Tài liệu Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non từ 4 – 5 tuổi thông qua một số trò chơi dân gian

  • Số trang: 73 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 1891 |
  • Lượt tải: 15
trancongdua

Đã đăng 1751 tài liệu

Mô tả:

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đất nước Việt Nam ta đẹp vô cùng. Dân tộc ta từ ngàn năm xưa đã xây dựng cho mình một nền văn hóa riêng đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người trong sự hình thành và phát triển của loài người. Thật vậy, một nhà văn người Pháp có nói rằng: “Ngôn ngữ là chiếc gương để ta soi mình trong đó”. Ngôn ngữ chính là phương tiện để tư duy, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ. Nó đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển trí tuệ và các quá trình tâm lí khác, chính vì vậy mà trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non cần hình thành và phát triển ngôn ngữ. Đời sống của con người ngày càng phong phú và phát triển hơn đó là nhờ có ngôn ngữ. Con người có thể thông báo, trao đổi, truyền đạt, thông cảm, diễn tả, trình bày tất cả những thông tin cần thiết cho nhau thông qua ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ mà người ta xích lại gần nhau hơn, tâm sự với nhau những nỗi niềm thầm kín,… Ngôn ngữ tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nhờ ngôn ngữ mà con người khác xa so với động vật. Nó có vai trò quan trọng đối với con người, đối với những kho tàng văn hóa, những tri thức, những kinh nghiệm lịch sử đều được chứa đựng trong ngôn ngữ. Đặc biệt, đối với trẻ sự phát triển ngôn ngữ trong những năm tháng đầu đời có vai trò rất quan trọng với khả năng tư duy, nhận thức và giao tiếp cũng như toàn bộ quá trình phát triển về sau của trẻ. Không chỉ vậy mà đối với trẻ, ngôn ngữ còn là phương tiện để điều khiển, điều chỉnh hành vi giúp trẻ lĩnh hội các giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực. Vì vậy, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là rất quan trọng, đặc biệt ở độ tuổi 4 – 5 tuổi trẻ đang cần được học ngôn ngữ một cách chính xác. Đây là giai đoạn trẻ rất thích học nói vì luôn mong muốn mình được hòa nhập vào xã hội của người lớn. Với tần số nói ngày một tăng đáng kể, trẻ sử dụng chủ yếu là ngôn ngữ nói để làm phương tiện giao tiếp cho mình. Đôi khi cũng chính vì điều đó mà trẻ dễ mắc phải một số lỗi sai về ngôn 1 ngữ. Đây là thời điểm tốt để rèn luyện phát âm chuẩn và phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhằm hoàn thiện hơn cho trẻ. Trẻ em với hai từ ngắn ngủi nhưng dường như đã nói lên hết đặc điểm của cả lứa tuổi này. Đây là giai đoạn mà với chúng chơi là cuộc sống. Chơi là hoạt động rất tự nhiên trong cuộc sống của con người. Nó đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em. Không chơi, trẻ không phát triển được. Không chơi đứa trẻ chỉ tồn tại chứ không phải là đang sống. Đó là một thực tế mang tính quy luật. Trẻ chơi với niềm đam mê, hứng thú của mình, chơi một cách vô tư không đắn đo, toan tính,… bởi “trẻ em như búp trên cành”. Ngay từ khi mới chào đời tiếng ru ầu ơ của bà, của mẹ đã dần khắc sâu vào tâm hồn trẻ, nó thấm dần vào máu thịt nuôi dưỡng những tâm hồn còn non dại ấy. Có lẽ chính vì điều đó mà trẻ dần nhận thức mối quan hệ được bắt đầu bằng phương tiện giao tiếp chủ yếu là ngôn ngữ. Có thể nói rằng những hiểu biết về đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ nói trên là cơ sở lí luận để người viết nghiên cứu những phương pháp, biện pháp phát triển ngôn ngữ ở trẻ qua hoạt động vui chơi, cụ thể ở đây là những trò chơi dân gian. Mặt khác, trẻ em không chỉ cần được chăm sóc sức khoẻ, được học tập, mà quan trọng nhất trẻ cần phải được thoả mãn nhu cầu vui chơi. Trò chơi và tuổi thơ là hai người bạn thân thiết, không thể tách ra được. Chính trò chơi đã giúp cho sự phát triển của trẻ được toàn diện, cân bằng và nhịp nhàng, đó là phương tiện hiệu quả nhất giúp trẻ phát triển. Xuất từ vai trò quan trọng của hoạt động vui chơi đối với trẻ em và nhu cầu hưởng thụ hoạt động này, chúng tôi thấy việc tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi dân gian là một việc làm cần thiết và rất có ý nghĩa. Di sản văn hoá truyền thống Việt Nam có nhiều loại hình khác nhau, trong đó có thể nói, trò chơi dân gian cũng là một di sản văn hoá quý báu của dân tộc. Trò chơi dân gian là những trò chơi được sáng tạo, lưu truyền tự nhiên, rộng rãi từ thế hệ này sang thế hệ khác, mang đậm bản sắc văn hóa dân gian. Nó được kết thành từ quá trình lao động và sinh hoạt, trong đó nó tích tụ 2 cả trí tuệ và niềm vui sống của bao thế hệ người Việt xưa. Đặc biệt đối với trẻ em, trò chơi dân gian với những chức năng đặc biệt của nó đã mang lại cho thế giới trẻ thơ nhiều điều thú vị và bổ ích, đồng thời