trong nhiều tác phẩm khác, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề ra những điều kiện của quản lý, trong đó, nhấn mạnh để quản lý phải có các chuẩn mực 8 Formatted: Not Expanded by / Condensed by pháp lý, bộ máy quản lý và một quyền uy nhất định đủ để buộc đối tượng Formatted: Not Expanded by / Condensed by quản lý tuân theo ý chí được thể hiện trong các chuẩn mực pháp lý, trong các Formatted: Not Expanded by / Condensed by quyết định quản lý cụ thể. Từ các quan niệm trên, QLNN bằng pháp luật được hiểu là quản lý xã hội, do Nhà nước đại diện cho giai cấp thống trị xã hội tiến hành bằng công cụ pháp luật với việc sử dụng kết hợp với các công cụ, phương pháp và bằng hình thức khác nhau để tác động lên các quá trình xã hội, nhằm thiết lập, duy trì trật tự xã hội có lợi cho giai cấp thống trị. 1.1.2. Khái niệm hải quan Formatted: Font: Italic Để hiểu rõ khái niệm hải quan trước hết chúng ta cần tìm hiểu nguồn Formatted: Level 1, Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control Formatted: Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control gốc hình thành cụm từ “Hải quan” ở Việt Nam. Ngành Hải quan của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam được Formatted: Expanded by 0,2 pt thành lập ngày 10-9-1945 với cái tên là “Sở thuế quan và thuế gián thu” thuộc Bộ Tài chính. Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, ngày 15-11-1954 “Sở thuế quan và thuế gián thu” được đổi tên thành “Cục Hải quan” trực thuộc Bộ Công thương-(tiền thân của Bộ Ngoại thương sau này). Ngày 20-10-1984, Chính phủ ban hành Nghị định 139/HĐBT thành lập “Tổng cục Hải quan” trực thuộc Chính phủ và là “công cụ chuyên chính bán vũ trang của Đảng và Nhà nước”, ngày 4-9-2002, Thủ tướng chính phủ quyết định chuyển Tổng cục Hải quan – “cơ quan quản lý Nhà nước về Hải quan” về Bộ Tài chính [276][287]. Theo đồng chí Nguyễn Chanh [92012] - nguyên thứ trưởng Bộ Ngoại Thương - người đã tham gia đặt tên cho lực lượng hải quan vào thập kỷ 50 của thế kỷ trước thì ban đầu lãnh đạo Bộ Ngoại thương có ý định giữ tên Thuế quan, nhưng những ý kiến phản biện lại cho rằng trong thời điểm hiện tại không có thuế xuất nhập khẩu thì không thể gọi là thuế quan, sau đó đã có những ý kiến khác lấy tên là Douane (Sở đoan), nhưng do những thành kiến 9 Formatted: Expanded by 0,2 pt của dân ta với lính douane thời Pháp thuộc nên không thể đi đến nhất trí. Bên cạnh đó, Lực lượng này được giao những nhiệm vụ như kiểm tra Hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu và công cụ vận tải xuất nhập cảnh, chống buôn lậu qua biên giới, chống buôn lậu thuốc phiện, bảo vệ độc quyền ngoại thương của nhà nước, do đó phải tìm một cái tên khác không liên quan tới thuế. Được biết ở Trung quốc, lực lượng này được gọi là Hải quan. Và vì cái tên Hải quan không liên quan tới thuế, thoả mãn yêu cầu ban đầu do tập thể lãnh đạo Bộ Ngoại thương đề ra, hơn nữa tên gọi này có vẻ huyền bí, nên cuối cùng ban lãnh đạo Bộ Ngoại thương lúc đó đã quyết định mượn từ tiếng Trung quốc tên gọi này. Vào giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước, trong trào lưu đổi mới và xoá bỏ nạn quan liêu bao cấp, nhà nước ta đã ban hành luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và giao cho Hải quan thu. Kết quả đem lại thật bất ngờ, thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu đã đóng góp một phần quan trọng vào Ngân sách Nhà nước. Chính vì, Hải quan là nguồn thu lớn nên người ta đã định đổi lại tên Hải quan thành Thuế quan như trước đây. Nhưng sau khi cân nhắc kỹ, thấy với cái tên này, Trung quốc, Đài loan, Hồng công và Macao thì Hải quan vẫn thu thuế, và trong viễn cảnh thuế suất các mặt hàng cũng dần mất đi tiến tới bằng không và lực lượng này sẽ không còn nguồn thu, vấn đề đặt ra là tên gọi lại phải thay đổi? Với những lý lẽ trên nên ý định thay tên Hải quan không được chấp nhận. Cuốn từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ xuất bản 2005 [323] giải thích Hải quan “việc kiểm soát và đánh thuế hàng hoá xuất nhập cảnh”. Cách giải thích này chỉ cho chúng ta biết hoạt động của lực lượng này, chứ chưa cho chúng ta biết gì về ý nghĩa của cái tên đó. Trên thế giới, Ai cập và các quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và các quốc gia Pháp ngữ (trừ Việt nam) gọi lực lượng này là Douane, 10 Formatted: Expanded by 0,2 pt các nước trong khối liên hiệp Anh gọi nó là Customs, người Hy lạp và các quốc gia nói tiếng Đức gọi nó là Zoll, người Nga gọi là Tamoshnia ,, Trung Formatted: Not Highlight quốc, Hồng công, Đài loan, Macao và Việt nam gọi là Hải quan - nghĩa đơn giản là cửa biển, còn Nhật và Hàn quốc gọi là Thuế quan [21]. Sở dĩ Trung quốc dùng tên “Cửa biển” để đặt tên cho lực lượng này vì từ xưa, việc giao lưu của Trung Quốc với nước ngoài chủ yếu là qua các cảng biển [278] .. Formatted: Expanded by 0,2 pt Formatted: Indent: First line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,45 li, No widow/orphan control Formatted: Expanded by 0,2 pt Theo cuốn Từ điển nghiệp vụ do Tổ chức Hải quan thế giới biên soạn, xem tổ chức đầy uy tín này định nghĩa: “Hải quan: cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm thi hành luật Hải quan và chịu trách nhiệm thu thuế và lệ phí Formatted: Expanded by 0,2 pt Formatted: Expanded by 0,2 pt, Not Highlight Formatted: Expanded by 0,2 pt xuất nhập khẩu,đồng thời cũng chịu trách nhiệm thi hành các luật lệ khác liên quan tới việc nhập khẩu, quá cảnh và xuất khẩu hàng hoá.”[34]. Từ đó, ta có thể hiểu rõ ràng hơn: “Hải quan là một trong những công cụ đối ngoại quan trọng của Chính phủ ,, có nhiệm vụ thay mặt Nhà nước để tiến hành các biện pháp kiểm tra nhà nước về Hải quan tại các cửa khẩu, thu thuế XNK, thuế gián thu và các lệ phí khác có liên quan tới hoạt động đối ngoại, chống buôn lậu qua biên giới ,, thực hiện Thống kê hàng hoá thực xuất và thực nhập” 1.1.3. Khái niệm hoạt động hải quan Hoạt động hải quan nhằm thực hiện các chính sách, chế độ, các quy định QLNN trong lĩnh vực hải quan. Hoạt động hải quan hiện nay gồm các hoạt động kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Như thế, hoạt động hải quan luôn gắn liền với hoạt động XNK, quá cảnh hàng hóa, XNC, 11 Formatted: Font: Italic Formatted: Justified, Level 1, Indent: First line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,45 li, No widow/orphan control Formatted: Not Expanded by / Condensed by Formatted: Indent: First line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,45 li, No widow/orphan control quá cảnh phương tiện vận tải, bằng cách sử dụng các biện pháp nghiệp vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý. Trong quan niệm trên về hoạt động hải quan có những khái niệm sau cũng cần được làm rõ: - Hàng hóa và hàng hóa XNK, quá cảnh: Theo Luật Hải quan năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan năm 2005 (gọi chung là Luật Hải quan) thì hàng hóa và hàng hóa XNK, quá cảnh, gồm: "Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; hành lý, ngoại hối, tiền Việt Nam của người xuất cảnh, nhập cảnh; vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; kim khí quí, đá quí, cổ vật, văn hóa phẩm, bưu phẩm, các tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan". Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh cũng theo Luật này bao gồm "tất cả động sản có mã số và tên gọi theo quy định của pháp luật được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan". Điều này có nghĩa là hàng hóa XNK, quá cảnh phải là loại đã được "mã số", có tên trong Danh mục hàng hóa XNK Việt Nam, là đối tượng (vật thể) phải làm thủ tục hải quan (TTHQ), chịu sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan. - Hành lý: Theo Luật Hải quan, "Hành lý của người xuất cảnh, nhập Formatted: Not Expanded by / Condensed by cảnh là vật dụng cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt hoặc mục đích chuyến đi của người xuất cảnh, nhập cảnh, bao gồm hành lý mang theo người, hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi". - Tài sản di chuyển: Theo Luật Hải quan, “Tài sản di chuyển là đồ dùng, Formatted: Condensed by 0,2 pt vật dụng phục vụ sinh hoạt, làm việc của cá nhân, gia đình, tổ chức được mang theo khi thôi cư trú, chấm dứt hoạt động ở Việt Nam hoặc nước ngoài”. - Xuất cảnh: Là "đi qua biên giới, ra khỏi lãnh thổ một nước" [2119, tr. 1874]; nhập cảnh là "qua biên giới vào lãnh thổ nước khác của người, hàng hóa theo thủ tục quy định của