Tài liệu Quan hệ giữa con người và tự nhiên trong biện chứng của tự nhiên của ph.ăngghen và vận dụng vào xây dựng thành phố môi trường ở đà nẵng hiện nay.

  • Số trang: 26 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 416 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG NGUYỄN THỊ KIỀU NGA QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN TRONG “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN” CỦA PH.ĂNGGHEN VÀ VẬN DỤNG VÀO XÂY DỰNG THÀNH PHỐ MÔI TRƯỜNG Ở ĐÀ NẴNG HIỆN NAY Chuyên ngành: Triết học Mã số: 60.22.80 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Đà Nẵng – Năm 2014 Công trình được hoàn thành tại ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN HỒNG LƯU Phản biện 1: TS. Lê Thị Tuyết Ba Phản biện 2: TS. Nguyễn Thế Tư Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học xã hội và nhân văn họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 19 tháng 6 năm 2014. Có thể tìm hiểu luận văn tại: - Trung tâm thông tin học liệu – Đại học Đà Nẵng - Thư viện Trường Đại học Kinh tế – Đại học Đà Nẵng 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vấn đề môi trường, phát triển và bảo vệ môi trường hiện nay, đã và đang trở thành vấn đề nóng bỏng trong sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc. Đà Nẵng là thành phố trẻ đang trên đà phát triển nhanh và hướng tới sự phát triển bền vững. Mục đích hướng tới của thành phố miền Trung này là phát triển thành phố môi trường, thành phố đáng sống. Trong di sản của các vị thủy tổ sáng lập ra chủ nghĩa Mác, Ph Ăngghen là người có công bàn đến khá nhiều vấn đề liên quan đến môi trường tự nhiên trong mối quan hệ với con người. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và kế thừa tư tưởng của Ph. Ăngghen về vấn đề này để vận dụng vào xây dựng thành phố môi trường ở Đà Nẵng hiện nay, theo tôi là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ thực trạng và yêu cầu xây dựng một thành phố môi trường ở Đà Nẵng hiện nay, trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên" của Ph.Ăngghen, nhằm đưa ra những giải pháp cho hoạt động bảo vệ môi trường đảm bảo sự hài hòa giữa con người và tự nhiên cho sự phát triển bền vững của thành phố. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài “Quan hệ giữa con người và tự nhiên trong “Biện chứng của tự nhiên” của Ph.Ăngghen và vận dụng vào xây dựng thành phố môi trường ở Đà Nẵng hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận văn cao học của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu - Trên cơ sở nghiên cứu quan hệ giữa con người và tự nhiên 2 trong “Biện chứng của tự nhiên” của Ph.Ăngghen và thực trạng môi trường ở Đà Nẵng, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm xây dựng thành phố môi trường ở Đà Nẵng hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu những quan điểm của Ph.Ăngghen về tự nhiên, về con người và mối quan hệ giữa con người với môi trường sống, làm cơ sở lý luận khoa học cho việc nhận thức vấn đề này trong giai đoạn hiện nay. - Liên hệ thực tiễn công tác bảo vệ môi trường trong tiến trình xây dựng một thành phố môi trường ở Đà Nẵng hiện nay. - Đề xuất một số giải pháp cho hoạt động bảo vệ môi trường đảm bảo cho sự phát triển bền vững của thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu quan điểm của Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên mà chủ yếu là mối quan hệ giữa con người với môi trường sống. Trên cơ sở đó nghiên cứu thực trạng của vấn đề môi trường tại thành phố Đà Nẵng trong 10 năm trở lại đây nhằm góp phần xác định đúng những phương hướng và giải pháp để vận dụng vào xây dựng thành phố môi trường ở Đà Nẵng hiện nay. