Tài liệu Phòng chống rửa tiền qua hệ thông ngân hàng việt nam

  • Số trang: 86 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 245 |
  • Lượt tải: 0
sakura

Đã đăng 11429 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  VÕ THỊ THÚY KIỀU PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG MÃ NGÀNH: 60.34.02.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. TRẦN VIỆT THU TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013 1 LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài: Hoạt động rửa tiền ngày càng tinh vi, phức tạp đã và đang trở thành một mối nguy cơ lớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Theo ước tính lượng tiền có nguồn gốc không sạch đổ vào các nền kinh tế mỗi năm khoảng 1.000 tỷ USD, tương đương 5% GDP toàn cầu, có khả năng sụp đổ hệ thống tài chính bất cứ lúc nào. Hoạt động rửa tiền hiện nay được thực hiện qua nhiều cửa ngõ như mua bán chứng khoán, bất động sản, thông qua tổ chức từ thiện, tổ chức phi chính phủ…. Nhưng ngân hàng vẫn là cửa ngõ chính của hoạt động rửa tiền. Hoạt động rửa tiền ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế quốc gia, không những làm lũng đoạn nền kinh tế quốc gia mà nó còn bóp méo hoạt động ngoại thương, tác động xấu lên hệ thống tài chính, thị trường chứng khoán và còn nhiều ảnh hưởng khác nữa. Do đó, nhiều tổ chức như Ngân Hàng Thế Giới, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, Lực lượng Đặc Nhiệm Tài Chính (FATF) ….đã vào cuộc để thực hiện công tác phòng, chống rửa tiền bằng cách xem xét tình hình thực tế và các dự đoán để đưa ra các đề nghị . Ở Việt Nam chưa có một công bố thống kê chính thức nào về hoạt động rửa tiền cũng như độ lớn của nó trong nền kinh tế. Tuy nhiên, một nghiên cứu công bố gần đây về hoạt động không chính thức của nền kinh tế Việt Nam làm chúng ta lo ngại. Nghiên cứu của Stoyan và cộng sự cho rằng hoạt động phi chính thức của Việt Nam vào năm 2001 vào khoảng 50% GDP và có xu hướng tăng dần hàng năm. Trong đó, các hoạt động phụ của các hộ gia đình ở nông thôn chiếm 24%, hoạt động kinh doanh và dịch vụ không khai báo ở thành thị là khoảng 10,5% và hoạt động không khai báo khác là 10%. So với hoạt động kinh tế ngầm của các khu vực trên thế giới thì, ở châu Phi chiếm 44%, ở Trung và Nam Mỹ chiếm 39% và 35% ở Châu Á. Với đặc điểm của từng nền kinh tế và chất lượng của hoạt động thống kê ở từng nước thì lượng tiền được rửa sẽ chiếm ít hoặc nhiều trong các hoạt động kinh tế ngầm, tuy nhiên một điều chắc chắn rằng nó có tương quan thuận với nhau. Như vậy chúng ta có thể thấy dù ít hay nhiều thì hoạt động rửa tiền ở Việt Nam vẫn tồn tại và nếu tính qui đổi theo tỉ lệ phần trăm nào đó đối với 2 hoạt động kinh tế ngầm theo nghiên cứu của Stoyan nêu trên thì Việt Nam cũng có cơ sở quan tâm và nghiên cứu đến chủ đề này khá phức tạp và khó đo lường này. Thời gian gần đây, ngày càng nhiều các ngân hàng dính líu đến hoạt động tội phạm rửa tiền, dù vô tình hay cố ý thì vô hình chung đã làm cho hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế mang rủi ro lớn, khả năng phá sản hàng loạt là có thể xảy ra. Vì vậy việc nghiên cứu về các phương thức và xu hướng rửa tiền thông qua hệ thống ngân hàng Việt Nam là rất cần thiết, góp phần tích cực vào việc xây dựng khuôn khổ pháp lý, hoạch định chính sách về phòng chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố hiệu quả. Đồng thời nâng cao hiệu quả, tính minh bạch và bền vững của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu : thực trạng rửa tiền và công tác phòng, chống rửa tiền. Phạm vi nghiên cứu : hệ thống ngân hàng tại Việt Nam. Phƣơng pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả nhằm tổng quát về tình hình rửa tiền trên thế giới và Việt Nam. Phương Pháp Thống kê nhằm tập hợp các số liệu và đánh giá thực trạng rửa tiền, hiệu quả của công tác phòng, chống rửa tiền. Phương Pháp lịch sử : dựa vào các thông tin trong quá khứ để tìm hiểu nguyên nhân và có các kết luận phù hợp. Nguồn dữ liệu của luận văn chủ yếu lấy từ: Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng Tổng cục thống kê Nhóm Châu Á Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG) Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) 3 Kết quả nghiên cứu chủ yếu nhằm đạt đƣợc: Một là : Phản ánh được những phương thức, hành vi rửa tiền qua hệ thống ngân hàng. Hai là : phản ánh được thực trạng rửa tiền tại Việt Nam và những nỗ lực của các ngân hàng trong công tác phòng chống rửa tiền. Từ đó đánh giá được hiệu quả của công tác phòng chống rửa