nước đó" [2119, tr. 1242]. Khác với "xuất cảnh, nhập 12 Formatted: Condensed by 0,1 pt Formatted: Condensed by 0,1 pt Formatted: Condensed by 0,1 pt cảnh" của lĩnh vực an ninh, ngoại giao, giao thông vận tải, trong hoạt động hải quan "xuất cảnh, nhập cảnh" được hiểu là hoạt động của cá nhân, phương tiện vận tải XNC khi mang theo hoặc chuyên chở đối tượng (vật thể) thuộc diện phải làm TTHQ, chịu sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan [234]. - Quá cảnh: Được hiểu là việc "vận chuyển hàng hóa, hành khách qua Formatted: Indent: First line: 1,27 cm, No widow/orphan control một hay nhiều nước để tới nước khác trên cơ sở hiệp định đã kí giữa các nước hữu quan" [1921, tr. 1357]. Theo Luật Hải quan, quá cảnh "là việc chuyển hàng hóa, phương tiện vận tải từ một nước qua cửa khẩu vào lãnh thổ Việt Nam đến một nước khác hoặc trở về nước đó". Hàng hóa, phương tiện vận tải quá cảnh Việt Nam phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép; vận chuyển, đi đúng tuyến đường; không phải kiểm tra thực tế (trừ khi vi phạm pháp luật), nhưng phải khai báo hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan đến khi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. - Phương tiện vận tải: theo Luật Hải quan, bao gồm "phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển, đường sông xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh". Ngoài ra, vận tải hàng hóa XNK, quá cảnh còn sử dụng nhiều phương tiện khác, như: ống dẫn chất lỏng, khí, dây dẫn kim loại, cáp quang,... - Vật dụng trên phương tiện vận tải: Theo Luật Hải quan bao gồm "tài sản sử dụng trên phương tiện vận tải; nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ hoạt động của phương tiện vận tải; lương thực, thực phẩm và các đồ dùng khác trực tiếp phục vụ sinh hoạt của người làm việc và hành khách trên phương tiện vận tải". Vật dụng trên phương tiện vận tải khi nhập cảnh không phải làm TTHQ, nhưng phải chịu sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan khi vào khu vực địa bàn hoạt động hải quan và cho đến khi xuất cảnh khỏi lãnh thổ Việt Nam. Phương tiện vận tải nhập cảnh khi còn lưu lại, đậu, đỗ ở Việt Nam được mua sắm, bổ sung vật dụng, được miễn thuế XNK, và phải làm TTHQ. 13 Formatted: Expanded by 0,2 pt - Người khai hải quan: Khai ở đây được hiểu là "cho biết hoặc làm cho biết"; khai báo là "khai với nhà chức trách những việc có liên quan tới mình hoặc mình biết được" [19201, tr. 884]. Không giống với việc khai báo cư trú, khai báo trong ngăn chặn hành chính, hình sự, "khai hải quan" là hoạt động khai báo với cơ quan hải quan về hàng hóa, phương tiện vận tải được dùng để XNK hoặc XNC, quá cảnh. Khai hải quan được tiến hành bởi "người khai hải quan". "Người khai hải quan bao gồm chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải hoặc người được chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải ủy quyền" [234]. Điều này có nghĩa là khai hải quan được tiến hành bởi chủ sở hữu hợp pháp đối với hàng hóa XNK, chủ phương tiện vận tải có thể là chủ sở hữu hợp pháp, người điều khiển hoặc lái phương tiện vận tải, hoặc người được chủ sở hữu hàng hóa, chủ phương tiện vận tải hàng hóa ủy quyền hợp pháp để thay mặt họ khai báo, làm TTHQ trong phạm vi được ủy quyền. Khai hải quan có thể thực hiện bằng tờ khai (chất liệu bằng giấy) hoặc khai bằng phương tiện điện tử (khai qua mạng máy vi tính). - Đại lý làm thủ tục hải quan: Đại lý được hiểu là "nơi mua bán giao dịch hoặc xử lý công việc theo ủy thác của đơn vị sản xuất, thương nghiệp" [2119, tr.578]. Theo Luật Hải quan, "đại lý làm thủ tục hải quan là người khai hải quan theo ủy quyền của người có quyền và nghĩa vụ trong việc làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu". Điều này có nghĩa là "đại lý làm thủ tục hải quan" là người được chủ sở hữu hàng hóa XNK (kể cả người được ủy thác) ủy quyền làm TTHQ, thực hiện quyền, nghĩa vụ, các công việc khai, ký tờ khai, công việc khác của TTHQ theo hợp đồng ủy quyền; chịu trách nhiệm trước pháp luật trong phạm vi được ủy quyền về các nghĩa vụ của người khai hải quan; yêu cầu chủ sở hữu hàng hóa cung cấp đầy đủ, chính xác chứng từ, thông tin cần cho việc làm TTHQ, và đòi bồi thường thiệt hại, các chi