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Trên cơ sở phương pháp luận của phép biện chứng duy vật; các quan điểm của Đảng, Nhà nước và của Thành phố Đà Nẵng về vấn đề phát triển và bảo vệ môi trường, luận văn sử dụng các phương pháp logic và lịch sử; phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh đối chiếu... nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ của luận văn. 3 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Luận văn phân tích một cách cụ thể mối quan hệ biện chứng giữa con người với tự nhiên trên lập trường triết học Mác - Lênin. 2. Liên hệ thực tiễn tình hình phát triển kinh tế xã hội và quá trình xây dựng thành phố môi trường của Đà Nẵng. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cho việc thực hiện tốt hơn công tác bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của thành phố. 3. Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và học tập một số nội dung về mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên và sự phát triển bền vững. 4. Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo và cung cấp các luận cứ cho việc đề ra các chủ trương, chính sách đối với công tác bảo vệ môi trường sinh thái ở thành phố Đà Nẵng nhằm hướng tới một sự phát triển bền vững. 6. Bố cục của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 03 chương, 09 tiết. 7. Tổng quan vấn đề nghiên cứu * Các công trình nghiên cứu về quan hệ giữa tự nhiên và con người như: Nguyễn Trọng Chuẩn, Một số vấn đề về Triết học – Con người – Xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2002. Hồ Sĩ Quý (chủ biên), Mối quan hệ giữa tự nhiên và con người trong sự phát triển xã hội. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2000. * Các công trình nghiên cứu về môi trường và môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái như: Phạm Thị Ngọc Trầm, “Xây dựng đạo đức sinh thái - một trách nhiệm xã hội của con người đối với tự nhiên”, tạp chí Triết học số tháng 6/2009. 4 * Các công trình nghiên cứu về giáo dục, bảo vệ môi trường, giáo dục đạo đức sinh thái như: Đỗ Huy, “Giáo dục đạo đức sinh thái và xây dựng môi trường văn hoá trong lịch trình thế kỷ XXI”, tạp chí Lý luận chính trị tháng 2/2007. Nguyễn Công Thảo, Phạm Thị Cẩm Vân (2013), “Nghiên cứu môi trường dưới góc độ nhân học ở phương Tây và Việt Nam”, Khoa học xã hội Việt Nam, tr 92-104. * Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững nhìn từ góc độ quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và về phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên như: Lưu Đức Hải và Nguyễn Ngọc Sinh, “Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững”, năm 2005. Hoàng Đình Cúc “Phát triển bền vững ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” tạp chí triết học số 8/2009. Nguyễn Văn Thanh, Xây dựng mô hình kinh tế sinh thái hiện đại trong chiến lược phát triển đất nước, Tạp chí Cộng sản, số 802, năm 2009… * Các công trình nghiên cứu theo hướng kết hợp phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ môi trường tự nhiên ở thành phố Đà Nẵng như: Trần Hồng Lưu (chủ biên) (2013), Đà Nẵng - Thành phố phát triển bền vững, Nxb Thông tin và truyền thông, Hà Nội. Các văn kiện, báo cáo và quyết định liên quan đến việc xây dựng Đà Nẵng trở thành Thành phố môi trường vào năm 2020. 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CỦA PH.ĂNGGHEN VỀ CON NGƢỜI, TỰ NHIÊN 1.1. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 1.1.1. Tiểu sử của Ph.Ăngghen Ph. Ăngghen sinh ngày 28-11-1820 ở Bac-men (Barmen). Bố của ông là một chủ xưởng dệt lớn ở Phổ lúc bấy giờ. Năm 1837 Ăngghen phải thôi học trung học để làm kinh doanh. Ông tự học sử học, triết học, văn học, ngôn ngữ, thơ ca và thường xuyên đến Đại học Beclin để nghe giảng và thảo luận về triết học. Năm 1844, Ăngghen sang Paris gặp Mác và từ đó hai ông trở thành đôi bạn thân thiết, cộng tác chặt chẽ với nhau trong hoạt động khoa học và cách mạng. Tình bạn của hai ông được đánh giá là một trong những tình bạn có tính huyền thoại của thời cận đại. Các tác phẩm tiêu biểu của Ph. Ăngghen: Tình cảnh của giai cấp công nhân ở Anh (1842), Những phác thảo phê phán môn kinh tế chính trị học, Gia đình thần thánh (1845, viết chung với C.Mác), Hệ tư tưởng Đức (1845-1846, viết chung với C.Mác), Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848, viết chung với C.Mác), Chống Đuy-rinh (1818), Nguồn gốc gia đình, Chế độ tư hữu và Nhà nước (1884), Lútvích Phơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (1866), Biện chứng của tự nhiên (1873-1883), Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức (1894), và nhiều bài báo, tác phẩm có giá trị khác. 1.1.2. Tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” của Ph.Ăngghen Taïc pháøm âæåüc Ph.Ăngghen viãút vaìo nhæîng nàm 1873-1883. Taïc pháøm chæa hoaìn thaình, nhæng noï coï yï nghéa to låïn trong 6 kho taìng lyï luáûn Maïc-Lãnin. Noï cung cáúp cho chuïng ta kiãøu máùu vãö viãûc váûn duûng pheïp biãûn chæïng trong quaï trçnh phán têch, khaïi quaït caïc thaình tæûu cuía khoa hoüc tæû nhiãn, vaûch ra phæång hæåïng cho khoa hoüc tæû nhiãn phaït triãøn. Noï cung cáúp nhiãöu váún âãö thãú giåïi quan vaì phæång phaïp luáûn biãûn chæïng duy váût. * Nội dung cơ bản trong tác phẩm: - Những sơ thảo đề cương (từ trang 455-457) - Lời nói đầu (từ trang 458-483) - Bìa tựa cũ của cuốn “Chống Đuy-ring” về biện chứng (từ trang 484-495) - Khoa học tự nhiên trong thế giới thần linh (từ trang 496-509) - Phép biện chứng (từ trang 510-518) - Phép biện chứng (từ trang 694-735) - Những hình thái vận động cơ bản (từ trang 519) - Khoa học tự nhiên và triết học (từ trang 681-693) 1.2. QUAN ĐIỂM CỦA PH.ĂNGGHEN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỰ NHIÊN VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA LOÀI NGƢỜI 1.2.1. Quan điểm của Ph.Ăngghen về sự phát triển của tự nhiên - Ph.Ăngghen đã kế thừa một cách có hệ thống và có cơ sở từ những phát minh khoa học lúc bấy giờ để nghiên cứu về sự phát triển của thế giới tự nhiên, về vũ trụ và sự hình thành con người. - Ph. Ăngghen đã phác hoạ ra bức tranh về sự tiến hoá của giới tự nhiên. 1.2.2. Quan điểm của Ph.Ăngghen về sự ra đời của loài ngƣời Ph.Ăngghen đã phân tích một cách logic về quá trình tiến hoá của thế giới sinh vật (chất an-bu-min ÷ tế bào đầu tiên ÷ các loài sinh vật nguyên thuỷ ÷ cây cỏ đầu tiên ÷ động vật đầu tiên÷ các loài có 7 xương sống÷ con người) Con người và giới tự nhiên được hình thành từ những chất cơ bản chất, qua quá trình vận động và biến đổi từ đó mới hình thành nên giới tự nhiên và con người. Con người trở thành người với một điểm xuất phát là từ một loài vượn người, qua thời gian với sự tác động của nội và ngoại cảnh, loài vượn người này dần dần trở thành người như bây giờ. 1.2.3. Vai trò của lao động trong việc chuyển biến từ vƣợn thành ngƣời - Ph. Ăngghen cho rằng: Lao động tạo ra dáng đi thẳng, lao động rèn luyện cơ năng và giác quan, bàn tay của con người. - Thông qua lao động, con người ngày càng hiểu rõ và nắm bắt được bản chất của tự nhiên, làm chủ được tự nhiên, phát hiện ra được những đặc tính mới của tự nhiên. - Lao động và ngôn ngữ là hai yếu tố chủ yếu giúp con vượn phát triển thành con người. - Sự phát triển của bộ óc, của các giác quan và ý thức của con người cũng đã tác động trở lại đến lao động và ngôn ngữ, không ngừng thúc đẩy cho lao động và ngôn ngữ tiếp tục phát triển. - Sự tác động qua lại giữa các yếu tố tự nhiên và xã hội thúc đẩy quá trình phát triển của con người với tốc độ ngày càng nhanh hơn. - Con người thống trị được tự nhiên nhờ có lao động, bắt tự nhiên phục vụ cho mục đích của mình. 1.3. QUAN ĐIỂM CỦA PH.ĂNGGHEN VỀ QUAN HỆ GIỮA CON NGƢỜI, XÃ HỘI, TỰ NHIÊN 1.3.1. Vai trò của các yếu tố con ngƣời, xã hội và tự nhiên trong hệ thống con ngƣời – xã hội – tự nhiên - Con người và xã hội không chỉ là một bộ phận của tự nhiên. 8 Hơn thế tự nhiên – con người – xã hội nằm trong một chỉnh thể thống nhất. - Tự nhiên là toàn thể thế giới vật chất vô cùng, vô tận. Sự vận động của vật chất trong giới tự nhiên đã sản sinh ra sự sống và theo quy luật tiến hóa của sự sống trong những điều kiện nhất định, cuối cùng con người đã xuất hiện từ động vật bậc cao, từ vượn người. - Sự xuất hiện của con người trên trái đất không chỉ kết quả của các quy luật sinh học mà quan trọng hơn là kết quả của quá trình lao động. - Sự hình thành con người gắn liền với sự hình thành các quan hệ giữa người với người. Xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân, và xã hội được xem là sản phẩm của sự tác động qua lại của những con người. - Con người và giới tự nhiên thống nhất ở tính vật chất. Con người không đối lập với tự nhiên, mà là một bộ phận hữu cơ của giới tự nhiên. - Con người và giới tự nhiên có mối quan hệ biện chứng, quy định lẫn nhau, cả hai nằm trong hệ thống tự nhiên - xã hội. - Với tư cách là một bộ phận đặc thù của tự nhiên, vừa là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa người và người để tồn tại và phát triển, xã hội vừa phải tuân theo những quy luật của tự nhiên, vừa phải tuân theo những quy luật chỉ vốn có đối với xã hội. - Con người là sản phẩm của tự nhiên. Con người tạo ra xã hội. Con người vốn tồn tại trong tự nhiên nhưng sau khi tạo ra xã hội thì lại không thể tách rời xã hội. Chính vì thế ta có thể nói rằng con người còn là hiện thân của sự thống nhất giữa xã hội và tự nhiên. 9 1.3.2. Những yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa con ngƣời, xã hội và tự nhiên a. Quan hệ giữa con người và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội - Tự nhiên chịu sự tác động của con người, của xã hội phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội, mà tiêu chí đánh giá của trình độ xã hội chính là phương thức sản xuất. Xã hội càng văn minh, con người càng phát triển thì sự tác động của con người đến tự nhiên càng mạnh. - Nếu con người hành động vượt quá giới hạn dẫn đến phá vỡ hệ thống thì chính con người đã tự phá vỡ chính cái cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội cho sự tồn tại của họ. - Quan hệ giữa con người và tự nhiên được hình thành thông qua lao động sản xuất, thông qua hoạt động cải biến tự nhiên. Lao động và tự nhiên là hai yếu tố mà ngay từ đầu và mãi mãi đã đảm bảo cho sự tồn tại và sự phát triển của con người trong xã hội. - Sự khác biệt giữa con người