tiền, nêu ra những điểm tồn tại và nguyên nhân của nó. Ba là : Từ những thực trạng rửa tiền và nguyên nhân của những tồn tại thì tác giả sẽ kiến nghị những giải pháp nhằm năng cao hiệu quả phòng, chống rửa tiền tại Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng. Kết cấu của luận văn gồm 3 chƣơng: Chương 1: Tổng quan về rửa tiền và phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng. Chương 2 : Thực trạng của việc phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay. Chương 3 : Giải pháp phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỬA TIỀN VÀ PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1.1. Khái niệm rửa tiền và những vấn đề liên quan đến rửa tiền 1.1.1. Khái niệm rửa tiền 1.1.1.1. Khái niệm của quốc tế Rửa tiền theo liên hợp quốc dựa vào công ước Vienna (1988) và công ước Palermo (2000) được rất nhiều quốc gia đồng thuận nhất là “ việc sử dụng (nghĩa là với bất cứ hình thức gì kể cả cho và nhận) bất cứ tài sản nào mà nó được cho là có nguồn gốc từ hoạt động hoàn toàn hay một phần của phạm tội mà có được hoặc từ hoạt động che đậy, trá hình nhằm giúp đỡ người phạm tội đó thoát khỏi pháp luật”. Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) đưa ra định nghĩa súc tích cho thuật ngữ “rửa tiền” là “việc xử lý tiền do phạm tội mà có nhằm che đậy nguồn gốc bất hợp pháp của chúng” nhằm “hợp pháp hóa” những món lợi thu được một cách bất chính từ hành vi phạm tội. Để hiểu một cách chính xác, cặn kẽ khái niệm rửa tiền chúng ta phải tìm hiểu một thuật ngữ khác đó là chuyển vốn tư bản hay gọi là vốn bay. Đây là vốn rút ra cấp tốc khỏi một nước do sự mất lòng tin vào chính phủ, khi nước đó xảy ra biến động về kinh tế, chính trị. Vốn bay còn được hiểu là “tiền nóng”, tiền được chuyển từ một địa điểm này sang địa điểm khác do sự lo ngại về chính sách của chính phủ. Trong nhiều trường hợp, khó có thể phân biệt tiền hợp pháp và tiền bất hợp pháp. Những bộ phận hợp pháp của vốn bay thường là những dòng tiền sau thuế từ một quốc gia này sang quốc gia khác, và nó thường được ghi vào trong sổ sách và được lưu giữ để báo cáo. Trong khi những bộ phận hợp pháp này được chuyển đi một cách an toàn, công khai thì những bộ phận bất hợp pháp của vốn bay thường được che dấu đi. Một thuật ngữ liên quan đến hoạt động rửa tiền là “smurfing”. Thuật ngữ này được đặt tên theo những sinh vật hoạt hình, người chuyển tiền liên tục để che dấu nguồn gốc và chủ sở hữu của tiền. Smurf là những nhân vật giúp chuyển tiền từ tổ chức này 5 sang một tổ chức rửa tiền hoặc từ quốc gia này sang quốc gia khác. Hoạt động của Smurf thường liên quan đến người cầm đầu, gọi là Papa Surf, người chỉ đạo cho Surf gửi tiền thu được từ buôn bán ma túy tại nhiều ngân hàng với số lượng nhỏ hơn số lượng tối thiểu mà các tổ chức tín dụng được yêu cầu phải báo cáo. Chúng ta tìm hiểu thêm tội phạm nguồn của tội rửa tiền, là hành vi phạm tội chính, từ đó đã tạo ra những đồng tiền mà khi đã được rửa thì sẽ dẫn tới hành vi phạm tội rửa tiền. Thuật ngữ “tiền bẩn”, “tiền dơ”, “tiền đen” đều hàm ý là tiền có nguồn gốc từ phạm tội mà có được. Có nhiều cách đo lường trực tiếp hoặc gián tiếp để ước lượng tiền được rửa ở một nền kinh tế nào đó. Chẳng hạn cách tiếp cận vĩ mô, phổ biến vào những năm 1980, họ ước lượng hoạt động kinh tế ngầm chiếm bao nhiêu phần trăm của GDP và thông qua đó phỏng đoán mức rửa tiền. Công cụ thường dùng là quan sát sự dịch chuyển bất thường nhu cầu xã hội theo thời gian, hoặc là sự tăng vọt hay giảm thuế đột ngột. Một cách tiếp cận khác là tiếp cận vi mô. Cách này thường ước lượng gộp thông qua các hoạt động tội phạm được phát hiện, các kênh thông tin đường phố. Thông thường thì các thống kê mức độ rửa tiền công bố với một biên độ dao động khá rộng bằng phần trăm GDP. Chẳng hạn như những kết quả công bố của IMF số lượng được rửa ở Úc khoảng 4-12% GDP, ở Đức là 2-11%, ở Ý là 10 – 33%, ở Anh là 1 – 15% và ở Mỹ là 4 – 33%. Trong báo cáo năm 2000, cơ quan chống các chất độc gây nghiện quốc tế (INCSR) đã sắp xếp nguy cơ rửa tiền ở các nước trên thế giới vào một hệ thống phân loại gồm 3 mức: nhóm mức độ lo ngại cao, nhóm mức độ lo ngại trung bình và các nhóm được theo dõi. Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có mức độ lo ngại trung bình. 1.1.1.2. Khái niệm theo luật Việt Nam Theo luật 07/2012/QH13 ngày 18/06/2012 về phòng chống rửa tiền thì Rửa tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có thông qua các hoạt động cụ thể sau đây: (i) Hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự; (theo điều 251) 6 (ii) Trợ giúp cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến tội phạm nhằm trốn tránh trách nhiệm pháp lý bằng việc hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có; (iii) Chiếm hữu tài sản nếu tại thời điểm nhận tài sản đã biết rõ tài sản đó do phạm tội mà có, nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản. Định nghĩa rửa tiền theo luật Việt Nam đã phần nào đáp ứng khuyến nghị 1 của FATF về phòng, chống rửa tiền. Trong điều 251 của bộ luật hình sự có quy định rõ các hành vi nào được xem là tội rửa tiền. Việc gắn kết các tội phạm rửa tiền với các hành vi phạm tội trong bộ luật hình sự nhằm mục đích hình sự hóa tội danh rửa tiền. Thêm vào đó, hành vi tài trợ khủng bố nhằm che dấu nguồn tiền bẩn cũng được xem là rửa tiền. 1.1.2. Qui trình rửa tiền Để hiểu rõ hơn về rửa tiền, chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về quá trình vận động của tiền bẩn để nhận dạng đầy đủ bản chất của rửa tiền. 1.1.2.1. Đầu tư phân tán (Placement) Đây là thuật ngữ nói lên việc phân phối nguồn tiền từ các hoạt động phi pháp vào 7 trong hệ thống tài chính mà không gây ra sự chú ý của các định chế tài chính và của cơ quan chức năng. Các tội phạm rửa tiền có thể thực hiện đầu tư phân tán bằng cách chia các khoản tiền bẩn thành nhiều khoản tiền nhỏ dưới mức qui định – theo đề xuất của tổ chức chống rửa tiền quốc tế là 15.000USD hoặc EURO, và thường là ở những ngân hàng có các quy chế kiểm soát nội bộ yếu kém, hoặc những ngân hàng có uy tín thấp. Thậm chí các tội phạm rửa tiền còn thực hiện một cách hoàn hảo các kế hoạch của mình bằng cách chuyển tiền vào những tài khoản của các đối tác mà những hóa đơn thu tiền của các đối tác này không bao giờ có các hàng hóa dịch vụ đối ứng. Bước này thực hiện nhằm hai mục đích: giải tỏa việc nắm giữ lượng tiền mặt lớn của bọn tội phạm và đưa số tiền này vào hệ thống tài chính hợp pháp. Do đó nó được xem là rủi ro nhất bởi khả năng nghi ngờ là lớn nhất. Đã từng có một số đối tác nước ngoài đề xuất với NHNN, nếu cho họ mở tài khoản và ký kết hợp đồng tín dụng thì họ sẽ chuyển vào 20 tỷ USD để cho vay với lãi suất ưu đãi trong vòng 30 năm và thậm chí 10 năm đầu họ sẽ xóa luôn các khoản nợ gốc. 1.1.2.2. Phân tán lòng vòng (layering) Đây là thuật ngữ nói lên một quy trình tạo ra một chuỗi các giao dịch nhằm mục đích che đậy các nguồn tiền từ các hoạt động phi pháp và làm rối tung các dấu vết kiểm toán sau này. Các kỹ thuật phân tán thông thường là chuyển tiền điện tử ra nước ngoài, thường trực tiếp vào các ngân hàng dễ dãi “bank secrecy haven” hoặc vào những chứng chỉ tiền gửi có những qui chế pháp lý thông thoáng mà người chủ của nó sẵn sàng có thể rút ra vào bất kỳ lúc nào. Đó là những công cụ có tính thanh khoản rất cao như các séc du dịch. Bước kế tiếp kẻ đồng lõa sẽ làm cho vấn đề phức tạp hơn bằng cách chuyển tiền điện tử tới những người nắm giữ những tài khoản bí mật – thường là ở các quốc gia có các qui tắc quản trị ngân hàng hải ngoại lỏng lẻo. Những người này sẽ cho tiền tới các đối tác mà sau này sẽ hoàn trả lại bằng các hóa đơn “có vấn đề”. Đây là bước phức tạp nhất và bản chất có tính quốc tế hóa cao nhất. 1.1.2.3. Hợp nhất (Integration) Đây là thuật ngữ nói lên giai đoạn cuối cùng của việc rửa tiền, là việc tái phân 8 phối trở lại vào nền kinh tế các nguồn tiền không thể lần ra dấu vết được nữa. Giai đoạn này được tiến hành thông qua hàng loạt các hành vi tiêu dùng xa hoa lãng phí, các chi tiêu đầu tư vào các doanh nghiệp và đầu tư tài chính. Là bước mà tiền bẩn hòa nhập vào hệ thống và từ thời điểm này trở đi số tiền này quay trở lại bọn tội phạm dưới dạng tiền hợp pháp. Những khoản tiền tội ác giờ đây đã hòa lẫn trong hệ thống tài chính và có thể sử dụng cho bất kỳ mục đích nào kể cả việc tài trợ cho những mục đích tội ác mới 1.1.3. Những ảnh hƣởng của hoạt động rửa tiền đến nền kinh tế xã hội Một số nhà kinh tế cực đoan (tôn sùng thị trường) cho rằng không có tiền nào là bẩn, tiền nào là sạch. Theo họ, “rửa tiền” chỉ là phản ứng “hợp lý” của mọi “cá thể kinh tế”, không ai muốn trả tiền thuế và ai cũng muốn vận dụng tài sản của mình vào những hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận nhất. Như vậy tiền bẩn theo họ đã giúp phát triển kinh tế. Tuy nhiên ý kiến này là hoàn toàn sai lầm. Tự bản chất của nó, sự phân bố tài nguyên do rửa tiền không chỉ theo tín hiệu lợi nhuận, mà phần lớn là để trốn tránh pháp luật. Hoạt động rửa tiền vừa lãng phí nguồn lực kinh tế của xã hội (vào các hoạt động tội phạm sinh ra tiền bẩn, thay vì