Tài liệu Phòng, chống buôn bán người ở việt nam thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 106 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 137 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN HỮU QUANG PHßNG, CHèNG BU¤N B¸N NG¦êI ë VIÖT NAM: THùC TR¹NG Vµ GI¶I PH¸P Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN KHẮC HẢI HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Nguyễn Hữu Quang MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Các chữ viết tắt trong luận văn Danh mục bảng MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÒNG, CHỐNG BUÔN BÁN NGƯỜI .......................................................................... 7 1.1. Khái niệm, đặc điểm buôn bán người .............................................. 7 1.1.1. Khái niệm buôn bán người ................................................................... 7 1.1.2. Đặc điểm của buôn bán người ............................................................ 11 1.2. Vấn đề buôn bán người và bảo vệ quyền con người ..................... 18 1.2.1. Khái quát vấn đề buôn bán người và bảo vệ quyền con người trong pháp luật quốc tế ....................................................................... 18 1.2.2. Nội dung buôn bán người xâm phạm quyền con người ..................... 23 1.3. Hệ thống pháp luật quốc tế và các chiến lược về phòng, chống buôn bán người...................................................................... 25 1.3.1. Hệ thống pháp luật quốc tế về phòng, chống buôn bán người........... 25 1.3.2. Các chiến lược về phòng, chống buôn bán người .............................. 31 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG BUÔN BÁN NGƯỜI ....................... 37 2.1. Thực trạng pháp luật về phòng, chống buôn bán người .............. 37 2.1.1. Các quy định về phòng, chống buôn bán người trong Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam ........................................ 37 2.1.2. Các quy định về phòng, chống buôn bán người trong Luật phòng, chống mua bán người ............................................................. 43 2.1.3. Các quy định về phòng, chống buôn bán người trong các văn bản pháp luật khác..................................................................................... 52 2.2. Thực tiễn đấu tranh phòng, chống buôn bán người ở Việt Nam ..... 58 2.2.1. Công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán người và tình hình có liên quan .................................................................... 58 2.2.2. Thực tiễn phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án .............. 61 2.2.3. Tiếp nhận, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân bị buôn bán ............................................................................................ 66 2.3. Đánh giá chung, một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân ............ 68 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG BUÔN BÁN NGƯỜI Ở VIỆT NAM .... 72 3.1. Dự báo tình hình tội phạm buôn bán người ở Việt Nam đến năm 2020 .................................................................................................... 72 3.2. Một số giải pháp về hoàn thiện pháp luật ...................................... 74 3.2.1. Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về phòng, chống buôn bán người ............................................................................................ 74 3.2.2. Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về phòng, chống buôn bán người ........................................................................ 78 3.2.3. Hoàn thiện quy định của Luật phòng, chống mua bán người ............ 80 3.3. Một số giải pháp về nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống buôn bán người .... 83 3.3.1. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong phòng, chống buôn bán người ............................................................ 83 3.3.2. Một số giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống buôn bán người ................................................................................... 85 3.4. Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống buôn bán người...................................................................... 87 3.4.1. Giải pháp về phổ biến, tuyên truyền pháp luật về phòng, chống buôn bán người ................................................................................... 87 3.4.2. Giải pháp về tổ chức quản lý trong phòng, chống buôn bán người ... 88 3.4.3. Giải pháp phòng ngừa liên quan đến nạn nhân .................................. 90 KẾT LUẬN .................................................................................................... 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 95 CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN BBN : Buôn bán người BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự MBN : Mua bán người PCBBN : Phòng, chống buôn bán người PCMBN : Phòng, chống mua bán người PNTE : Phụ nữ và trẻ em QCN : Quyền con người TPBBN : Tội phạm buôn bán người TPMBN : Tội phạm mua bán người DANH MỤC BẢNG Số hiệu bảng Tên bảng Bảng 2.1. Số liệu phát hiện TPMBN theo từng năm Trang 61 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài BBN bao gồm cả phụ nữ, nam giới và trẻ em, đặc biệt là cho mục đích tình dục không phải là hiện tượng mới mà đã và đang trở thành một "thực tế phổ biến trong nhiều xã hội qua các thời kỳ lịch sử" [12, tr.147]. Trong những thập kỷ gần đây, BBN, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em diễn biến rất phức tạp, có chiều hướng gia tăng, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, trở thành "ngành kinh doanh hoàn hảo" [2, tr.1] tạo ra lợi nhuận rất lớn cho những kẻ buôn người và nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. BBN là loại tội phạm nguy hiểm, xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm, quyền tự do của con người được Hiến pháp và pháp luật quy định; xâm hại nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang trong nhân dân, phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, đồng thời "xâm phạm đến chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta" [14, tr.265]. Dưới góc độ QCN, BBN vi phạm nghiêm trọng các quyền cơ bản của con người được quy định trong "Bộ luật nhân quyền quốc tế, các văn kiện cốt lõi về nhân quyền và các