và động vật thông qua sự tác động vào tự nhiên. - Loài người từ thuở “ấu thơ” và thời nay đều chịu sự tác động bởi tự nhiên nhưng tuỳ theo mức độ. - Tình trạng con người và xã hội bị thiên nhiên “trả thù” và bị tổn thương trong lịch sử. b. Quan hệ giữa xã hội và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ nhận thức và vận dụng các quy luật trong hoạt động thực tiễn. - Trình độ nhận thức có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng đến quan hệ giữa xã hội và tự nhiên, nhất là sự nhận thức các quy luật và vận dụng chúng vào trong hoạt động thực tiễn của con người. - Quá trình lao động sản xuất và chinh phục tự nhiên của con 10 người là hoạt động có ý thức, họ biết được hậu quả của quá trình chinh phục đó. Quá trình nhận thức được hậu quả không đơn giản chỉ một sớm một chiều con người có thể thấy được, đòi hỏi phải trải qua một quá trình lâu dài. - Bên cạnh khả năng nhận thức hậu quả, đòi hỏi con người phải có biện pháp thực tế để ngăn ngừa những hậu quả đáng tiếc xảy ra. - Vai trò của CNTB đối với môi trường tự nhiên. - Tầm quan trọng của việc nhận thức quy luật của giới tự nhiên và sử dụng những quy luật cho sự phát triển bền vững của toàn xã hội trong mối quan hệ hài hòa tự nhiên - xã hội. 11 CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG MÔI TRƢỜNG SINH THÁI Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 2.1. VÀI NÉT VỀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Về điều kiện tự nhiên: Thành phố Đà Nẵng có vị trí chiến lược quan trọng, nằm ở vị trí trung điểm của cả nước. Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc. Đà Nẵng có nhiều thắng cảnh nổi tiếng như Nam Ô, Xuân Thiều, bán đảo Sơn Trà, Bà Nà Núi Chúa, Ngũ Hành Sơn, bãi tắm Mỹ Khê, Bảo tàng Điêu khắc Chăm… Đà Nẵng cũng là nơi có nhiều di tích văn hóa của các dân tộc do nhiều thế hệ để lại. Về đặc điểm kinh tế - xã hội: Toàn thành phố có 08 đơn vị hành chính cấp quận, huyện gồm: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Liên Chiểu, Cẩm Lệ, Ngũ Hành Sơn, huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa. Kinh tế phát triển tương đối toàn diện, đạt tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng: dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp, với tỷ trọng tương ứng trong GDP là 50,5%; 46,5% và 3%. GDP bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 2.015 USD, gấp 2,2 lần so với năm 2005 và 1,6 lần mức bình quân chung cả nước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố trong những năm gần đây khá ổn định. Nhiều dự án lớn, nhiều nhà máy, khu công nghiệp, khu kinh tế được đầu tư mới, nâng cấp. 2.2. SỰ TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI MÔI TRƢỜNG SINH THÁI Ở ĐÀ NẴNG 2.2.1. Quá trình đô thị hóa Quá trình đô thị hóa có tác động không nhỏ đến chất lượng 12 môi trường thành phố. Cùng với quá trình đô thị hóa: các chất thải rắn, phế thải xây dựng, đổ phế thải không đúng nơi quy định... là nguyên nhân gây mất mỹ quan và ảnh hưởng đến môi trường. Với tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh và mạnh, quá trình quy hoạch và phát triển đô thị ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua đã có những tác động đến môi trường và hệ sinh thái, diện tích đất nông nghiệp giảm, hoạt động nông nghiệp bị thu hẹp diện tích do quá trình đô thị hóa. 2.2.2. Phát triển du lịch, dịch vụ - Đà Nẵng có nhiều điều kiện để phát triển du lịch dịch vụ: Với vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi, có sự ưu đãi của thiên