vào các hoạt động sản xuất thật sự hữu ích), vừa bóp méo sự phân bố các nguồn lực ấy. Sau đây là những tác động xấu của hoạt động rửa tiền đến nền kinh tế xã hội. 1.1.3.1. Vĩ mô Vì những đồng tiền bẩn có thể xuất phát từ bất cứ khu vực nào và chuyển đến các nước có hệ thống tài chính ổn định, nên chúng có ảnh hưởng nhất định đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô không chỉ ở cấp quốc gia mà còn cấp khu vực, cấp quốc tế. Trong một nghiên cứu, tổ chức tư vấn dịch vụ John Walker đã sử dụng mô hình I-O để phân tích những kịch bản của tác động rửa tiền. Trong một kịch bản trung hòa nhất cho thấy tác động như sau: 1 tỷ USD rửa tiền làm giảm đi 1,13 tỷ USD giá trị sản lượng, 609 ngàn USD thu nhập và 25 việc làm. Đây là một tác động thật sự lớn và thực tế ở các nền kinh tế lớn số tiền rửa nhiều hơn chứ không dừng lại như kịch bản đã phân tích. Có thể đưa ra 9 một loạt các hậu quả tiêu cực về kinh tế vĩ mô của tình trạng rửa tiền. Hoạt động này làm ảnh hưởng đến các giao dịch tiền tệ truyền thống hợp pháp, làm thay đổi các dòng vốn quốc tế, làm tỷ giá tiền tệ biến động mạnh, làm người ta không thể đánh giá được chính xác quy mô thực tế của vốn đầu tư.  Làm lũng đoạn nền kinh tế quốc gia Các dòng tài chính phi pháp từ hoạt động rửa tiền sẽ làm lũng đoạn nền kinh tế quốc gia. Thực tế cho thấy nền kinh tế của nước Nga đã bị lũng đoạn như thế nào khi đến hơn 50% các ngân hàng Maxcova có liên quan đến hoạt động của mafia. Theo bà Susan J Adams trưởng đại diện của IMF tại Việt Nam, Việt Nam cần phải cảnh giác với dòng tài chính phi pháp này bởi nếu chúng chảy vào thì sớm muộn nền kinh tế và hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia cũng sẽ bị tàn phá.  Rửa tiền có thể làm méo mó nền kinh tế và tạo ra tính bất ổn của thị trường Những tội phạm rửa tiền có thể chuyển vốn tới những khu vực hoặc những vùng mà những nguồn tiền phi pháp khó có khả năng bị phát hiện bất chấp việc đầu tư đó có cần thiết và mang lại lợi nhuận hay không. Các dự án đầu tư kiểu này chắc chắn là không có lợi cho sự phát triển của ngành công nghiệp tại địa phương và quốc gia bởi vì chúng không tuân thủ theo bất kỳ qui tắc nào của sự phát triển.  Đồng tiền của một quốc gia cũng bị đe doạ Do nguồn cung ứng tiền tệ từ các hoạt động rửa tiền không dựa trên các yếu tố kỳ vọng hợp lý của thị trường mà dựa trên những yếu tố ngoài thị trường. Theo các chuyên gia, Tây Ban Nha là quốc gia có lượng tiền có nguồn gốc bất hợp pháp cao nhất Châu Âu. Điều này đôi khi khó nhận ra nhưng các dấu hiệu thì rõ ràng. Chẳng hạn tờ giấy bạc 500 Euro: gần 1/3 tổng số lượng lưu hành tại EU tập trung vào Tây Ban Nha.  Thị trường chứng khoán tăng tính rủi ro Là nơi tiếp vốn đầu tư gián tiếp, thị trường chứng khoán không nằm ngoài danh mục đầu tư của các nhà rửa tiền. Với sự tham gia của nguồn tiền bẩn làm cho giá cả cổ phiếu không phản ảnh đúng theo cung cầu thực của thị trường. Những đợt thu gom cổ 10 phiếu của các nhà rửa tiền làm thị trường lên cơn sốt giá ngoài tầm dự đoán, thậm chí giá cổ phiếu của các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ cũng lên giá đáng kể. Và cũng ào ạt như lúc mua, họ bắt đầu bán tháo cổ phiếu thu hồi tiền như kịch bản của họ đã dựng sẵn, điều đó làm cho giá chứng khoán rớt giá thê thảm mà không có mô hình chứng khoán nào có thể dự đoán được. Nó thuộc vào nguy cơ đảo ngược dòng vốn của chứng khoán.  Các hoạt động rửa tiền làm mất đi uy tín của quốc gia Và do đó làm giảm đi những cơ hội tăng trưởng do các nhà đầu tư giờ đây đã mất đi niềm tin vào các quốc gia đó. Đầu tư nước ngoài vào các quốc gia như thế chắc chắn sẽ giảm đi đáng kể. Năm 2003, Bộ Tài Chính Mỹ ra thông báo tách Myanmar khỏi hệ thống tài chính Mỹ sau khi nước này là trung tâm của rửa tiền. Washington khẳng định hai ngân hàng Mayflower và Wealth Bank của Myanmar liên quan tới các nhóm buôn lậu thuốc phiện. Trước đó Ukraina và quốc đảo Nauru cũng là đối tượng chịu sự trừng phạt của Mỹ. 1.1.3.2. Vi mô  Tác động lên hệ thống tài chính Uy tín của hệ thống ngân hàng tài chính chủ yếu dựa vào quan niệm hệ thống này hoạt động trong một khuôn khổ khắc khe về đạo đức, pháp lý và chuyên môn. Bởi vậy uy tín là tài sản vô giá đối với các tổ chức tín dụng. Do nó được xây dựng trên cơ sở lòng tin của khách hàng nên ngân hàng rất khó tồn tại khi lòng tin đó bị lung lay. Các định chế tài chính nào tiếp nhận những dòng tài chính phi pháp thì tính thanh khoản, tình hình tài chính, danh tiếng của các định chế tài chính sẽ bị đe dọa nghiêm trọng khi một số lượng