Tài liệu Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh 1919 1939

  • Số trang: 32 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 3250 |
  • Lượt tải: 1
congnguyenvan33697

Tham gia: 22/04/2016

Mô tả:

ĐỀ TÀI QUAN HỆ QUỐC TẾ GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI 1918 – 1939 MỤC LỤC CHUYÊN ĐỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI 1918 – 1939...............................................................................................................1 PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................................1 1. Lí do chọn chuyên đề.....................................................................................................1 2. Mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu của chuyên đề..........................................1 2.1. Mục đích nghiên cứu của chuyên đề.........................................................................1 2.2. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của chuyên đề.........................................................2 3. Cấu trúc của chuyên đề gồm các phần........................................................................2 PHẦN NỘI DUNG.............................................................................................................3 CHƯƠNG 1 KIẾN THỨC CƠ BẢN QUAN HỆ QUỐC TẾ GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI 1919-1939...........................................................................3 1.1. Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ nhất-“Trật tự V-O”..................3 1.1.1. Bối cảnh hình thành trật tự thế giới sau chiến tranh thế giới thứ nhất..............3 1.1.2. Hệ thống hoà ước Vecxai – Oasinhtơn...................................................................4 1.1.2.1. Hội nghị Vécxai.....................................................................................................4 1.1.2.2. Hội nghị Oasinhtơn và các Hiệp ước Oasinhtơn (1921-1922)..........................7 1.2. Sự sụp đổ của trật tự V-O và con đường dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai (1929 – 1939).......................................................................................................................8 1.2.1. Hệ quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929- 1933..................................8 1.2.2. Sự hình thành ba lò lửa chiến tranh thế giới và thái độ của các cường quốc... .9 1.2.2.1. Lò lửa chiến tranh ở Nhật Bản.............................................................................9 1.2.2.2. Lò lửa chiến tranh ở Đức....................................................................................10 1.2.2.3. Lò lửa chiến tranh ở Ý.........................................................................................11 1.2.2.4. Sự hình thành khối trục phát xít Đức – Ý - Nhật (11/1937)..............................11 1.2.2.5. Thái độ của Liên Xô, Anh, Pháp, Mĩ đối với sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít...12 CHƯƠNG 2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI 1919-1939.....................15 2.1. Một số phương pháp giảng dạy, ôn tập chuyên đề................................................15 2.1.1. Vẽ sơ đồ trục tiến trình Lịch sử quan hệ quốc tế 1919-1939.............................15 1 2.1.2. Lập bảng tóm tắt các sự kiện chính của quan hệ quốc tế 1919-1939................15 2.1.3. Hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ cây...............................................................17 2.1.4. Sử dụng hình ảnh, số liệu, đoạn trích dẫn nhận định của các học giả…để giúp học sinh tư duy Lịch sử...................................................................................................18 2.1.4.1. Quan sát hình ảnh yêu cầu học sinh xác định sự kiện, nêu và nhận xét.........18 2.1.4.2. Quan sát số liệu yêu cầu học sinh xác định sự kiện, nhận