phí phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng đại lý của chủ 14 hàng gây ra. Người chủ hàng phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của bộ chứng từ, thông tin về hàng hóa đã cung cấp cho người đại lý, mặt khác, người đại lý phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước, người chủ sở hữu hàng hóa về hành vi vi phạm pháp luật do lạm dụng hợp đồng ủy quyền. - Thủ tục hải quan: Trong QLNN, "thủ tục" được hiểu là "cách thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định theo quy định của cơ quan nhà nước" [19201, tr. 1596]. Theo Luật Hải quan, "thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện" trong mối quan hệ đối ứng quyền, nghĩa vụ giữa Nhà nước với pháp nhân, công dân. Người khai hải quan (pháp nhân, công dân) phải khai và nộp tờ khai hải quan; nộp hoặc xuất trình chứng từ thuộc hồ sơ hải quan; đưa hàng hóa, phương tiện vận tải đến địa điểm được quy định cho việc kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải; nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Công chức hải quan (Nhà nước) phải tiếp nhận và đăng ký hồ sơ hải quan; kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải; thu thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; quyết định việc thông quan hàng hóa, phương tiện vận tải. Thủ tục hải quan được tiến hành đơn giản, công khai, nhanh chóng, thuận tiện, theo đúng quy định của pháp luật. Thủ tục hải quan có thể bị tạm dừng khi có yêu cầu tạm dừng XNK, quá cảnh hàng hóa mà bị cho là đã vi phạm quyền sở hữu trí tuệ hợp pháp, nhưng phải theo đúng quy định của pháp luật và người yêu cầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật khi đưa ra yêu cầu này. - Thủ tục hải quan điện tử: Theo Thông tư số 222/2009/TT-BTC ngày 25/11/2009 của Bộ Tài chính thì thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan trong đó việc khai báo, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, ra quyết định được thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan. Trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử thì người khai hải quan và cán bộ hải 15 quan chỉ làm việc với nhau trên Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan và hồ sơ hải quan là loại hồ sơ hải quan điện tử. Trong trường hợp cần thiết thì cán bộ hải quan vẫn có thể yêu cầu người khai hải quan mang hồ sơ hải quan giấy đến để kiểm tra. - Kiểm tra hải quan: Kiểm tra được hiểu là "xem xét thực chất, thực tế" một sự việc, sự vật nào đó [19210, tr. 937]. Kiểm tra hải quan không đồng nghĩa với kiểm tra công việc của cấp trên đối với cấp dưới, kiểm tra "chéo" cùng cấp hoặc khám xét-một biện pháp ngăn chặn hành chính, hình sự. "Kiểm tra hải quan", theo Luật Hải quan là "việc kiểm tra hồ sơ hải quan, các chứng từ liên quan và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải do cơ quan hải quan thực hiện" hoặc do cơ quan được pháp luật ủy quyền thực hiện để đánh giá sự tuân thủ PLHQ của pháp nhân, thể nhân công dân thực hiện XNK, XNC, quá cảnh hàng hóa, phương tiện vận tải. Kiểm tra hồ sơ hải quan, chứng từ liên quan để xem xét tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ, chứng từ, quyết định đăng ký hoặc từ chối đăng ký hồ sơ hải quan. Kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải là việc đối chiếu giữa nội dung khai hải quan với hiện hữu thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải. Kiểm tra thực tế hàng hóa có thể theo tỷ lệ hàng hóa từ 1%-10%, kiểm tra 100% hoặc miễn kiểm tra thực tế, căn cứ vào tình hình chấp hành pháp luật của chủ hàng, chính sách mặt hàng hoặc danh mục mặt hàng được Nhà nước quy định miễn kiểm tra; hàng hóa của đối tượng miễn khai, miễn kiểm tra. Kiểm tra hải quan được tiến hành với sự chứng kiến của chủ hàng hoặc đại diện hợp pháp của chủ hàng hoặc có thể kiểm tra vắng mặt chủ hàng hóa khi cần thiết để đảm bảo an ninh, môi trường, dịch bệnh với sự chứng kiến của đại diện vận tải, đại diện của ủy ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn nơi gần nhất. Kiểm tra hải quan được thực hiện theo phương châm "giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm", đảm bảo hàng hóa, phương tiện vận tải thông quan nhanh nhất trong thời hạn quy định 16
- Xem thêm -