lớn các nguồn tiền phi pháp này bất chợt rút ra khỏi quốc gia như là một phần của kế hoạch rửa tiền mà điển hình là sự sụp đổ của ngân hàng quốc tế BCCI của Mỹ. Rửa tiền làm suy yếu hệ thống tài chính và do đó làm xói mòn việc tích tụ vốn trong nước bằng 3 lý do: Thứ nhất: rửa tiền làm xói mòn bản thân nội tại của các tổ chức tài chính Điều dễ dàng nhận thấy mối quan hệ nguy hiểm giữa hành vi rửa tiền và cán bộ 11 phụ trách của các tổ chức tài chính. Rửa tiền làm tăng khả năng khách hàng bị lừa gạt bởi tham nhũng do chính nhân viên của ngân hàng gây ra, làm suy yếu chính ngân hàng từ nội bộ, làm tăng khả năng vỡ nợ của ngân hàng. Nếu số lượng tiền có nhu cầu được rửa càng cao thì tính nguy hiểm càng lớn thông qua các hành vi tham nhũng và các tìm kiếm đặc lợi khác. Điều này làm thiên lệch các quyết định đầu tư tài chính và dẫn đến làm giảm hiệu quả của hệ thống tài chính ở cấp độ vi mô lẫn vĩ mô. Thứ hai: Suy giảm niềm tin của khách hàng vào tổ chức tài chính Đặc biệt ở các nước đang phát triển, lòng tin của khách hàng đối với hệ thống tài chính là một yêu cầu quan trọng để phát triển hệ thống này qua thời gian. Và như vậy, bất cứ một tín hiệu nào mà khách hàng cho rằng những định chế tài chính là gian lận hoặc tiếp tay cho hoạt động gian lận này đều có thể làm suy sụp niềm tin và có thể tổn hại đến cả hệ thống. Trong tình trạng tồi tệ có thể làm khủng hoảng ngân hàng vì công chúng sẽ cư xử theo hiệu ứng tâm lý bầy đàn hoặc rút vốn hàng loạt nếu lòng tin này không còn. Thứ Ba : Nguy cơ bị thâu tóm của các công ty trong nước kể cả ngân hàng Ngoài ra, với việc giúp rửa sạch những nguồn tiền bẩn bất hợp pháp trong và ngoài nước, các ngân hàng sẽ giúp các tổ chức tội phạm có điều kiện thâu tóm một cách hợp pháp các công ty kinh doanh trong nước kể cả các ngân hàng và biến chúng thành công cụ rửa tiền. Và vụ bê bối của ngân hàng Commezbank (ngân hàng lớn thứ 4 tại Đức) là một minh chứng cho vấn đề này.  Ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế chính thức Bên cạnh tác động đến hệ thống tài chính, rửa tiền còn có tác động tiêu cực trực tiếp đến tăng trưởng của khu vực kinh tế chính thức. Một là : Cạnh tranh không cân sức, ảnh đến lợi nhuận của các công ty chân chính Các doanh nghiệp chân chính thấy rằng họ không thể nào cạnh tranh nổi với các công ty liên quan đến hoạt động rửa tiền. Những công ty được bảo kê như thế sẽ cung 12 cấp những dịch vụ và hàng hóa dưới giá trị thị trường và thậm chí chịu lỗ bởi vì mục tiêu chủ yếu của họ là rửa tiền hơn là phải cạnh tranh tìm kiếm lợi nhuận như những công ty chân chính khác. Và hậu quả tất yếu là sự phá sản hàng loạt của các công ty chân chính mà nguyên nhân chính không nằm ở năng lực điều hành hoặc bất cứ nguyên nhân nội tại nào. Hai là : Chệch hướng đầu tư và phân bổ nguồn lực không hiệu quả Hơn thế nữa, rửa tiền làm chệch hướng và phân bố nguồn lực trong khu vực chính thức kém hiệu quả. Theo báo cáo rửa tiền, phần lớn lượng tiền này được đem đi đầu tư ở những khu vực được xem như là hợp pháp để đảm bảo tính an toàn hơn là suất sinh lời. Những khoản đầu tư này không chỉ tạo ra ít hiệu suất hơn cho nền kinh tế mà còn chệch hướng cung và cầu tự nhiên của khu vực chính thức. Thị trường trong khu vực bất động sản, các hoạt động nghệ thuật, đồ cổ, nữ trang và các ngành ôtô đắt tiền được giới rửa tiền quan tâm. Những dấu hiệu bất thường về cung hoặc cầu trong xã hội thường là do những hoạt động bất chính gây ra và rửa tiền là một hoạt động quan trọng tạo nên sự mất cân đối trong xã hội. Việt Nam có thể cho chúng ta thấy một dấu hiệu khác thường về cung cầu trong lĩnh vực bất động sản. Giá bất động sản cao sấp xỉ bằng Nhật Bản, trong khi thu nhập bằng 1/20, nghiêm trọng hơn là bất động sản đa số đã có chủ nhưng hầu như lại ít sử dụng thật sự. 1.2. Phƣơng thức, thủ đoạn rửa riền qua hệ thống ngân hàng Nghiên cứu phương thức, thủ đoạn rửa tiền rất hữu ích đối với việc quản lý ngân hàng, giúp ngân hàng hiểu được khách hàng của mình. Điều này giúp ngân hàng phát hiện các giao dịch có dấu hiệu nghi vấn để đưa ra biện pháp phòng ngừa kịp thời. Phương thức, thủ đoạn rửa tiền được nghiên cứu ở 3 góc độ: Không gian, hành vi, công đoạn rửa tiền. 1.2.1. Về mặt không gian Phương thức thủ đoạn rửa tiền thể hiện dưới 5 trường hợp  Trường hợp 1: Các nguồn tiền được tẩy rửa và sử dụng ngay trong nước. Đây là 13 quá trình rửa tiền trong đó số tiền bất hợp pháp được thu, được rửa cũng như được tái đầu tư qua hệ thống tài chính của nước đó.  