xét..........................18 2.1.4.3. Dựa vào đoạn tư liệu, trích dẫn, yêu cầu học sinh đánh giá, nhận xét............19 2.2. Một số câu hỏi thường gặp trong chuyên đề Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới 1919-1939..................................................................................................20 PHẦN KẾT LUẬN..........................................................................................................28 1. Rút ra những vấn đề quan trọng của chuyên đề.......................................................28 2. Một số đề xuất, ý kiến chủ quan.................................................................................29 TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................30 CHUYÊN ĐỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ 2 GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI 1918 – 1939 Th.s: Phan Đình Thuận Đơn vị: Trường THPT Chuyên Thái Nguyên PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn chuyên đề. Thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng, quan hệ đối ngoại nước ta ngày càng được mở rộng theo phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa trên tinh thần Việt Nam muốn là bạn, đối tác của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình, hợp tác, phát triển. Do đó, việc tìm hiểu quan hệ quốc tế trong mọi thời kì lịch sử giữ vai trò rất quan trọng. Là giáo viên bộ môn Lịch sử ở trường THPT Chuyên Thái Nguyên, tôi nhận thấy truyền đạt kiến thức phần quan hệ quốc tế cho học sinh rất lí thú và ý nghĩa. Mặt khác, quan hệ quốc tế là nội dung khá quan trọng trong các kì thi Quốc gia môn Lịch sử. Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới 1919 - 1939 là một đề tài hay trong ôn tập và bồi dưỡng HSGQG môn Lịch sử ở trường phổ thông. Được sự phân công của đơn vị tổ chức Hội thảo Khoa học các trường Chuyên khu vực Duyên hải và Đồng Bằng Bắc Bộ, tôi đã tập hợp một số tài liệu viết chuyên đề: “Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới 1919-1939”, nhằm cung cấp cho giáo viên, học sinh tham khảo khi ôn luyện để chuẩn bị cho các kì thi HSG Quốc gia môn Lịch sử. 2. Mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu của chuyên đề. 2.1. Mục đích nghiên cứu của chuyên đề. Chuyên đề góp phần giúp học sinh có kiến thức sâu sắc và nhận thức đầy đủ hơn về Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới 1919-1939. Qua đó, học sinh biết phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh…Bên cạnh đó, 3 một số câu hỏi trong chuyên đề liên quan mật thiết với kiến thức cơ bản, mang tính thực tế, khả năng vận dụng cao và được trả lời tương đối khoa học, logic... Nội dung của chuyên đề giúp giáo viên một số phương pháp khai thác kiến thức để hướng dẫn học sinh tìm hiểu nhiều dạng câu hỏi. 2.2. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của chuyên đề. Một số nội dung kiến thức chuyên sâu về quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới 1919-1939. Một số phương pháp giảng dạy, học tập và các câu hỏi thường gặp về quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới 1919-1939. 3. Cấu trúc của chuyên đề gồm các phần. - Phần mở đầu. - Phần nội dung: Gồm 02 chương. Chương 1. Kiến thức cơ bản quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới 1919-1939 Chương 2. Một số phương pháp giảng dạy chuyên đề quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới 1919-1939 - Phần kết luận. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên Quan hệ quốc tế là một vấn đề khá phức tạp nên chuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những bổ sung góp ý của các đồng nghiệp để chuyên được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KIẾN THỨC CƠ BẢN QUAN HỆ QUỐC TẾ 4 GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI 1919-1939 1.1. Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ nhất-“Trật tự VO” 1.1.1. Bối cảnh hình thành trật tự thế giới sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc đã mở ra thời kì mới trong quan hệ quốc tế, làm thay đổi cục diện tình hình thế giới, đặc biệt là châu Âu. Chiến trường chính diễn ra ở các nước châu Âu nên các cường quốc châu Âu đều bị suy yếu. Hai nước tư bản lâu đời Anh, Pháp đều thắng trận nhưng nền kinh tế đều bị suy yếu và trở thành con nợ của Mĩ. Mĩ vì tham gia chiến tranh muộn, thu về 24 tỉ đô la trong việc buôn bán vũ khí nên đã vươn lên hàng đầu về kinh tế, tài chính và cũng có một tiềm năng quân sự đáng kể. Italia là một đồng minh ốm yếu trong chiến tranh bị xâu xé bởi cuộc đấu tranh trong nước và khủng hoảng trầm trọng. Ba nước đế quốc rộng lớn như Nga, Đức, Áo– Hung lần lượt sụp đổ, bị tàn phá nặng nề....Tương quan lực lượng giữa các cường quốc thay đổi rõ rệt, ngày càng bất lợi cho các nước tư bản châu Âu. Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 cũng tạo ra những chuyển biến căn bản của tình hình thế giới. Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã chọc thủng khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc, chiếm 1/6 diện tích trái đất. “Chủ nghĩa tư bản không còn là một một hệ thống duy nhất trên thế giới nữa và một nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện. Cuộc cách mạng tháng Mười đã ảnh hưởng sâu sắc đến cục diện toàn thế giới, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới và đe dọa sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Vấn đề được đặt ra đối với giới cầm quyền các nước tư 5 bản là làm sao tiêu diệt được nước Nga Xô viết để duy trì sự ổn định của chủ nghĩa tư bản” . Do hậu quả của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và ảnh hưởng sâu sắc của cuộc cách mạng tháng Mười Nga, một cao trào cách mạng đã bùng nổ và phát triển mạnh mẽ trong những năm 1918 – 1923 ở hầu hết các nước tư bản, các nước thuộc địa, phụ thuộc. 1.1.2. Hệ thống hoà ước Vecxai – Oasinhtơn. 1.1.2.1. Hội nghị Vecxai Chiến tranh thế giới thứ nhất giữa phe Hiệp ước (Anh, Pháp, Nga) và phe Liên minh (Đức, Áo, Hung và Italia) kết thúc ngày 11-11-1918. Cuộc chiến tranh này đã đưa tới sự thay đổi sâu sắc trong tương quan lực lượng giữa các nước đế quốc, theo hướng ngày càng bất lợi cho các nước tư bản châu Âu vốn chiếm vị trí trung tâm trong thế giới tư bản chủ nghĩa trước đây, đồng thời cũng thay đổi cơ bản nội dung, tính chất của quan hệ quốc tế. Hệ thống đế quốc chủ nghĩa không còn nguyên vẹn. Nhà nước Liên Xô xã hội chủ nghĩa ra đời, đã trở thành thách thức to lớn đối với các nước tư bản chủ nghĩa. Phong trào cách mạng thế giới có bước phát triển mới. Trong hoàn cảnh đó, để giải quyết các vấn đề do chiến tranh đặt ra, các Hội nghị hòa bình được triệu tập tại Vecxai và Oasinhtơn nhằm tổ chức lại thế giới sau chiến tranh, phù hợp với tương quan lực lượng mới. Đây là cuộc đấu tranh phân chia quyền lợi giữa các nước đế quốc, do đó Hội nghị đã diễn ra trong không khí đấu tranh căng thẳng, gay gắt giữa các nước tư bản thắng trận. Hội nghị Vecxai họp từ ngày 18-1-1919 ở Pari với sự tham gia của 27 nước, nhưng quyền quyết định là do 3 vị đứng đầu của các nước Mĩ, Anh và Pháp. Báo chí tư sản ra sức tuyên truyền cho "sứ mệnh hoà bình" của Hội nghị Vecxai ("Hòa hội Vecxai"). Theo họ, đó là một nền "hoà bình dân chủ, 6 công bằng", "quyền tự quyết dân tộc". Đây là một cuộc họp của bọn đế quốc mang tính "ăn cướp", như Lênin nhận định. Hội nghị này còn có một mục đích khác, đó là tập hợp lực lượng để chống lại cách mạng Nga, Hunggari và nhiều nước khác . Trong thời gian hội nghị đã diễn ra sự bất đồng sâu sắc giữa các nước đồng minh trước đây. Các nhà tỉ phú Mĩ đã chi phí hàng trăm triệu đô la cho chiến tranh, tìm cách giành bá chủ thế gới. Tổng thống Mĩ Uynxơn trong "Chương trình 14 điểm" đã nêu nên quyền "lãnh tụ tinh thần" của Mĩ đối với thế giới, đòi áp dụng nguyên tắc "mở cửa". Để ngăn chặn sự bá quyền của Anh và Pháp ở châu Âu, phái đoàn Mĩ chủ trương duy trì một nước Đức quân phiệt mạnh. Như vậy, Mĩ sẽ củng cố được vị trí của mình ở châu Âu và điều chủ yếu là phải duy trì được nước Đức phản động để chống Liên Xô. Ngược lại, Pháp lại muốn làm suy yếu Đức đến tối đa nhằm thiết lập quyền bá chủ châu Âu. Pháp đòi sát nhập vùng than Xarơ và các miền đất khác của Đức ở bờ tây sông Ranh, giúp đỡ các nước Đông Nam Âu (Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumani...) nhằm xây dựng khối liên minh chống Đức và nước Nga Xô viết. Anh tìm cách làm suy yếu sức mạnh kinh tế và hải quân của Đức bằng cách giành cho được các thuộc địa của Đức vào đế quốc Anh. Anh cũng tìm cách ngăn chặn Pháp mạnh lên, và muốn sử dụng Đức làm đối thủ, cản trở sự bá quyền của Pháp ở châu Âu. Đáp lại sự ngăn cản của Anh đối với những đòi hỏi lãnh thổ của mình đối với Đức, Pháp đã công khai nói rõ: "Ngay sau chiến tranh, Anh đã trở thành đối thủ của chúng tôi" . Nội dung của Hội nghị Vecxai bao gồm một loạt Hoà ước kí với Đức và đồng minh của Đức, Nghị quyết thành lập Hội Quốc Liên. Hoà ước với Đức là quan trọng nhất, kí ngày 28-6-1919 tại phòng gương trong Cung điện Vecxai. Pháp nhận lại Andát, Loren và vùng than Xarơ. Đức thừa nhận Ba 7 Lan độc lập, trả lại Ba Lan vùng đất bị Phổ chiếm đóng trước đây. Ba Lan có đường ra biển Ban Tích. Đức bị tước bỏ các thuộc địa và bồi thường 132 tỉ Mác vàng tiền chiến phí, luật nghĩa vụ quân sự bị loại bỏ, cấm Đức phát triển tàu ngầm, tàu chiến, xe tăng và không quân. Vùng sông Ranh và khu vực rộng 50 km bên phải sông Ranh được tuyên bố là vùng phi quân sự. Tuy nhiên, Hoà ước Vecxai không đụng chạm đến các cơ sở trọng yếu của chủ nghĩa đế quốc Đức. Cơ sở công nghiệp quân sự Đức không bị tiêu diệt mà chỉ bị hạn chế. Trong khi thảo luận các điều khoản quân sự của Hoà ước, Tổng thống Mĩ Uynxơn đã tuyên bố rằng Đức cần phải có lực lượng quân sự cần thiết để "duy trì trật tự trong nước và đàn áp chủ nghĩa Bônsêvích". Số quân 100 nghìn người được tuyển lựa trên cơ sở tự nguyện. Như vậy, các nhà hoạch định Hoà ước Vecxai đã tạo ra những cơ sở thuận lợi để phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Đức nhằm chống lại Liên Xô và phong trào cách mạng ở chính nước Đức. Những Hòa ước được kí giữa các nước tư bản thắng trận với Đức và đồng minh của Đức như Áo, Hung, Bungari, Thổ Nhĩ Kỳ, tạo thành "hệ thống Vecxai", xác lập trật tự quan hệ quốc tế trong thế giới tư bản sau chiến tranh. Hệ thống Hòa ước Vecxai không có khả năng giải quyết mâu thuẫn giữa các nước đế quốc. Sự phân chia thế giới mới do các cường quốc thắng trận thực hiện chỉ có tính chất tạm thời. Hòa ước Vecxai đẻ ra mâu thuẫn giữa các nước thắng trận và bại trận. Mâu thuẫn này cũng nảy sinh ngay chính trong các nước thắng trận. Hòa ước kí ở Vecxai không thoả mãn ý đồ bành trướng của Mĩ. Nhận xét 8 Sự phân chia thế giới đã làm sâu sắc thêm quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản trong việc phân chia thuộc địa và phạm vi ảnh hưởng giữa các đế quốc thắng trận. Những trung tâm mâu thuẫn mới giữa các đế quốc nảy sinh. Hệ thống hòa ước Vecxai đã làm nảy sinh những mâu thuẫn dân tộc ở châu Âu khi một loạt các quốc gia ra đời mà không tính tới những nguyện vọng của các dân tộc này. Hoà ước Vecxai không thể vững chắc. Lênin đã đánh giá tính chất của nó như sau: "Đó là hoà ước ăn cướp chưa từng thấy... 7/10 dân cư thế giới nằm trong tình trạng nô lệ... Tất cả trật tự, chế độ quốc tế này dựa trên Hoà ước Vecxai đang nằm trên ngọn núi lửa". Đó rõ ràng là một "Hòa ước đế quốc chủ nghĩa". Sự ra đời của Hội Quốc Liên là công cụ bảo vệ quyền lợi của các cường quốc thắng trận. 1.1.2.2. Hội nghị Oasinhtơn và các Hiệp ước Oasinhtơn (1921-1922) Hội nghị Vecxai không thoả mãn yêu cầu của Mĩ, mong muốn đứng đầu thế giới. Vì vậy, Mĩ kí Hiệp ước riêng với Đức (8-1921) và tổ chức một hội nghị quốc tế ở Oasinhtơn (từ 11-1921 đến 2-1922). Các nước tham dự (Mĩ, Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Nhật Bản, Trung Quốc) đã kí các hiệp ước cam kết tôn trọng quyền