thể hiện nhu cầu giải trí, vui chơi, quyền được chia sẻ niềm vui của các em với bạn bè, cộng đồng. Nó làm cho thế giới xung quanh các em đẹp hơn và rộng mở; tuổi thơ của các em sẽ trở thành những kỉ niệm quý báu theo suốt cuộc đời; làm giàu nguồn tình cảm và trí tuệ cho các em. Chính vì vậy, trò chơi dân gian rất cần thiết được lựa chọn, giới thiệu trong nhà trường tuỳ theo lứa tuổi của trẻ. Đúng như PGS. TS Nguyễn Văn Huy, giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng đã nói về trò chơi dân gian với trẻ em: “Trò chơi dân gian nó chứa đựng cả nền văn hoá dân tộc Việt Nam độc đáo và giàu bản sắc. Những tâm hồn được chắp thêm đôi cánh, giúp trẻ phát triển tư duy và sáng tạo những cái mới và cho trẻ sự khéo léo. Không chỉ có vậy mà trẻ còn hiểu thêm về tình bạn, tình yêu gia đình, quê hương đất nước”. Có thể nói rằng lục tìm trong những kí ức về tuổi thơ của người lớn đầy ăm ắp những trò chơi trốn tìm, bắn bi, rồng rắn lên mây, nu na nu nống, ô ăn quan,… nhưng đất nước đang trên đà hội nhập cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa hiện đại hóa, những trò chơi dân gian dần bị mai một và lãng quên dần thay thế bởi những trò chơi điện tử, những khoảng đất giờ cũng được thay vào đó là những nhà máy, những công rình lớn. Đó là sự thiệt thòi lớn với trẻ khi không được làm quen và chơi với những trò chơi dân gian của thiếu nhi ngày trước. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại thì có biết bao trò chơi của trẻ dần được thay thế bằng những cỗ máy hiện đại, công phu, với đầy đủ các chức năng, màu sắc sặc sỡ,… Chính vì lẽ đó mà trò chơi dân gian ngày dần bị mai một theo sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại, tiên tiến. Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi dân gian là một vấn đề hết sức thiết thực giúp trẻ tăng vốn từ ngữ lên rất nhanh chóng. 3 Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Cho nên ngôn ngữ là tải sản quý báu của nhân loại. Nó là cả kho tàng trí tuệ của con người. Nó tồn tại phát triển cùng với sự thay đổi và phát triển của con người. Cũng chính vì lẽ đó mà có biết bao công trình nghiên cứu được tỏa sáng nhờ có ngôn ngữ. Và ngôn ngữ cũng chính là vấn đề mà có rất nhiều các nhà khoa học từ các lĩnh vực khác nhau như: Tâm lí học, triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, giáo dục học,… đi sâu, tìm tòi, nghiên cứu và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn đáng kể. Đã có nhiểu công trình nghiên cứu về sự phát triển của trẻ, tiêu biểu là công trình nghiên cứu của: L.X.Vugôtxky, V.X. Mukhina, F.D. Usinxky, R.O.Shor, O.B.Encônhin, Piegie, M.M.Konxova, M.I.Lixinna, L.I.Bozovich, A.Z. Ruxkai, … Ví dụ: - V.X. Mukhina với Tâm lí học mẫu giáo: Mukhina đi nghiên cứu về tâm lí của trẻ em trong độ tuổi Mẫu giáo. - Winhem Preyer với Trí óc của trẻ em: Một tác phẩm miêu tả chi tiết về sự phát triển của trẻ em, phát triển về vận động, hình thành ngôn ngữ và trí nhớ cụ thể thông qua cậu bé Alex. - Erik Erickson với Trẻ em và xã hội: Ông nghiên cứu về sự phát triển của trẻ em, cách đối xử và giáo dục trẻ. - John. B. Watson với Chăm sóc về tâm lí cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ: Nghiên cứu về tâm lí của trẻ ngay từ khi mới sinh và cách chăm sóc chúng. - A. B. Zaporojets với Cơ sở tâm lí học của giáo dục mẫu giáo: Những nghiên cứu chuyên biệt về trẻ nhỏ từ lúc mới sinh đến 6 tuổi. - M.M.Konxova với Dạy nói cho trẻ trước tuổi đi học: Các hình thức, biện pháp để nhằm dạy nói cho trẻ trước khi vào tuổi đi học. - A.N.Xookolop với Lời nói bên trong và tư duy: Tác giả nghiên cứu những vấn đề lí luận về ngôn ngữ và tư duy của trẻ em. Ở Việt Nam, vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng được đông đảo các nhà giáo dục quan tâm và đi vào nghiên cứu như: - Các tác giả Nguyễn Quang Ninh, Bùi Kim tuyến, Lưu Thị Lan, Nguyễn Thanh Hồng với: Tiếng việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ, đề cập 4 tới tiếng việt. Dựa vào đó tác giả xây dựng các phương pháp nhằm phát triển và hoàn thiện lời nói cho trẻ. - Tác giả Nguyễn Xuân Khoa với: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo dưới 6 tuổi, đã đưa ra các phương pháp cụ thể giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, vốn từ của mình. - Tác giả Hoàng Kim Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức với Phương pháp phát triển ngôn ngữ. Tác giả đã đưa ra các phương pháp để giúp trẻ tăng vốn từ của trẻ. - Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Phạm Hoàng Gia, Đoàn thị Tâm với: Tâm lí trẻ em lứa tuổi mầm non đã tiến hành nghiên cứu sự phát triển tâm lí của trẻ mầm non qua các giai đoạn lứa tuổi. - Luận án Phó tiến sĩ của Lưu Thị Lan: Những bước phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 1 – 6 