nhiên (biển Đà Nẵng) - Du lịch Đà Nẵng đã có những bước tiến mạnh, là khu vực nằm trong cụm du lịch tổng hợp quốc gia Cảnh Dương - Hải Vân Non Nước và là trung tâm du lịch thể thao biển của cả nước. - Có nhiều dự án phát triển du lịch ven biển, ven sông, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ thu hút khách du lịch, nhưng cũng tác động tiêu cực đến môi trường, hệ sinh thái và cảnh quan. Nguyên nhân gây ô nhiễm: lượng nước thải tự thấm và thải ra môi trường xung quanh, hệ thống xử lý nước thải xây dựng chưa đúng quy chuẩn (không có bể tách mỡ, bể chứa không đúng quy cách, nước thải sau xử lý không được kiểm soát, ý thức của các doanh nghiệp, cũng như các cơ sở dịch vụ du lịch về một nền du lịch bền vững, “du lịch sinh thái” vẫn chưa đầy đủ…) 2.2.3. Phát triển công nghiệp Phát triển công nghiệp có chuyển biến tích cực, nhưng cũng gây sức ép lên môi trường không khí, nước thải, chất thải rắn, đặc 13 biệt góp phần gia tăng lượng khí nhà kính. Trong những năm qua, ngành công nghiệp xây dựng thành phố Đà Nẵng đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Sự phát triển công nghiệp ở Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, tạo công ăn việc làm cho hơn 60.000 lao động, thực hiện chiến lược xoá đói giảm nghèo và thực hiện di dời rất nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi trường trong nội thành vào khu công nghiệp. Tuy nhiên mặt trái của hoạt động này còn nhiều bất cập và thiếu sự đồng bộ. 2.2.4. Các hoạt động kinh tế khác - Tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân của Đà Nẵng 5 năm (2006 - 2010) đạt khoảng 11,2% cao hơn bình quân cả nước là 1,9 lần. Trong ba năm 2008-2010 và 2013 Đà Nẵng có chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) đứng đầu cả nước. Đà Nẵng đã tích cực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường, nâng cao an sinh xã hội và được coi là "thành phố đáng sống" của Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố chưa khấu trừ những tổn thất về môi trường. Vì vậy, cũng không thể khẳng định tốc độ tăng trưởng của thành phố là toàn diện trên các mặt tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. - Quá trình hội nhập: Kinh tế Đà Nẵng đã và đang hội nhập sâu rộng và hiệu quả với kinh tế các nước trong khu vực và thế giới. Quá trình hội nhập thời gian qua đã góp phần giải quyết được việc làm, giúp đổi mới công nghệ, xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, nguy cơ ô nhiễm môi trường từ bên ngoài sẽ gia tăng và rất khó kiểm soát (nhập khẩu phế liệu có rác, công nghệ lạc hậu, hàng hoá kém chất lượng và không đảm bảo, di nhập sinh vật ngoại lai, sản phẩm biến đổi gen…) 14 - Giao thông vận tải: Hoạt động giao thông vận tải đường bộ ở Đà Nẵng đã được cải thiện. Diện mạo của thành phố đã thay đổi, nhưng cũng gây sức ép lên môi trường không khí và góp phần gia tăng lượng khí nhà kính. Diện tích đất giao thông trên tổng diện tích đất thành phố Đà Nẵng vẫn thấp hơn so với tiêu chuẩn quốc gia và mật độ đường giao thông phân bố không đều giữa trong và ngoài nội thành. Việc phát triển nhanh các tuyến đường giao thông trọng yếu, số lượng xe máy trong thời gian qua gây ô nhiễm bụi và tiếng ồn kéo dài ở một số khu vực của thành phố gây ô nhiễm không khí khu vực nội thành và khí nhà kính. - Sử dụng năng lượng: Hoạt động của ngành điện cũng đang và sẽ có những tác động tiêu cực đến môi trường (luôn vượt chỉ tiêu phân bổ). Việc sử dụng năng lượng trong sản xuất và sinh hoạt ở Đà Nẵng cũng có những tác