của các nước Mĩ, Anh, Pháp, Nhật về thuộc địa của nhau, hạn chế lực lượng hải quân. Mĩ có quyền phát triển hải quân ngang với Anh, cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền của Trung Quốc và Trung Quốc "mở cửa" cho các nước. Hội nghị Oasinhtơn là thắng lợi ngoại giao của Mĩ: Giữ nguyên trạng khu vực Đông Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự bành trướng từ Nhật Bản nó tạo điều kiện cho Mĩ đứng đầu thế giới tư bản và thâm nhập vào Trung Quốc mạnh hơn. 9 Hiệp ước Oasinhtơn cùng với hệ thống Hòa ước Vécxai hình thành "Hệ thống Vecxai - Oasinhtơn", hoàn thành việc phân chia thế giới, thiết lập một trật tự thế giới sau chiến tranh. Trật tự thế giới này hoàn toàn phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị các nước đế quốc, chà đạp lên quyền lợi của các dân tộc đồng thời cũng gây mâu thuẫn giữa các nước thắng trận và bại trận và nhằm tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa xã hội. Nội bộ phe đế quốc cũng bị phân chia thành những nước thỏa mãn và bất mãn với hệ thống này, tạo nên mầm mống của những cuộc xung đột quốc tế trong tương lai. Như vậy, hòa bình thế giới đã được lập lại trong một thế giới chứa đựng nhiều mâu thuẫn và bất ổn. Nhận xét Hệ thống hoà ước Vecxai-Oasinhtơn, không đảm bảo hoà bình cho các dân tộc và thế giới, mà trái lại làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc. Nguyên soái Phốc, nguyên tổng tư lệnh quân đội Đồng minh ở châu Âu đã nói: “Đây không phải là hoà bình. Đây là một cuộc hưu chiến trong 20 năm”. Những mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc sau chiến tranh thế giới I vẫn đang cháy âm ỉ và chỉ chờ cơ hội là bùng cháy. 1.2. Sự sụp đổ của trật tự V-O và con đường dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai (1929-1939) 1.2.1. Hệ quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929- 1933 Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, gây hậu quả nặng nề về kinh tế, chính trị đe dọa nghiêm trọng sự tồn tại của CNTB. Mâu thuẫn xã hội trong các nước tư bản phát triển gay gắt. Phong trào đấu tranh của quần chúng dâng cao. Để cứu vãn tình thế và giải quyết hậu quả của khủng hoảng, trong thế giới tư bản hình thành hai xu hướng tìm kiếm con đường phát triển khác nhau: Các nước Anh, Pháp, Mĩ có nhiều thuộc địa, có thị trường rộng lớn 10 chủ trương tiếp tục duy trì chế độ đại nghị, duy trì nguyên hệ thống V-O. Các nước có ít thuộc địa ngày càng thiếu vốn, thiếu nguyện liệu và thị trường đã đi theo con đường phát xít hóa chế độ chính trị (điển hình là Đức, Ý, Nhật). Chúng thực hiện chế độ độc tài phát xít, hình thành khối liên minh phát xít Đức-Ý-Nhật (gọi phe Trục) Giai cấp tư sản phản động ở các quốc gia này chủ trương dùng vũ lực phát động chiến tranh phân chia lại thị trường thuộc địa. Nhận xét Điều này, dẫn tới sự hình thành hai khối đế quốc đối lập: Khối phát xít (Đ-Y-N) và khối dân chủ (A-P-M). Cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khối đã phá vỡ trật tự Hệ thống V-O. Quan hệ quốc tế trở nên căng thẳng, phức tạp, chồng chéo, dẫn tới sự hình thành các lò lửa chiến tranh, đó là dấu hiệu của cuộc chiến tranh thế giới mới khó có thể tránh khỏi. 1.2.2. Sự hình thành ba lò lửa chiến tranh thế giới và thái độ của các cường quốc. 1.2.2.1. Lò lửa chiến tranh ở Nhật Bản. Từ năm 1927, thủ tướng Nhật Tanaca đã vạch 1 kế hoạch chiến tranh toàn cầu khẳng định phải dùng chiến tranh để xoá bỏ những bất công mà mà Nhật phải chấp nhận trong các hiệp ước Oasinhtơn và đề ra kế hoạch cụ thể xâm lược Trung Quốc, từ đó mở rộng xâm lược toàn thế giới. Năm 1931, Nhật Bản tấn công vùng Đông bắc Trung Quốc biến vùng này thành thuộc địa và lập ra nhà nước “Mãn Châu độc lập” với chính phủ bù nhìn do Phổ Nghi đứng đầu. Việc Nhật Bản xâm lược vùng Đông bắc Trung Quốc đã động chạm đến quyền lợi của các nước tư bản phương Tây, nhất là Mĩ. “Tuy nhiên, Mĩ cũng như Anh, Pháp đã nhân nhượng, dung túng cho hành động xâm lược của Nhật