Trường hợp 2: Lượng tiền “bẩn” có nguồn gốc trong nước, sau đó chuyển ra nước ngoài để rửa trong hệ thống tài chính khác và cuối cùng đem trở lại lưu thông trên thị trường trong nước.  Trường hợp 3: Tiền “bẩn” được tạo ra ở nước ngoài, được tẩy rửa ở đó hay một nước khác và cuối cùng được đầu tư cho các nước đang phát triển.  Trường hợp 4: Số tiền được rửa và rút ra khỏi hệ thống tài chính của một quốc gia đang phát triển để sử dụng ở nơi khác, không quay lại đầu tư cho quốc gia đó.  Trường hợp 5: Lượng tiền sau khi rửa được chuyển vào một quốc gia đang phát triển nhưng không phải để đầu tư mà được lưu thông tản mạn, tiêu thụ khắp nơi. 1.2.2. Các hành vi rửa tiền qua ngân hàng Hành vi, phương thức, thủ đoạn rửa tiền rất phong phú đa dạng, gắn liền với khe hở trong hệ thống pháp luật mỗi nước, nhất là pháp luật hình sự, pháp luật về tài chính, ngân hàng... Từ thực tiễn phòng chống rửa tiền của nhiều nước có thể mô tả phương thức, thủ đoạn tội phạm rửa tiền qua ngân hàng như sau:  Rửa tiền qua các giao dịch trực tiếp bằng tiền mặt: Đây là phương thức rửa tiền truyền thống và chủ yếu của bọn tội phạm. Năm 1999, một quầy đổi tiền ở Pari đã phát hiện hành vi khả nghi của một người Pháp trong thời gian ngắn đã đổi 1,7 triệu Frăng Pháp sang Mác Đức. Kết quả điều tra cho thấy, kẻ tình nghi có quan hệ với một nhóm tội phạm buôn bán ma tuý ở Tây Ban Nha, Đức, Pháp, và đang tìm cách đổi tiền sang Mác Đức để tiêu thụ.  Rửa tiền thông qua việc mua vàng, bạc, kim cương...là những tài sản gọn nhẹ, có giá trị cao, có thể mua đi bán lại ở mọi nơi, mọi thời điểm trên thế giới. Đây là phương thức rửa tiền được bọn tội phạm sử dụng nhiều nhất do cách thức đơn giản, dễ thực hiện, nhưng lại dễ bị cơ quan điều tra phát hiện.  Rửa tiền thông qua đầu tư vào gửi tiết kiệm, mua tín phiếu, trái phiếu: Bọn tội 14 phạm sẽ gửi tiết kiệm vào ngân hàng hoặc mua tín phiếu, trái phiếu... làm cho đồng tiền nằm im trong một thời gian phù hợp với quy định với mỗi nước. Sau đó, người gửi tiền có thể rút ra toàn bộ gốc và lãi hoặc rút một phần, biến số tiền đó thành tiền hợp pháp.  Rửa tiền thông qua hệ thống ngân hàng “ngầm”: Tại một số nước, hệ thống ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, đắt đỏ mà lại quan liêu. Do đó, trong cộng đồng những người nước ngoài tại các quốc gia này tồn tại hệ thống ngân hàng không chính thức gọi là ngân hàng “ngầm”. Hệ thống ngân hàng ngầm này hoạt động và luân chuyển tài chính như các ngân hàng chính thức nhưng với chi phí dịch vụ rẻ hơn, bí mật hơn các ngân hàng hợp pháp. Các ngân hàng ngầm có đại diện ở nhiều nước khác nhau để thực hiện dịch vụ chuyển tiền từ nước này sang nước khác hoặc từ thành phố này sang thành phố khác trong cùng một quốc gia. Sự hoạt động của ngân hàng này chủ yếu dựa trên niềm tin giữa ngân hàng và bạn hàng nên thủ tục giấy tờ gọn nhẹ. Bọn tội phạm lợi dụng nguyên tắc giữ bí mật của những ngân hàng này đã đem tiền đến gửi và yêu cầu nhận lại ở một thành phố khác. Những địa chỉ cần nhận tiền tẩy rửa thông thường là những quốc gia khao khát đầu tư tài chính nhưng ít quan tâm đến nguồn gốc đồng tiền, việc thanh toán qua ngân hàng chưa phải là yêu cầu bắt buộc và phổ biến, hệ thống pháp luật về phòng chống rửa tiền chưa nghiêm... 1.2.3. Công đoạn rửa tiền  Công đoạn 1: Đưa tiền bất hợp pháp vào lưu chuyển trong hệ thống kinh tế tài chính, gọi tắt là “gài đặt”, “gửi tiền”. Đây là thao tác đầu tiên của hoạt động rửa tiền nhằm chuyển đổi các khoản tiền do phạm tội mà có sang các hình thức hợp pháp khác và đưa vào các chu trình kinh tế tài chính. Giai đoạn này được coi là khó khăn nhất đối với bọn tội phạm vì tiền và tài sản có được là bất hợp pháp và đang được cơ quan điều tra theo dõi, hơn thế nữa nhà nước và các cơ quan đặt ra nhiều quy chế để đón “lõng” bọn tội phạm rửa tiền, ví dụ như quy định lượng tiền mặt được đưa qua biên giới, được phép thanh toán, các quy định về khai báo ngân hàng. 15  Công đoạn 2: Quá trình tích tụ và quay vòng các khoản tiền sau khi chúng đã thâm nhập hệ thống tài chính, gọi tắt là “chuyển dịch”, “sắp xếp”. Trong công đoạn này, hàng ngàn thao tác nghiệp vụ được thực hiện làm cho đồng tiền chuyển dịch khắp nơi, quay vòng nhiều lần để xoá đi dấu vết tội phạm, cắt đứt một cách giả tạo mối liên hệ giữa tài sản và tổ chức tội phạm. Quốc gia nào có hệ thống luật doanh nghiệp càng thông thoáng càng dễ bị lợi dụng thông qua việc thành lập công ty ma. Ngoài ra, các giao dịch tài chính tinh vi như tham gia vào thị trường tài chính thứ cấp gắn liền với việc sử dụng công nghệ ngân hàng tiên tiến như Internet Banking cũng gây khó khăn cho hoạt động điều tra.  