tuổi, nội dung luận án nói về các bước, giai đoạn hình thành phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong độ tuổi từ 1 đến 6 tuổi. - Luận án Phó tiến sĩ Tâm lý học: Đặc trưng tâm lý của trẻ có năng khiếu thơ. Tác giả nghiên cứu tâm lí của trẻ em có chứa năng khiếu cảm thụ các tác phẩm thơ ca. - Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo từ 0 – 6 tuổi, đã nghiên cứu về sự phát triển vốn từ ngữ của trẻ ở các độ tuổi và đưa ra các phương pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ em ở độ tuổi mầm non. - Luận án Tiến sĩ Nguyễn Thị Oanh: Cơ sở của việc tác động sư phạm đến sự phát triển ngôn ngữ tuổi Mầm non. Dựa trên cơ sở của ngành sư phạm tác giả đã nghiên cứu tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em mầm non. 3. Mục đích nghiên cứu Qua những hiểu biết về đặc điểm trò chơi dân gian với sự phát triển ở trẻ 4 – 5 tuổi, về đặc điểm tâm lí của trẻ Mầm non tác giả đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp, quy trình tổ chức các trò chơi dân gian nhằm nâng cao hiệu quả việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi. 4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu 5 Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non từ 4 – 5 tuổi thông qua một số trò chơi dân gian. 4.2. Khách thể nghiên cứu - Trẻ 4 – 5 tuổi (60 trẻ), giáo viên (23 giáo viên) ở ba trường Mầm non. Trường Mầm non Quyết Thắng – thành phố Sơn La – Sơn La Trường Mầm non Liên Cơ – Lương Sơn – Hòa Bình Trường Mầm non Long Sơn – Lương Sơn – Hòa Bình 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu một số cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và khảo sát thực trạng trẻ 4 – 5 tuổi ở trường Mầm non. - Xây dựng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non trong độ tuổi từ 4 - 5 tuổi thông qua trò chơi dân gian. - Tổ chức thể nghiệm để ứng dụng đề xuất tính khả thi của các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non (4 – 5 tuổi) thông qua trò chơi dân gian mà đề tài nghiên cứu. - Xử lí kết quả nghiên cứu. 6. Phạm vi nghiên cứu Tôi đã tiến hành điều tra ở 3 trường mầm non như sau: Trường Mầm non Quyết Thắng – Thành phố Sơn La – Sơn La Trường Mầm non Liên Cơ – Lương Sơn – Hòa Bình Trường Mầm non Long Sơn - Lương Sơn – Hòa Bình 7. Phương pháp nghiên cứu 7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận Đọc sách, báo và các tài liệu có liên quan tới vấn đề đang nghiên cứu. Từ đó chọn lọc để xây dựng nên cơ sở lí luận cho đề tài. 7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Dùng phiếu Anket điều tra kết hợp với việc trao đổi những thông tin có liên quan về vấn đề nghiên cứu với các giáo viên ở trường mầm non, nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non từ 4 – 5 tuổi thông qua trò chơi dân gian. 6 - Sử dụng phương pháp quan sát: Quan sát những hoạt động của trẻ để đưa ra các phương pháp hợp lí với tâm sinh lí của trẻ 4 – 5 tuổi. - Ngoài ra, dùng phương pháp nghiên cứu sản phẩm để xác định mục đích phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4 – 5 tuổi qua trò chơi dân gian. 7.3. Phương pháp thể nghiệm sư phạm - Sử dụng các phương pháp tác động đến một nhóm trẻ được chọn để thực nghiệm. - Xử lí kết quả nghiên cứu bằng phương pháp thống kê toán học. 8. Giả thuyết khoa học Qua việc khảo sát sơ bộ trên thực tế kết hợp với việc nghiên cứu lí luận, chúng tôi thấy mức độ phát triển ngôn ngữ thông qua các trò chơi dân gian cho trẻ mầm non từ 4 – 5 tuổi ở các trường mầm non hiện nay ngày càng bị hạn chế đi rất nhiều. Hoặc nếu có thì chưa gây được hứng thú thực sự đối với trẻ, eo hẹp về cách bố trí thời gian tổ chức trò chơi nên chưa đạt được hiệu quả cao. Do vậy, nếu các biện pháp trong đề tài mang tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi dân gian, góp phần vào phong trào đổi mới giáo dục. 9. Cấu trúc của đề tài Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm 3 chương. Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu Trong chương này chúng tôi đề cập tới những cơ sở lí luận về ngôn ngữ của trẻ Mẫu giáo, cụ thể là trẻ 4 – 5 tuổi, đặc biệt là trò chơi dân gian. Chương 2: Một số biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo từ 4 – 5 tuổi thông qua trò chơi dân gian. Ở chương này chúng tôi đã xây dựng một số biện pháp, quy trình vận dụng phương pháp giáo dục Mầm non mới để tổ chức các trò chơi dân gian và thiết kế một số mẫu giáo án theo phương pháp mới về trò chơi dân gian. Chương 3: Thiết kế thể nghiệm một số trò chơi dân gian cho trẻ 4 – 5 tuổi 7 Tác giả thiết kế một số biện pháp để ứng dụng nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua một số trò chơi dân gian nhằm để chứng minh tính khả thi của biện pháp. 8 NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Cơ sở tâm lí học 