với tính toán rằng Nhật sẽ tiêu diệt phong trào cách mạng ở Trung Quốc và tiến hành chiến tranh xâm lược Liên Xô” . Hội Quốc 11 Liên đã cử phái đoàn điều tra đến Trung Quốc nhưng đã không đưa ra được một hình phạt nào đối với Nhật. Sau đó Nhật Bản tiếp tục mở rộng xâm lược Trung Quốc. Để có thể tự do hành động tháng 3/1933 Nhật Bản tuyên bố rút khỏi Hội Quốc Liên. Hành động của Nhật đã phá tan nguyên trạng ở Đông Á do hiệp ước Oasinhtơn năm 1922 quy định, đánh dấu sự tan vỡ bước đầu của hệ thống Vecxai-Oasintơn. Từ năm 1937 Nhật Bản bắt đầu mở rộng chiến tranh trên toàn lãnh thổ Trung Quốc. Nhận xét Nhật Bản là nước đầu tiên có tham vọng phá vỡ hệ thống V-O bằng sức mạnh quân sự. Mĩ cũng như Anh, Pháp đã nhân nhượng, dung túng cho hành động xâm lược của Nhật. 1.2.2.2. Lò lửa chiến tranh ở Đức. Nước Đức bị thiệt hại quá nặng nề sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Do vậy, lực lượng quân phiệt Đức đã nuôi chí phục thù ngay từ sau khi nước Đức bại trận và phải chấp nhận hoà ước Vec-xai. Tháng 1/1933, Hit-le lãnh tụ của Đảng Quốc gia Xã hội Đức nên nắm quyền tổng thống đã mở ra một thời kì đen tối trong lịch sử nước Đức. Về đối nội, Hit-le đã tiến hành thủ tiêu nền dân chủ trong nước, đặt Đảng cộng sản Đức ra ngoài vòng pháp luật, xây dựng một nước Đức theo đường lối quân sự hoá để chuẩn bị chiến tranh xâm lược. Về đối ngoại Hit-le, thực hiện chính sách xâm lược đối với tất cả các nước nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ toàn cầu. Để tự do hành động, năm 1933, Đức tuyên bố rút khỏi Hội Quốc Liên. Tháng 5/1935, Hitle công khai vi phạm hoà ước Vec-xai, công bố đạo luật cưỡng bức tòng quân thành lập 36 sư đoàn. Không dừng lại ở đó, tháng 3/1936, Hit-le ra lệnh tái chiếm vùng Rênani, công khai xoá bỏ hoà ước Vec-xai, tiến sát biên giới nước Pháp. Lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất đã xuất hiện tại châu Âu. 12 Nhận xét Đức phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất theo Hòa ước Vecxai. Do vậy, lực lượng quân phiệt Đức đã nuôi chí phục thù ngay từ sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Chủ nghĩa phát xít Đức là lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất tại châu Âu, đe dọa nghiêm trọng nền hòa bình, an ninh thế giới. Có ý kiến cho rằng: Nếu không có Hítle thì không có chủ nghĩa phát xít Đức. Không có chủ nghĩa phát xít Đức thì không có chiến tranh thế giới thứ hai. 1.2.2.3. Lò lửa chiến tranh ở Ý. Tháng 10/1922, Mutxôlini thủ lĩnh Đảng phát xít Ý lên nắm quyền thủ tướng, đưa lịch sử nước Ý bước vào thời kì đen tối. Sau khi nắm chính quyền, Mutxôlini tiến hành thủ tiêu mọi quyền tự do, dân chủ trong nước, chống lại Đảng cộng sản. Để thoát ra khỏi cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933, giới cầm quyền phát xít ở Ý chủ trương quân sự hoá nền kinh tế, tăng cường chạy đua vũ trang và thực hiện chính sách bành trướng xâm lược ra bên ngoài. Từ năm 1934, Mutxôlini ráo riết chuẩn bị kế hoạch xâm lược thuộc địa, ban hành đạo luật quân sự hoá đất nước. Tháng 10/1935, Ý chính thức tiến hành chiến tranh xâm lược Êtiôpia, năm 1936 tiến hành can thiệp chống nước cộng hoà Tây Ban Nha. Để được tự do hành động, tháng 12/1937, Ý tuyên bố rút khỏi hội Quốc Liên. Nhận xét Ý không thoả mãn với việc phân chia thế giới theo hệ thống Hoà ước Vecxai-Oasinhtơn. Ý là lò lửa chiến tranh nguy hiểm thứ 2 ở châu Âu. 1.2.2.4. Sự hình thành khối trục phát xít Đức- Ý- Nhật (11/1937) Với sự hình thành của ba lò lửa chiến tranh ở Đức, Ý, Nhật nhân loại đang đứng trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới. Mặc dù có 13 những bất đồng, mâu thuẫn với nhau nhưng cả Đức, Ý, Nhật đều muốn phát động chiến tranh để chia lại thế giới xoá bỏ trật tự thế giới được thiết lập trên cơ sở những quy định của hoà ước Vecxai-Oasinhtơn. Ngoài ra cả ba nước này đều có chung một mục tiêu là tiêu diệt nước Liên Xô – xã hội chủ nghĩa. Để tăng thêm sức mạnh, đảm bảo cho những