Công đoạn 3: Đầu tư hợp pháp, gọi tắt là “hoà nhập”. Đây là lúc bọn tội phạm sử dụng tiền, tài sản đã được tẩy rửa để đầu tư một cách hợp pháp vào hoạt động sản xuất kinh doanh dưới các hình thức như vốn đầu tư cho các doanh nghiệp, các khoản vay cá nhân, cổ phiếu, tín phiếu, bất động sản...Việc đầu tư vào các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sẽ làm gia tăng giá trị đồng tiền phạm tội, trộn lẫn đồng tiền hợp pháp và bất hợp pháp, đây cũng là công đoạn khó khăn để có thể xác định hành vi cấu thành tội phạm. 1.3. Phƣơng thức phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Dưới đây là những phương thức phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng được hầu hết các quốc gia áp dụng. Những phương thức này được thực hiện dựa trên cơ sở thực tế và những khuyến nghị FATF. Nó đồng thời cũng là những tiêu chí đánh giá hiệu quả của công tác phòng chống rửa tiền. Dựa vào mức độ tuân thủ các phương thức này ở mức độ nào mà chúng ta có những đánh giá tính hiệu quả của công tác phòng chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng. Với những phương thức và thủ đoạn của tội phạm rửa tiền ngày càng tinh vi và khó phát hiện thì hầu hết các quốc gia phát triển đều có các phương thức thực hiện phòng chống rửa tiền như sau: 1.3.1. Ban hành luật phòng chống rửa tiền và các quy định hƣớng dẫn liên quan đến phòng chống rửa tiền 16 Hoạt động rửa tiền hoạt động mang tính toàn cầu, xuyên quốc gia, tính chất và hành vi gần như giống nhau giữa các quốc gia. Do đó, luật rửa tiền ở các nước có những điểm chung như:  Luôn hướng đến việc tuân thủ các khuyến nghị của FATF.  Liệt kê tất cả các tội danh liên quan đến rửa tiền, thường thì các nước sẽ tham khảo khuyến nghị 1 của FATF về 20 tội danh được xem là có liên quan đến tội rửa tiền.  Yêu cầu các tổ chức tín dụng phải thực hiện quy tắc nhận biết khách hàng.  Quy định mức giao dịch phải báo cáo.  Các dấu hiệu của giao dịch đáng ngờ.  Trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan chuyên trách về phòng, chống rửa tiền. Bên cạnh đó phải đảm bảo luật phòng chống rửa tiền không mâu thuẫn với những luật khác và có thể kết hợp với nhau. Đặc biệt là phải có sự đảm bảo rằng luật bí mật thông tin ngân hàng không làm cản trở việc báo cáo các giao dịch đáng ngờ của các ngân hàng. 1.3.2. Thành lập cơ quan chuyên trách về phòng chống rửa tiền Có hai mô hình cơ quan chuyên trách về phòng chống rửa tiền, dù cơ quan này có trực thuộc bộ máy chính phủ, thường là trực thuộc ngân hàng trung ương hay cơ quan độc lập hoàn toàn với bộ máy chính phủ thì nhiệm vụ của nó cũng là giám sát việc thực hiện luật phòng chống rửa tiền của quốc gia đó. Đầu mối để nhận các báo cáo giao dịch đáng ngờ và đưa ra biện pháp liên quan đến công tác phòng, chống rửa tiền. Là một cơ quan chịu trách nhiệm nhận (và được phép yêu cầu) thông tin báo cáo, phân tích và báo cáo tới các cơ quan có thẩm quyền những thông tin cần thiết để đấu tranh chống hoạt động rửa tiền. 1.3.3. Thiết lập quy trình phòng, chống rửa tiền tại các ngân hàng thƣơng mại 1.3.3.1. Đánh giá khách hàng, phân loại rủi ro 17 Nhìn chung, các ngân hàng thương mại đều thiết lập cho mình những quy trình để đánh giá, phân loại khách hàng. Thông thường các ngân hàng thương mại trên thế giới thường phân khách hàng thành 3 loại : Khách hàng có rủi ro cao, khách hàng có rủi ro trung bình và khách hàng có rủi ro thấp. Trên cơ sở đó ngân hàng có những cách quản lý khác nhau đối với những nhóm khách hàng khác nhau. 1.3.3.2. Kiểm soát các giao dịch đáng ngờ Giao dịch đáng ngờ là giao dịch có dấu hiệu bất thường liên quan đến rửa tiền được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật của từng quốc gia. Các dấu hiệu bất thường này thường được nhận diện qua dấu hiệu định tính hoặc định lượng tùy quy định của từng quốc gia. Khi phát hiện các giao dịch đáng ngờ thì nhân viên có trách nhiệm phải báo cáo tới cấp trên. Sau khi kiểm tra tính xác thực của các giao dịch này, thì thông tin này sẽ được chuyển đến cho cơ quan phòng, chống rửa tiền nhưng phải đảm bảo nguyên tắc bí mật thông tin khách hàng. 1.3.3.3. Lưu giữ hồ sơ về khách hàng Các ngân hàng thương mại thực hiện nghiêm chỉnh việc lưu giữ hồ sơ, thông tin về khách hàng. Các thông tin về nhận dạng khách hàng và thông tin giao dịch được lưu giữ trong thời gian tối thiểu là 5 năm hoặc dài hơn theo yêu cầu của cơ quan chức năng, đặc biệt là hồ sơ liên quan đến công tác điều tra khởi tố. Hồ sơ lưu giữ của khách hàng