1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ học 1.1.2.1. Khái niệm về ngôn ngữ V. Lênin đã khẳng định rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người”. Ngôn ngữ là một hệ thống các ký hiệu có cấu trúc, quy tắc và ý nghĩa. Đồng thời, ngôn ngữ cũng là phương tiện để phát triển tư duy, truyền đạt và tiếp nhận những nét đẹp của truyền thống văn hóa – lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cũng có khái niệm khác về ngôn ngữ theo E. L. Tikhêeva – Nhà giáo dục học Liên xô cũ đã khẳng định rằng: “Ngôn ngữ là công cụ để tư duy, là chìa khóa để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của dân tộc, của nhân loại. Do ngôn ngữ giữ vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người…” [5, trang 10]. Không chỉ có vậy, ngôn ngữ tạo nên những con người có linh hồn. Ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nên tư duy, nhân cách của con người, thúc đẩy quá trình tự điều chỉnh hành động chính bản thân mình. Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người. Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, tâm sự với nhau những nỗi niềm thầm kín,.… Đối với trẻ em, ngôn ngữ là cầu nối để đến với thế giới của nhân loại. Ngôn ngữ trở thành công cụ để trẻ bày tỏ suy nghĩ, những tâm tư, tình cảm, những mong muốn của cá nhân mình. Bởi lẽ, trẻ có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh, mong muốn hòa nhập với xã hội của loài người. 1.1.2.2. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ * Ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh 9 Ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi sự suy nghĩ và là công cụ của tư duy. Trẻ em có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh. Trong quá trình nhận thức những sự vật và hiện tượng, các em phải sử dụng từ ngữ để phân biệt được vật này với vật khác, biết được tên gọi, màu sắc, hình dáng, công dụng và những thuộc tính cơ bản của vật,… (ví dụ: Trẻ làm quen với xe đạp, trẻ biết đặc điểm, cấu tạo, công dụng…của xe đạp và nói được từ “xe đạp”). Trẻ tiếp thu kiến thức từ môi trường xung quanh thông qua khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp, trên cơ sở đó trẻ khái quát về vật. Ví dụ, khi trẻ nhận xét về xe đạp: Trẻ nhìn thì biết được màu đỏ (xanh). Trẻ quay bàn đạp thì bánh xe quay. Trẻ sờ vào sườn xe thì biết nó láng, bóng. Từ ngữ giúp cho việc cũng cố những biểu tượng đã hình thành ở trẻ. Trẻ không chỉ nhận biết các sự vật hiện tượng xung quanh gần gũi, mà còn tìm hiểu những sự vật hiện tượng không xuất hiện trực tiếp trước mắt trẻ, những sự vật xảy ra trong quá khứ, tương lai. Như vậy, ngôn ngữ không chỉ giúp cho trẻ củng cố kiến thức mà còn mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh. Ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu về chính mình, về con người và khám phá các sự vật xung quanh cũng như những biến cố đang xảy ra trong đời sống, hay các hiện tượng xung quanh như nắng, mưa, nóng, lạnh,… qua đó trẻ có thể nhận thức về môi trường xung quanh. Thật vậy, hầu hết trẻ thơ đều có một tâm hồn nhạy cảm. Đối với các em, thế giới xung quanh chứa đựng biết bao nhiêu điều mới lạ, hấp dẫn. Ngay trong những cái tưởng chừng như bình thường và giản dị thì các em cũng phát hiện ra những điều lí thú. Chẳng vậy mà Pauxtopxky có nhận xét rằng: “Thời thơ ấu không còn mãi,… Trong thời thơ ấu tất cả đều khác. Trẻ em đã nhìn thế giới bằng đôi mắt trong sáng và đối với tất cả với chúng đều rực rỡ hơn nhiều. Mặt trời chói lọi hơn, đồng ruộng được cày sâu hơn, tiếng sấm vang rền hơn, mưa to hơn, cỏ mọc cao hơn và cả lòng người cũng mở rộng hơn. 10 Nỗi đau thương cũng sâu sắc hơn và mảnh đất quê hương cũng chứa đầy bí ẩn, nhiều hơn gấp hàng nghìn lần”. Chẳng thế mà khi người lớn đưa ra các câu hỏi, câu trả lời hay khi đàm thoại trực tiếp với trẻ thì cũng đồng thời ngay lúc đó trẻ làm quen được với các sự vật, hiện tượng có ở môi trường xung quanh, và trẻ hiểu được những đặc điểm, tính chất, công dụng của các sự vật cùng với các từ tương ứng với nó thông qua các từ ngữ đó. Trẻ thường nhìn sự vật trong tính toàn vẹn của nó mà chưa hề bị chia cắt ra từng mảng, từng bộ phận rạch ròi khô cứng. Những thuộc tính cụ thể - cảm tính sinh động như màu sắc, âm thanh … có tác động mạnh mẽ lên giác quan và ghi dấu ấn sâu đậm trong tâm trí của trẻ. Từ ngữ và hình ảnh trực quan của các sự vật cùng đi vào nhận thức của trẻ. Nhờ có ngôn ngữ, trẻ nhận biết được ngày càng nhiều các sự vật, hiện tượng từ đơn giản dần tới phức tạp mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày, giúp trẻ hình thành, phát triển phong phú các biểu tượng về thế giới xung quanh. Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhau. Ngôn ngữ là sự hiện hữu của tư duy, cả hai cùng song song tồn tại và phát triển với nhau,. Những ý tưởng của trẻ được bộc lộ bằng ngôn ngữ. Ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ hình thành và phát triển tư duy. Ngôn ngữ của trẻ được phát triển dần theo lứa tuổi, điều đó sẽ giúp trẻ không chỉ tìm hiểu những hiện tượng, sự vật gần gũi xung quanh, mà còn có thể tìm hiểu cả những sự vật không xuất hiện trước mắt trẻ, những sự việc xảy ra trong quá khứ và tương lai. Trẻ hiểu được những lời giải thích, sự gợi ý của người lớn, biết so sánh, khái quát và dần dần hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng, hình thành những khái niệm sơ đẳng. Sự hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh ngày càng rộng lớn hơn. Nhận thức của trẻ được rõ ràng, chính xác và trí tuệ của trẻ không ngừng được phát triển. Ngôn ngữ còn là công cụ giúp trẻ hoạt động vui chơi và nhận thức thế giới xung quanh một cách phong phú hơn. Bởi chơi là phương tiện mở rộng, củng cố chính xác hóa biểu tượng của trẻ về cuộc sống xung quanh. Nội dung chủ yếu của chơi là phản ánh thế giới xung quanh trẻ, nên khi tham gia vào 11 hoạt động này trẻ càng hiểu sâu hơn về cuộc sống xung quanh mình. Tất cả những điều trẻ lĩnh hội trước lúc chơi dưới nhiều hình thức hoạt động khác nhau sẽ được chính xác hơn, phong phú hơn. Khi tham gia vào trò chơi, trẻ sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với bạn, trao đổi, phân vai trong trò chơi: Chọn vai nào, chơi như thế nào,.. và quá trình thỏa thuận này không thể thiếu vai trò của ngôn ngữ. Ngoài ra, trong quá trình chơi sẽ nảy sinh các tình huống chơi đòi hỏi mỗi đứa trẻ tham gia vào trò chơi phải có một trình độ phát triển ngôn ngữ nhất định. Trẻ bộc lộ những suy nghĩ của mình với các bạn và nghe ý kiến của các bạn để đi đến thỏa thuận trong khi chơi,… Sử dụng ngôn ngữ để suy nghĩ về các thao tác, hành động chơi, thực hiện hành động chơi, giao lưu với các bạn khác trong nhóm và các bạn chơi khác nhóm, đánh giá, nhận xét, tuyên dương,.. Không chỉ khi cùng tham gia hoạt động vui chơi cùng với các bạn mà ngay cả khi trẻ chơi tưởng tượng với một đồ vật thì ngôn ngữ vẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình chơi của trẻ. Qua đó, ngôn ngữ của trẻ được phát triển, trẻ được giao lưu tình cảm trong lúc chơi, phát triển khả năng tư duy và trí tưởng tượng của trẻ. * Ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất. Không ai có thể phủ nhận ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người. Ngay cả những bộ lạc lạc hậu nhất mà người ta mới phát hiện ra, họ cũng dùng ngôn ngữ để nói chuyện với nhau. Đặc biệt đối với trẻ nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh, hình thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ dùng để diễn đạt, phát biểu để trình bày ý tưởng, nguyện vọng của mình cho người khác biết. Đặc biệt, ngôn ngữ đóng vai trò rất lớn trong việc điều chỉnh những hành vi và việc làm của trẻ. Trong giao tiếp hàng ngày, thông qua truyện kể, ca dao, đồng dao, nhất là trong các trò chơi dân gian,… trẻ cảm nhận được cái hay cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi, trong cuộc sống. Những câu hát ru ngọt ngào, những cử chỉ âu yếm kèm theo tình cảm yêu mến thông qua ngôn ngữ sẽ đem đến cho trẻ những cảm giác bình yên, sự 12 vui mừng hớn hở. Đặc biệt là qua lời ru, mẹ đã dạy cho con nghệ thuật âm nhạc, thơ ca dân tộc để con biết yêu vẻ đẹp của thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, yêu bà con làng xóm, truyền cho con những ý niệm cơ bản về thiện ác để hun đúc ở đứa con lòng nhân ái. Ngay cả những lúc nựng con thì đây là cuộc trò chuyện đằm thắm nhất, đầy tình yêu thương và lòng tin cậy, trong đó người mẹ đã nói với con bằng cả tấm lòng và đứa con đã nghe mẹ với tất cả sự sung sướng và niềm say mê của mình. Dù có ý thức hay chưa có ý thức rõ ràng, nhiều người mẹ cũng đã dạy con học ăn, học nói, học gói, học mở học làm người bằng những phương thức nghệ thuật đó khiến cho việc tiếp thu của đứa con vừa rất tự nhiên lại vừa có hiệu quả cao giúp cho trẻ tiếp cận đẽ dàng hơn với văn hoá của dân tộc. Khi giao tiếp với người lớn, trẻ tiếp nhận được những sắc thái tình cảm khác nhau. Qua nét mặt, giọng nói, ngữ điệu, ngữ nghĩa chứa đựng trong các từ, các câu nói, dần dần trẻ cũng biết thể hiện những cảm xúc khác nhau của mình. Người lớn như là chiếc gương để trẻ soi mình vào trong đó. Trong quá trình giao tiếp, người lớn luôn hướng dẫn, uốn nắn hành vi của trẻ bằng lời nói, nét mặt, nụ cười, giúp trẻ có thể nhận ra được hành vi của mình là đúng hay là sai. Bằng cách đó, ở trẻ dần dần hình thành những thói quen tốt và học được những cách ửng xử đúng đắn. Người lớn có thể khen trẻ khi chúng làm đúng và tốt, cổ vũ, động viên kịp thời cho những hành vi đúng đắn hay có những ý tưởng hay của trẻ. Khi