thắng lợi trong tương lai, ba nước Đức, Ý, Nhật đã quyết định xích lại gần nhau. Tháng 10/1936, Ý đã kí với Đức bản nghị định thư đánh dấu sự hình thành trục BéclinRôma. Bắt đầu từ đây, Đức và Ý tìm cách phối hợp và củng cố liên minh trong cuộc đối đầu với Liên Xô cũng như các đối thủ khác ở châu Âu. Hai lò lửa chiến tranh hình thành ở châu Âu bắt đầu có mối liên hệ với lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông. Ngày 25/11/1936, Đức và Nhật kí Hiệp ước chống Quốc tế cộng sản, cam kết phối hợp các hoạt động chính trị đối ngoại và các biện pháp cần thiết để chống Liên Xô và Quốc tế cộng sản, đồng thời còn nhằm chống cả Anh, Pháp, Mĩ. Ngày 6/11/1937, Ý tham gia hiệp ước này. Sự kiện đó đánh dấu Trục phát xít Béclin-Rôma-Tôkiô chính thức hình thành. Nhận xét Cuối những năm 30 quan hệ quốc tế bước vào một thời kì mới căng thẳng hơn, phức tạp hơn, trục phát xít đã chính thức ra đời, nhân loại đứng trước nguy cơ chiến tranh. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh đó có xảy ra hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào thái độ chống phát xít của Liên Xô và các nước tư bản dân chủ Anh, Pháp, Mĩ. 1.2.2.5. Thái độ của Liên Xô, Anh, Pháp, Mĩ đối với sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít. Cuối những năm 30 của thế kỉ XIX, quan hệ quốc tế trở nên vô cùng phức tạp và căng thẳng. Sự chuyển hoá mâu thuẫn giữa các cường quốc tư bản chủ nghĩa đã dẫn tới sự hình thành hai khối đế quốc đối địch nhau: khối 14 Trục phát xít do Đức, Ý, Nhật cầm đầu; khối đế quốc do Anh, Pháp, Mĩ cầm đầu. Trong khi khối Trục ráo riết chuẩn bị kế hoạch chiến tranh ngay từ đầu những năm 30, thì khối đế quốc Anh, Pháp, Mĩ mới bắt đầu quá trình này vào những năm cuối của thập niên 30. Chiến tranh thế giới ngày càng trở nên khó tránh khỏi. Ngay sau khi phát xít hoá bộ máy chính quyền và đặc biệt sau khi đã liên kết với nhau trong phe Trục, các nước phát xít Đức, Ý, Nhật công khai tiến hành chiến tranh xâm lược mở rộng lãnh thổ, phá vỡ trật tự của hoà ước Vecxai-Oasinhtơn. Trước tình hình đó, thái độ của Liên Xô và các nước tư bản dân chủ Anh, Pháp, Mĩ hoàn toàn khác nhau. Trong khi Liên Xô kiên quyết chống lại những hành động xâm lược, phá hoại hoà bình thế giới của phe phát xít, kêu gọi các nước Anh, Pháp, Mĩ cùng hợp tác để thực hiện thì các nước Anh Pháp, Mĩ lại có những hành động đi trái ngược lại với thiện chí của Liên Xô. Các nước này không muốn hợp tác cùng Liên Xô chống phát xít mà thi hành chính sách thoả hiệp, nhượng bộ làm ngơ trước những hành động xâm lược của chủ nghĩa phát xít để cho các nước phát xít tự do hành động với mưu đồ hướng mũi nhọn chiến tranh của phe phát xít để tiêu diệt nước Liên Xô xã hội chủ nghĩa. Một loạt các sự kiện diễn ra nửa cuối thập niên 30 của thế kỉ XX đã chứng tỏ điều này. Khi phe phát xít xâm lược Tiệp Khắc năm 1938, đòi chiếm vùng Xuyđét, trong khi Liên Xô ra sức kêu gọi Anh, Pháp cùng hợp sức để chống lại chủ nghĩa phát xít, bảo vệ Tiệp Khắc nhưng các nước Anh, Pháp đã phớt lờ đề nghị trên. Ở hội nghị Muy-nich (9/1938), Anh, Pháp đã đồng ý cho Đức cắt vùng Xuy-đet của Tiệp Khắc sáp nhập vào lãnh thổ của mình, và gây áp lực buộc chính phủ Tiệp Khắc phải chấp nhận Hiệp ước trên. Để đổi lại Đức kí với Anh, Pháp những Hiệp ước đảm bảo không xâm phạm nhau nhưng đó 15 chỉ là thủ đoạn chính trị của Hit-le, còn sau này khi chiến tranh xảy ra diễn biến của nó đã hoàn toàn đi ngược lại với sự suy tính của Anh, Pháp. Trước hành động mở rộng xâm lược toàn Trung Quốc của Nhật Bản từ năm 1937, các nước Anh, Pháp, Mĩ cũng không có hành động gì cụ thể để ngăn chặn mà tiếp tục thi hành chính sách thoả hiệp nhượng bộ đối với Nhật Bản. Sau đó Anh, Pháp còn rất nhiều hành động thoả hiệp nhượng bộ để cho phe phát xít tự do hành động phát triển lực lượng. Nhận xét Như vậy, giữa Liên Xô với các nước tư bản dân chủ Anh, Pháp, Mĩ đã không có một tiếng nói và hành động chung để chống lại sự phát triển của