thường bao gồm các thông tin như : tên của khách hàng và/ hoặc người thụ hưởng, địa chỉ, ngày, tính chất của giao dịch, giá trị của giao dịch, số tài khoản và các thông tin liên quan khác mà tổ chức tài chính muốn ghi lại để dễ quản lý và truy xuất. Việc lưu giữ hồ sơ về khách hàng giữ vị trí quan trọng đối với cả việc ngăn ngừa lẫn phát hiện các mục đích rửa tiền. Nếu một khách hàng tiềm năng biết rằng hồ sơ sẽ được lưu trữ thì người đó có thể sẽ không cố gắng sử dụng tổ chức đó cho những mục đích phi pháp. Lưu trữ hồ sơ cũng giúp phát hiện những đối tượng liên quan và cung cấp những dấu vết về tài chính để giúp các cơ quan có thẩm quyền truy nã những đối tượng 18 liên quan. 1.3.4. Tuân thủ các khuyến nghị của FATF và thực hiện hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền Các khuyến nghị của FATF được các nước đánh giá cao, nó mang lại kết quả hữu hiệu trong công tác phòng chống rửa tiền. FATF ban hành các khuyến nghị lần đầu tiên vào năm 1990, sau vài lần sửa đổi bổ sung thì hiện tại FATF đã sở hữu 40 khuyến nghị về chống rửa tiền và 9 khuyến nghị đặt biệt về chống tài trợ cho khủng bố. Tùy vào tình hình kinh tế xã hội mỗi nước sẽ có những biến tấu khác nhau nhưng hầu như đều dựa vào các khuyến nghị này. Và hợp tác quốc tế là việc tất yếu trong hoạt động phòng chống rửa tiền vì rửa tiền mang tính xuyên quốc gia. Do đó cần có sự liên hệ chặt chẽ với các quốc gia trên thế giới cũng như các tổ chức quốc tế như FATF, APG, IMF … để hoạt động phòng chống rửa tiền mang lại hiệu quả cao nhất. 1.3.5. Đào tạo các nhân viên chuyên trách về phòng chống rửa tiền Hàng năm, các ngân hàng sẽ tiến hành đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách về phòng chống rửa tiền với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế về phòng, chống rửa tiền. Việc làm này là hết sức cần thiết để năng cao trình độ chuyên môn, nâng cao ý thức của đội ngũ cán bộ chuyên trách. Không những thế, các ngân hàng đã mở rộng đối tượng đào tạo về phòng chống rửa tiền ra toàn bộ nhân viên trong hệ thống. 1.3.6. Ứng dụng công nghệ vào phòng chống rửa tiền Trước thực trạng hoạt động rửa tiền qua các tổ chức tài chính, ngân hàng đang diễn ra tinh vi mang quy mô quốc tế thì việc ứng dụng phần mền để chống rửa tiền là giải pháp hữu hiệu hiện nay của các nước trên thế giới. Phần mền sẽ hỗ trợ rất nhiều cho các tổ chức trong việc tuân thủ các quy định về phòng chống rửa tiền. 1.4. Phòng, chống rửa tiền ở một số nƣớc trên thế giới và bài học kinh nghiệm ở Việt Nam 1.4.1. Nguyên nhân và điều kiện phát triển nạn rửa tiền trên thế giới 19 Từ thập niên 1990, công nghiệp rửa tiền lại được thêm nhiều “cú hích” do các thay đổi về thể chế, chính sách tài chính cũng như những tiến bộ về công nghệ và sự nỗi lên của các tổ chức khủng bố. Thứ nhất: Nới lỏng kiểm soát ngoại hối Hầu hết mọi quốc gia đều nới lỏng kiểm soát ngoại hối, nhất là từ đầu thập niên 1990. Ở nhiều nước, việc đổi nội tệ ra ngoại tệ và ngược lại là hoàn toàn tự do. Lượng tiền hoán đổi hằng ngày tăng từ 590 tỷ USD năm 1989 lên 1.880 tỷ USD năm 2004. Đi xa hơn, nhiều quốc gia đã chính thức sử dụng chung một đồng tiền ( đồng euro), hoặc công nhận USD hay EURO như đồng nội tệ bán chính thức của họ. Một số công cụ tài chính mới (như các loại hợp đồng chứng khoán), đôi khi rất phức tạp đã xuất hiện. Nhờ thế, một lượng tiền (sạch hay bẩn) khổng lồ có thể được chuyển từ nước này sang nước khác trong nháy mắt ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan công lực. Thứ hai: Nền kinh tế thế giới hội nhập sâu Tiến bộ mở cửa kinh tế ở hầu hết các nước đã tăng vọt, nhất là từ 10 – 15 năm gần đây. Các thị trường tài chính (đặc biệt là vốn) trở nên thông thoáng hơn. Số lượng tiền lưu hành toàn cầu đã tăng gấp 3 lần ( từ 6.800 tỷ USD năm 1990 lên đến 19.900 tỷ năm 2005), mức độ phức tạp cũng tăng lên. Hiển nhiên, càng nhiều loại hình dịch vụ tài chính thì càng nhiều các cơ hội và cách thức để chuyển tiền phi pháp hơn, hoặc đưa luồng tiền bẩn vào luồng tiền sạch. Thứ ba: áp lực cạnh tranh thu hút vốn Cạnh tranh thu hút vốn ngày càng kịch liệt giữa các nước, các công ty phát hành chứng khoán, các ngân hàng, các loại định chế tài chính trung gian khác. Đây cũng là sự kiện mà những tay rửa tiền thích thú vì họ biết rằng sớm muộn gì cũng có ngân hàng hay công ty chứng khoán sẵn sàng nhận tiền của họ mà không cần biết nguồn gốc của tiền ấy. Thứ tư: tác động của các cuộc cách mạng thông tin Ở rất nhiều nước, ngân hàng là lĩnh vực đầu tiên đưa các tiến bộ công nghệ thông
- Xem thêm -