trẻ làm sai hay nói sai, người lớn tỏ vẻ không bằng lòng bằng ánh mắt, nét mặt nghiêm nghị kèm theo lời nói với giọng điệu nghiêm túc thì trẻ sẽ nhận thức được cái sai của mình và sửa sai. Ngôn ngữ có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tưởng tượng của trẻ. Nó tác động có mục đích, có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật. Các sự vật, hiện tượng mà trẻ quan sát được trong môi trường sống được in hằn trong trí não của trẻ. Nhưng để trẻ biết cái lá có màu xanh, bông hoa có màu đỏ, con cá vàng bơi trong nước, con chim bay trên bầu trời,… nó trở nên đẹp như thế nào thì thông qua ngôn ngữ trẻ sẽ nhận thức được cái hay, cái đẹp 13 đó trong cuộc sống xung quanh mình. Từ đó hình thành ở trẻ thái độ tôn trọng cái đẹp và đồng thời kích thích sự sáng tạo ra cái đẹp ở trẻ. Những hình ảnh tưởng tượng vừa ngây thơ, đôi khi phi lý này không chỉ đem lại cho tuổi thơ niềm hạnh phúc mà còn cần cho mỗi người sau này lớn lên, dù đó là người lao động chân tay, nhà khoa học hay người nghệ sĩ,… phương tiện có hiệu quả nhất để nuôi dưỡng sự tưởng tượng đó là trò chơi. Điều đó giúp trẻ có nhiều ấn tượng đẹp và tâm hồn trẻ sẽ càng thêm phong phú. Từ đó, trẻ sẽ biết yêu quý và có ý thức giữ gìn những cái hay cái đẹp trong cuộc sống. Khi trẻ được tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ văn học như thơ, truyện, ca dao, đồng dao,… trẻ sẽ được chìm vào với thế giới đa dạng màu sắc. Bao nhiêu loại người khác nhau, loại người tốt sao gần gũi, mến thương; loại người xấu sao vừa ghét lại vừa sợ… Những phong cảnh xa lạ từ những khu rừng rậm rạp bí hiểm, đến biển cả mênh mông, những lâu đài tráng lệ, những con thú chưa hề thấy,… tất cả đã nhập vào tâm hồn của các em bé với những màu sắc lung linh kì ảo. Tâm hồn các em được rộng mở, trí tưởng được kích thích mạnh mẽ, thôi thúc các em muốn khám phá những điều kì lạ và lí thú trong các câu chuyện hết sức hấp dẫn. Những câu thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu, những bài đồng dao ngộ nghĩnh có đoạn điệp khúc nhắc đi nhắc lại dễ nhớ… khiến trẻ muốn đọc theo và sẽ nhớ rất lâu. Đây chính là thời cơ thuận lợi để trẻ tiếp xúc với ngôn ngữ văn học, đặc biệt là văn học dân gian. Điều đó giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, nó giúp trẻ sáng tạo ra những cái mới, hình thành những ước mơ táo bạo, những hoài bão về cuộc sống tương lai. * Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành thành viên của cộng đồng Những kinh nghiệm lịch sử xã hội đọng lại hay nói cách khác được chứa đựng trong các công cụ lao động, đối tượng lao động, trong các chuẩn mực hành vi các mối quan hệ qua lại giữa con người với nhau,… nhưng hầu hết được ghi lại để truyền bá cho thế hệ sau nhờ ngôn ngữ. Ngay từ lúc mới đầu, đứa trẻ không thể nhận thức được những gì đang tồn tại xung quanh nó. Để 14 thỏa mãn sự hiểu biết đó mà nó thường đặt ra hàng vạn câu hỏi cho bố mẹ và người xung quanh chúng. Vì thế, người lớn trở thành chiếc cầu nối trẻ với cộng đồng, với thế giới thông qua ngôn ngữ. Người lớn đã dẫn dắt trẻ hình thành tình cảm, thái độ, nhận thức về con người, đồ vật gần gũi xung quanh. Nhờ sự biết đi, biết nói mà trẻ ngày càng mở rộng phạm vi tiếp xúc, phát triển nhận thức đối với thế giới xung quanh và hình thành “ý thức bản ngã”. Trẻ muốn tự lập hơn, thể hiện các hành vi theo ý nghĩ riêng của mình trong các trò chơi. Qua những lời chỉ dẫn của người lớn mà trẻ dần hiểu được những quy định chung của cộng đồng mà mọi thành viên trong cộng đồng đều phải thực hiện. Trước tiên, là những nề nếp sinh hoạt của gia đình, nhóm trẻ, trường mầm non. Sau đó, là những quy định ngoài xã hội, những gì trẻ được phép làm và không được phép làm. Mặt khác, để bày tỏ những những nhu cầu mong muốn của mình với những thành viên trong cộng đồng, trẻ sử dụng ngôn ngữ để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân mình. Điều đó giúp trẻ hòa nhập hơn với mọi người xung quanh mình. * Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thể lực cho trẻ Giáo dục thể lực đối với trẻ em là quá trình tác động chủ yếu vào cơ thể của trẻ, việc vận động, rèn luyện cơ thể, giữ gìn vệ sinh và có chế độ sinh hoạt hợp lý nhằm bảo vệ và làm cho cơ thể trẻ phát triển hài hòa, cân đối, sức khỏe tăng cường đạt đến trạng thái hoàn thiện về mặt thể chất. Trong chế độ sinh hoạt hàng ngày, cô giáo và người lớn đã dùng chính ngôn ngữ của mình để nhằm hướng dẫn, chỉ bảo trẻ thực hiện tốt các yêu cầu do mình đề ra góp phần làm cho cơ thể trẻ phát triển. Đặc biệt, trong giờ thể dục, giáo viên đã tạo điều kiện giúp trẻ thực hiện chính xác các động tác làm cho cơ thể phát triển được cân đối bằng chính lời nói của mình. Ngoài chế độ sinh hoạt hàng ngày, trẻ cần phải được ăn ngon, ăn đủ chất thì cơ thể của trẻ mới phát triển hoàn thiện được. Để động viên, khích lệ trẻ ăn được thì người lớn đóng một vai trò rất quan trọng. 