chủ nghĩa phát xít. Chính sách thoả hiệp nhượng bộ mù quáng của Anh, Pháp, Mĩ nhằm chĩa mũi nhọn chiến tranh của phe phát xít sang tiêu diệt Liên Xô đã tạo điều kiện cho chủ nghĩa phát xít lớn mạnh nhanh chóng, gấp rút chuẩn bị tiến hành cuộc chiến tranh nhằm phân chia lại thế giới. Thủ phạm gây nên cuộc chiến tranh thế giới thứ hai là chủ nghĩa phát xít, nhưng các nước Anh, Pháp, Mĩ phải chịu một phần trách nhiệm về sự bùng nổ của cuộc chiến tranh. Mĩ là nước giàu mạnh nhất, nhưng lại theo “chủ nghĩa biệt lập” ở Tây bán cầu, không tham gia Hội Quốc Liên và không can thiệp vào các sự kiện bên ngoài châu Mĩ. Tháng 9/1939 chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra chấm dứt sự tồn tại của trật tự thế giới theo khuôn khổ của hoà ước Vecxai–Oasinhtơn. 16 CHƯƠNG 2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI 1919-1939. 2.1. Một số phương pháp giảng dạy, ôn tập chuyên đề. 2.1.1. Vẽ sơ đồ trục tiến trình Lịch sử quan hệ quốc tế 1919-1939. Ví dụ 1. Khủng hoảng kinh tế thế giới Quá trình xác lập trật tự V-O 1919 1929 - Quá trình sụp đổ trật tự V-O - Sự hình thành 3 lò lửa chiến tranh 1933 1939 - Chiến tranh thế giới thứ nhất Trật tự V-O xác lập chứa đựng nhiều mâu thuẫn… - Hệ quả cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 + Trật tự V-O sụp đổ. + 3 lò lửa chiến tranh hình thành đe dọa hòa bình thế giới. 2.1.2. Lập bảng tóm tắt các sự kiện chính của quan hệ quốc tế 19191939. Lập bảng niên biểu có tác dụng hệ thống hóa kiến thức, yêu cầu học sinh nhận xét. Ví dụ 2. Thời gian Sự kiện tiêu biểu Nhận xét Ngày 11-11- Cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất Cuộc chiến tranh này 1918. giữa phe Hiệp ước (Anh, Pháp, đã đưa tới sự thay đổi Nga) và phe Liên minh (Đức, Áo, sâu sắc trong tương Hung và Italia) kết thúc 17 quan lực lượng giữa các nước đế quốc... Ngày 18-01- Hội nghị Vécxai họp ở Pari với sự Lênin đã đánh giá tính 1919 tham gia của 27 nước, nhưng chất của nó như sau: quyền quyết định là do 3 vị đứng "Đó là hoà ước ăn đầu của các nước Mĩ, Anh và cướp chưa từng thấy... Pháp. 7/10 dân cư thế giới nằm trong tình trạng nô lệ... Tất cả trật tự, chế độ quốc tế này dựa trên Hoà ước Vécxai đang nằm trên ngọn núi lửa". Đó rõ ràng là một "Hòa ước đế quốc chủ nghĩa"... Từ tháng 11- Hội nghị quốc tế ở Oasinhtơn gồm Hệ thống hoà ước 1921 đến 2- các nước tham dự Mĩ, Anh, Pháp, Vecxai-Oasinhtơn, 1922). Bỉ, Hà Lan, Nhật Bản, Trung không đảm bảo hoà Quốc.. bình cho các dân tộc và thế giới, mà trái lại làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn của chủ .... nghĩa đế quốc…. ….. .... 2.1.3. Hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ cây. 18 Ví dụ 3. Hệ thống hóa kiến thức quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới 1919-1939. Hòa ước Vecxai-Oasinhton kí kết, Trật tự V-O xác lập, chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Đức là nước thiệt hại nặng nề nhất. Khủng hoảng kinh tế thế giới 1929- 1933 gây hậu quả nặng nề đối với các nước tư bản GIẢI PHÁP CỦA CÁC NƯỚC TBCN Anh, Pháp, Mĩ tiến hành cải cách dân chủ Đức, Ý, Nhật tiến hành phát xít hóa bộ máy cầm quyên. Anh, Pháp, Mĩ từng bước dung túng, thòa hiệp CNPX. Hình thành 3 Lò lửa chiến tranh Đức, Ý, Nhật. Hiệp ước chống QTCS được kí kết Hội nghị Muynich tháng 09/1938 Ngày 01/09/1939 CTTG II bùng nổ 19 2.1.4. Sử dụng hình ảnh, số liệu, đoạn trích dẫn nhận định của các học giả…để giúp học sinh tư duy Lịch sử 2.1.4.1. Quan sát hình ảnh yêu cầu học sinh xác định sự kiện, nêu và nhận xét. Ví dụ 4: Hindenbua trao quyền cho Hitle Hội nghị Muynich 2.1.4.2. Quan sát số liệu yêu cầu học sinh xác định sự kiện, nhận xét. Ví dụ 5. Theo Hòa ước Vécxai nước Đức mất đi 1/8 diện tích đất đai; 1/12 dân số; 1/3 mỏ sắt; 1/3 mỏ than; 2/5 sản lượng gang; 1/3 sản lượng thép và một khoản bồi thường chiến phí khổng lồ…Toàn bộ gánh nặng của Hòa ước đè nặng lên nhân dân lao động. Nêu nhận xét của em về Hòa ước Vecxai đối với nước Đức. 20
- Xem thêm -