động đến chất lượng môi trường không khí. Việc bố trí các bốt phân phối điện có chỗ chưa hợp lý dẫn đến mất an toàn và ảnh hưởng đến mỹ quan du lịch của thành phố. - Khai thác tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản của thành phố được khai thác nhiều trong thời gian qua. Mặt trái của nó chưa được nhìn nhận và đánh giá một cách nghiêm túc, dẫn đến sự thiếu bền vững hiện nay và trong tương lai gần. Nhiều dự án khai thác trái phép không đúng quy hoạch, khai thác vượt mức sản lượng cho phép, kiểm soát chưa chặt chẽ tại các vùng cần bảo vệ môi trường nghiêm ngặt. Việc khai thác và cấp phép khai thác chưa đánh giá đúng vị trí vai trò của tài nguyên đối với môi trường sống sinh vật. 2.2.5. Vấn đề dân số Mật độ dân số khu vực nội thành hiện nay là 3.202,64 người/km2, cao gấp 1,12 lần so với thời điểm năm 2004. Có sự dịch 15 chuyển rõ ràng giữa nông thôn và thành thị. Sự phân bố dân số trong vùng nội thành không cân đối giữa các quận, huyện, mật độ dân số của các quận Thanh Khê (18.380,34 người/km2), Hải Châu (8.901,17người/km2), cao hơn so với các quận, huyện khác trong khu vực nội thành. Sự tập trung quá đông dân số ở một vài khu vực sẽ tạo nên những áp lực lớn cho môi trường. 2.3. THỰC TRẠNG MÔI TRƢỜNG SINH THÁI Ở ĐÀ NẴNG HIỆN NAY VÀ SỰ ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ 2.3.1. Môi trƣờng nƣớc Nguồn nước mặt ở các sông đã có dấu hiệu bị ô nhiễm, chất lượng nước sông Phú Lộc bị ô nhiễm nghiêm trọng. Khai thác, sử dụng và bảo vệ hồ đầm chưa hợp lý nên tình trạng ô nhiễm vẫn xảy ra liên tục (thời điểm trước năm 2006), có nơi ô nhiễm đến mức báo động và diễn biến ô nhiễm thay đổi theo mùa. Nguồn nước suối ở bán đảo Sơn Trà, Bà Nà – Núi Chúa và sông Nam - sông Bắc là những nguồn cung cấp nước ngọt quan trọng cho thành phố. Tuy nhiên việc phát triển thuỷ điện trên lưu vực sông Vu Gia (Quảng Nam) làm cho nguồn nước ở vùng hạ lưu thuộc thành phố Đà Nẵng bị ảnh hưởng. Nước ngầm nhiều khu vực bị ô nhiễm như Hòa Khánh, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ. Môi trường nước biển có nguy cơ ô nhiễm là thực trạng cần được xem xét một cách nghiêm túc. Nguồn gây ô nhiễm nước do: ảnh hưởng của phát triển thuỷ điện, chất thải sinh hoạt, dịch vụ, công nghiệp, chất thải từ hoạt động tàu thuyền, chất thải từ hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, nước rỉ từ bãi rác Khánh Sơn... 16 2.3.2. Môi trƣờng không khí - Toàn thành phố có 525,889 km đường bộ, trong đó có 69,126 km đường quốc lộ, 45km đường sắt, 162,7km đường sông, đặc biệt Đà Nẵng có sân bây quốc tế. - Hoạt động giao thông vận tải, các ngành công nghiệp và xây dựng là những nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Ngoài ra, ô nhiễm không khí do làng nghề Non Nước ở Đà Nẵng cũng là vấn đề đáng quan tâm hiện nay. 2.3.3. Môi trƣờng đất Quá trình phát triển xã hội với sự tác động mạnh mẽ của con người đối với môi trường đất nhằm phục vụ nhu cầu của con người đã gây nên tình trạng tài nguyên đất bị ô nhiễm. Nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường đất: các chất thải sinh hoạt, chất thải từ hoạt động công nghiệp, bãi rác, chất độc hóa học, nông nghiệp, chất thải trong xây dựng, nước thải công nghiệp, bệnh viện ...v.v Ô nhiễm đất còn do chất độc hoá học tồn lưu từ thời chiến tranh gây ô nhiễm nặng đất ở khu vực ven sân bay Đà Nẵng. 2.3.4. Tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học Thành phố Đà Nẵng có đặc thù đa dạng về địa hình, là nơi giao thoa của các tiểu vùng khí hậu, điều đó đã dẫn đến đa dạng về các kiểu hệ sinh thái. Đà Nẵng có sự đa dạng về văn hóa cũng như các loại hình sản xuất nông nghiệp, nên các hệ sinh thái nông nghiệp ở đây cũng có độ đa dạng sinh học cao. Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch. Thiên nhiên đã ưu đãi ban tặng cho thành phố các khu rừng tự nhiên đặc sắc (khu Bà Nà – Núi Chúa, khu Bán đảo Sơn Trà và khu Nam Hải Vân) 17 CHƢƠNG 3 VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG CỦA ĂNGGHEN VỀ QUAN HỆ GIỮA CON NGƢỜI VỚI TỰ NHIÊN VÀO XÂY DỰNG THÀNH PHỐ MÔI TRƢỜNG Ở ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 3.1. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT Để có thể công bố “Đà Nẵng - thành phố môi trường” vào năm 2020, mục tiêu tổng quát mà Thành phố cần đạt được là: - Tạo nên một danh hiệu “thành phố môi trường” cho thành phố Đà Nẵng, tạo sự an toàn về sức khoẻ và môi trường cho người dân, các nhà đầu tư, cho du khách trong và ngoài nước khi đến với thành phố Đà Nẵng; - Ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái môi trường tại các khu dân cư, khu công nghiệp, vùng ven biển; Đảm bảo chất lượng môi trường nước, đất, không khí đặc biệt chú trọng đến vấn đề ô nhiễm không khí do giao thông vận tải, xử lý nước thải công nghiệp và chất thải nguy hại; - Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; - Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, làm cho ý thức bảo vệ môi trường trở thành thói quen, đi sâu vào nếp sống của mọi tầng lớp xã hội 3.2. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO - Xây dựng thành phố môi trường trên cơ sở phát huy nội lực, huy động toàn dân kết hợp với quản lý đa ngành, đa mục tiêu. - Giải quyết tốt và hài hoà mối quan hệ giữa khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên cho phát triển kinh tế xã hội gắn với công tác bảo vệ môi trường. - Kết hợp giữa phân vùng và qui hoạch giao thông trong đó ưu 18 tiên cho các phương tiện giao thông thân thiện với môi trường, các giải pháp môi trường và các giải pháp hạn chế sự gia tăng mật độ phương tiện giao thông đô thị. - Xây dựng các khu đô thị mới chất lượng cao đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. - Bảo vệ, bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, tính đa dạng sinh học; bảo vệ và phát triển các di sản văn hoá, làm đẹp cảnh quan đô thị. - Xây dựng và hình thành lối sống văn minh, văn hoá đô thị bảo vệ môi trường trong công đồng người dân thành phố. - Cần tranh thủ nguồn vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế, đồng thời mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế. 3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG THÀNH PHỐ MÔI TRƢỜNG Ở ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 3.3.1. Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội đối với Đà Nẵng phải thực sự khoa học - Các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Đà Nẵng phải có những quy định cụ thể, buộc các dự án trong phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên. - Phải thể hiện rõ những kế hoạch cụ thể về đầu tư xây dựng sớm và thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ở từng quận huyện, khu dân cư trong những năm trước mắt và hướng tới tương lai lâu dài, phải mang tính thiết thực. - Phải thể hiện rõ chính sách phát triển chung, chính sách phát triển riêng, cụ thể trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở những địa bàn mà trình độ phát triển kinh tế cũng như trình độ dân trí thấp.
- Xem thêm -