1.1.2.3. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 4 – 5 tuổi 15 Sự phát triển ngôn ngữ gắn liền với sự mở rộng giao lưu của trẻ đối với thế giới xung quanh, với con người, với đồ vật và thiên nhiên. Việc mở rộng phạm vi tiếp xúc và các mối quan hệ xã hội giúp cho khả năng tri giác của trẻ nhanh nhạy hơn. Khả năng nhận thức và ngôn ngữ của trẻ ở giai đoạn 4 – 5 tuổi này có những bước tiến mới đáng kể. Ở thời kì này, trẻ hoàn thiện dần về mặt ngữ âm, các phụ âm đầu, âm cuối, âm đệm, thanh điệu dần được định vị. Trẻ phát âm tốt hơn, ít ê, a, ậm ừ hơn so với thời kì trước. Đặc biệt, đã xuất hiện ở lời nói của trẻ những khái quát, kết luận đơn giản một cách mạch lạc, song một số trẻ vẫn phát âm sai thanh ngã, âm đệm và âm cuối. Trẻ từ 4 – 5, tuổi khả năng nhận thức vốn từ tăng lên một cách đáng kể. Theo nghiên cứu của yy. Y pratuxevich: 4 tuổi trẻ có 1900 từ và 5 tuổi là 2.500 từ. Với sự nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về ngôn ngữ của trẻ nội thành thì vốn từ của trẻ là: 4 tuổi từ 1900 từ đến 2000 từ và 5 tuổi trẻ có từ 2500 từ đến 2600 từ. Trẻ học từ mới nhanh hơn, phát âm các từ tốt hơn so với các giai đoạn lứa tuổi trước. Chính vì lẽ đó mà vốn từ của trẻ ở giai đoạn này phong phú, bao gồm nhiều từ loại. Số lượng các từ loại: danh từ, tính từ, đại từ, trạng từ được tăng lên một cách đáng kể, trẻ hiểu được ý nghĩa của nhiều từ loại khác nhau và biết sử dụng chúng để thể hiện mối liên hệ đa dạng giữa các sự vật và hiện tượng về thơi gian, định hướng không gian, số lượng, nguyên nhân và kết quả. Trẻ có khả năng tri giác âm thanh nhanh nhạy và khả năng phát âm mềm dẻo tự nhiên. Trẻ ham học hỏi, thích tìm hiểu về xã hội và tự nhiên. Trẻ chủ động giao tiếp ngôn ngữ với những người xung quanh và hay đặt các câu hỏi như: “Như thế nào?”; “Làm gì?”; “Bao giờ?”; “Tại sao?”… Những câu hỏi, câu trả lời hay những câu nói của trẻ ngày càng được hoàn thiện hơn. Số lượng các câu nói đúng ngữ pháp cũng được tăng lên một cách rõ rệt, các thành phần trong câu nói được phát triển. Bởi trẻ biết lắng nghe các câu trả lời, câu nói của người khác. Đặc biệt, ở lứa tuổi này trẻ thích tham gia, hòa nhập với tập thể. Trẻ hứng thú đặc biệt với việc rèn luyện những kĩ năng vận động mới học được và sử dụng những kĩ năng đó để hoạt động, di chuyển. Trẻ biết sử dụng vốn ngôn 16 ngữ của mình để tham gia vào các trò chơi cùng bạn bè, cô giáo một cách say sưa, nhiệt tình và giao tiếp khéo léo hơn. Trẻ có thể diễn tả những hành động phức tạp và hăng hái kể về những điều xảy ra với nó. Khả năng tiếp thu và sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp hằng ngày của trẻ ngày càng tốt hơn. Trẻ rất thích tưởng tượng, chúng đã biết yêu cái thiện, ghét cái ác. Chính vì vậy, trẻ rất thích nghe những câu chuyện về động vật dễ thương, thiện ác phân minh, kết thúc có hậu. Trẻ không những tự mình xây dựng cốt truyện mà còn có thể thuật lại những câu chuyện nó đã nghe người khác kể. 1.1.3. Trò chơi dân gian với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 1.1.3.1. Khái niệm trò chơi dân gian Trò chơi dân gian trẻ em là một loại hoạt động văn hóa dân gian dành cho trẻ em, được lưu truyền từ vùng này sang vùng khác, từ đời này sang đời khác nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí và giáo dục trẻ em một cách tinh tế nhẹ nhàng. Những trò chơi này được tổ chức nhằm tạo cho trẻ những cảm giác hứng thú, thoải mái, phát triển vận động kết hợp với lời nói. 1.1.3.2. Đặc điểm của trò chơi dân gian trẻ em Trò chơi dân gian là một loại hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc của mỗi dân tộc. Không có dân tộc nào lại không có những trò chơi riêng cho trẻ em. Bởi trò chơi dân gian thường đơn giản, dễ chơi, dễ hòa nhập. Ở bất cứ đâu, trong gia đình, trong lớp học hay ở thôn xóm, trong các bản làng đều có thể tổ chức trò được trò chơi dân gian phù hợp: ở sân nhỏ thì có thể chơi “ô ăn quan”, “đá cầu”, … rộng hơn thì chơi “bịt mắt bắt dê”, “rồng rắn lên mây”, “trốn tìm”, “mèo đuổi chuột”,… Vật liệu để chơi trò chơi dân gian cũng thật đơn giản, không cầu kỳ, tốn kém, dễ kiếm, dễ tìm, có thể sử dụng ngay những vật liệu có sẵn trong thiên nhiên như: nắm sỏi, cọng cỏ, lá hay những mẩu gỗ,… chúng có thể nhặt trong vườn, dưới ruộng. Song, hầu hết các trò chơi dân gian của trẻ em đều gắn liền với những bài đồng dao với đặc điểm ngôn ngữ của đồng dao mang tính giản dị, mộc mạc, vô tư, hồn nhiên, vui tươi và ngộ nghĩnh. Có thể đó là những câu vè ngắn gọn, 17 có nhịp điệu, âm thanh dễ thuộc, dễ nhớ thường được sử dụng trong khi chơi các trò chơi như là: “Dung dăng dung dẻ”, “Thả đỉa ba ba”, “Chi chi chành chành”, hay “rồng rắn lên mây” là trò chơi gắn với đồng dao nhằm rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo, phát huy tinh thần đoàn kết, tôn trọng kỷ luật và khả năng đối đáp: “Rồng rắn lên mây Có cây lúc lắc Có nhà khiển binh Hỏi thăm thầy thuốc có nhà hay không?...” Logic của đồng dao chính là logic của trò chơi, nhưng cũng không thể bắt nó phải theo cái logic của hiện thực mà mang tính nhảy cóc. Ta có thể hiểu rằng không ai có thể giải thích được: “Chi chi chành chành Cái đanh thổi lửa” là cái gì? Tại sao lại: “Cái cống nằm trong Con ong nằm ngoài Củ khoai chấm mật Phật ngồi phật khóc Con cóc nhảy ra….” Cũng bởi cái lối nhảy cóc đó lại là yếu tố gắn bó với trò chơi để đưa các em vào với thế giới của trò chơi, khác với thế giới ở bên ngoài lại tạo nên tính hấp dẫn cho đứa trẻ. Ta dễ nhận thấy một biện pháp tu từ học rất tiêu biểu cho đòng dao là biện pháp nói ngược, trái hẳn với cái logic thực tế, logic của cuộc đời, chính vì nó đảo như vậy mới tạo sự hấp dẫn. Chẳng hạn như: “Trời làm một trận mưa rào Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô Thóc giống đuổi chuột trong bồ Đong đong càn cấn đuổi cò ngoài ao” 18 Hay là: “Bao giờ cho đến tháng ba Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng Hùm nằm cho lợn liếm lông Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi Nắm xôi nuốt trẻ lên mười Chân giò, chai rượu nuốt người lao đao. Lúa mạ nhảy lên ăn bò Cỏ năn, cỏ lác rình mò bắt trâu Gà con đuổi bắt diều hâu Chim ri đánh đuổi vỡ đầu bồ nông”. Hoặc: “Bao giờ cho chuối có cành Cho sung có nụ, cho hành có hoa Bao giờ cho khỉ đeo hoa Cho voi đánh sáp, cho gà nhuộm răng”. Biện pháp nói ngược ngộ nghĩnh này rất phù hợp với không khí của trò chơi, vì nó làm cho trẻ vui thích, kích thích tính tò mò, ham tìm hiểu của chúng. Mặt khác, nội dung của những bài đồng dao chứa đựng nội dung giáo dục cho trẻ nhiều mặt. Bởi lẽ đồng dao có chứa đựng những lời mộc mạc, hồn nhiên có vần có điệu. Đồng dao là của trẻ em nên đồng dao có tính chất vui chơi phù hợp với tâm sinh lí của trẻ. Đồng dao gợi lên tình yêu hồn nhiên của trẻ đối với con ong, cái kiến, con cò, con vạc, con trâu, con nghé,… Khi trực tiếp tham gia vào trò chơi, trẻ hát đồng dao và qua đó trẻ tiếp thu được những điều hay lẽ phải một cách tinh tế, nhẹ nhàng, thoải mái. Trò chơi dân gian gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên. Trong trò chơi, con người (đặc biệt là trẻ) và thiên nhiên hòa quyện vào với nhau, thiên nhiên trở nên có hồn và gần gũi với trẻ từ lúc nào. “Cây mốt, cây mai, lá trai, lá hến, con nhện chăng tơ, quả mơ có hạt...” là bài đồng dao thường hát để chơi 19 chuyền dụng cụ là một quả bóng (có thể được thay bằng một hòn đá hoặc quả ổi xanh) và 10 que tre được vót tròn. Trò chơi dân gian được sáng tác dựa trên mô phỏng bắt chước hoạt động của người lớn trong xã hội nhưng không phụ thuộc vào nghiêm ngặt vào sự thay đổi của cuộc sống đang diễn ra hằng ngày mà phát triển theo những quy luật riêng, ít nhiều mang tính chất ổn định. Chúng vẫn tiếp tục tồn tại ngay cả khi cuộc sống đã thay đổi. Ví dụ: Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay ngày một phát triển cao, những trò chơi: “Bịt mắt bắt dê”, “Kéo co”, “Trốn tìm”, “Ô ăn quan”, “Thả diều”,… vẫn còn tồn tại và được trẻ em đón nhận một cách thích thú say mê. Nhưng chính nó vì được sáng tác dựa trên hiện thực cuộc sống lao động và sinh hoạt của con người, nên khó có thể tìm ra được ai là tác giả của những trò chơi này, và cũng khó xác định được ngày, tháng, năm ra đời của chúng. Ko chep phan to mau: Trò chơi dân gian của trẻ em được chia thành bốn loại: ( ) * Loại trò chơi vận động: Gồm các trò chơi cho trẻ em vận động chân tay, chạy nhảy, lộn vòng, gây không khí vui nhộn và sinh động như “Tập tầm vông”; “Dung dăng dung dẻ”; “Lộn cầu vồng”; “Lò cò”; “Bịt mắt bắt dê”;… Những trò chơi này thường được chơi ở ngoài trời để tiếp xúc với thiên nhiên, với cảnh vật xung quanh, nhằm tăng cường sức khoẻ và các tố chất về thể lực cho trẻ em. * Loại trò chơi học tập: Đó là trò chơi nhằm phát huy trí tuệ của trẻ em, dạy cho các em biết quan sát, tính toán. Có khi chỉ là một bài đồng dao, trẻ em ngồi quây quần với nhau cùng hát, cùng đối thoại để giới thiệu các sự vật xung quanh mình, tiếp thu tri thức về cuộc sống. Có khi là trò chơi bày cách tính toán hẳn hoi, như trò chơi: “Ô ăn quan”, tập cho trẻ em biết cách làm phép trừ, phép cộng, hoặc như trò chơi “Chuyền thẻ”, rõ ràng đây là một bài học đếm từ 1 đến 10, giúp phát triển trí tuệ cho trẻ. * Loại trò chơi mô phỏng: Đây là những trò chơi mà trẻ mô phỏng, bắt chước cách sinh hoạt của người lớn như làm nhà, cấy ruộng, nấu ăn,… Trong khi chơi trẻ em thi nhau xem ai làm đẹp, làm đúng, làm nhanh hơn. Đặc biệt 20
- Xem thêm -