công ước khác về QCN" [33, tr.231]. Nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi BBN và những diễn biến phức tạp của loại tội phạm này, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc phòng ngừa, trấn áp và trừng trị loại tội phạm này nhằm thực hiện đầy đủ "nghĩa vụ của Nhà nước trong việc đảm bảo QCN" [30, tr.60]. Nhìn chung, Việt Nam đã có nền tảng pháp lý chung và các văn bản quy phạm pháp luật quy định tương đối cụ thể về tội phạm hóa hành vi BBN, trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong PCBBN. Chúng ta cũng có khung pháp luật tương đối hoàn thiện thể hiện rõ nghĩa vụ của Nhà nước trong việc ngăn ngừa, loại trừ những 1 nguyên nhân, điều kiện phát sinh loại TPBBN, đảm bảo cho mọi công dân được hưởng thụ đến mức cao nhấ tcác QCN. Bên cạnh đó, về mặt tổ chức, bộ máy cũng đã quy định chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng hệ thống cơ quan đối với hoạt động phòng ngừa, điều tra, truy tố, xét xử và trừng trị các loại tội phạm liên quan đến BBN. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình hình BBN mặc dù đã được kiềm chế những vẫn có chiều hướng gia tăng, điều đó cho thấy những nỗ lực hiện tại là chưa đủ, cần phải nỗ lực hơn nữa trong việc đấu tranh loại bỏ loại tội phạm này. Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Phòng, chống buôn bán người ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” là cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong những năm gần đây, trước sự gia tăng và diễn biến phức tạp của tình hình BBN, vấn đề nghiên cứu TPBBN được đặt ra cấp bách, đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này, tiêu biểu là: - Các công trình nghiên cứu dưới dạng đề tài khoa học cấp Bộ, sách chuyên khảo: Đề tài “Tội mua bán PNTE qua biên giới Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa” của Thượng tá Đặng Xuân Khang, Phó Chánh Văn phòng INTERPOL Việt Nam làm chủ nhiệm, hoàn thành năm 2005; “Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán PNTE” của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Yêm, Học viện Cảnh sát Nhân dân, NXB CAND, năm 2005; “Tăng cường năng lực cho các cơ quan tư pháp và hành pháp Phòng, chống TPBBN ở Việt Nam”, NXB Phụ nữ, năm 2005; “Ngăn chặn nạn buôn bán PNTE”của Trung tâm Hỗ trợ giáo dục và nâng cao năng lực cho phụ nữ (CEPEW), NXB Hà Nội, năm 2004; 2 “Những điều cần biết về PCBBN đặc biệt là PNTE” của Phan Thị Hòa, Lê Phương Thúy, Lê Tường Vân, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hà Nội, năm 2003; “Hoạt động điều tra các vụ án buôn bán PNTE” của Nguyễn Văn Cảnh, Nguyễn Hoàng Minh, NXB CAND, năm 2007; - Các công trình nghiên cứu dưới hình thức luận án, luận văn: Luận án tiến sĩ với đề tài: Đấu tranh phòng, chống tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam, của tác giả Nguyễn Văn Hương (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2008); Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Đấu tranh phòng, chống tội mua bán PNTE ở Việt Nam - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”, của tác giả Trần Văn Thạch (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2002); Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Quyết Thắng (bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2006). - Các bài viết trên các báo, tạp chí: “Cần từng bước hoàn thiện pháp luật về Phòng, chống tội phạm buôn bán PNTE” của Lương Thanh Hải, Tạp chí Tòa án Nhân dân, năm 2006; “Phòng, chống tội phạm buôn bán PNTE trong giai đoạn hiện nay” của Lương Thanh Hải, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, năm 2006; Chuyên đề “Đẩy mạnh công tác phòng ngừa, đấu tranh chống TPMBN”, Tạp chí Công an Nhân dân, Hà Nội, năm 2011. Các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học trên đã cung cấp hệ thống tri thức, các thông tin về PCBBN, là nguồn tài liệu quan trọng góp phần làm rõ tình hình, tính chất nguy hiểm của loại tội phạm này. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về PCBBN ở Việt Nam dưới góc độ QCN. Luận văn này góp phần bổ sung những nghiên cứu về vấn 3 đề BBN ở Việt Nam, trong đó tập trung vào một số khía cạnh mà các công trình nghiên cứu hiện nay chưa làm rõ. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Là hệ thống pháp luật, lý luận, thực tiễn về PCBBN của quốc tế và Việt Nam dưới góc độ QCN. - Phạm vi nghiên cứu: BBN là vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong khuôn khổ của luận văn cao học, chúng tôi chủ yếu tập trung khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam, so sánh với pháp luật quốc tế và thực tiễn đấu tranh PCBBN dưới góc độ QCN, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống loại tội phạm này ở nước ta. Về thời gian, nghiên cứu giai đoạn từ năm 2008 đến tháng 6/2013 trong đấu tranh PCBBN ở Việt Nam. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Mục đích nghiên cứu: Làm rõ thực trạng PCBBN ở Việt Nam từ năm 2008 đến tháng 6/2013, từ đó đưa ra những giải pháp phòng, chống có hiệu quả loại tội phạm này dưới góc độ QCN. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Làm rõ những vấn đề lý luận về PCBBN: Khái niệm, đặc điểm, so sánh với các khái niệm có liên quan, vấn đề BBN và bảo vệ QCN, hệ thống pháp luật quốc tế và các chiến lược và PCBBN. - Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam về PCBBN trong mối tương quan so sánh với pháp luật quốc tế về vấn đề này và thực tiễn đấu tranh PCBBN ở Việt Nam từ năm 2008 đến tháng 6/2013. - Tổng kết lý luận, thực tiễn, dự báo tình hình, luận văn đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả PCBBN ở Việt Nam trong thời gian tới. 4 5. Những đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn Là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về PCBBN ở Việt Nam từ năm 2008 đến tháng 6/2013 nên kết quả của luận văn có những nội dung được coi là mới, có đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể là: - Phân tích đánh giá có hệ thống pháp luật thực định về PCBBN trên cơ sở so sánh với hệ thống luật pháp quốc tế về vấn đề này. - Khảo sát, đánh giá thực tiễn đấu tranh PCBBN giai đoạn từ năm 2008 đến tháng 6/2013. - Đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế. - Dự báo tình hình, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác PCBBN trong thời gian tới. Với kết quả nghiên cứu như trên, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành pháp luật về QCN ở các cơ sở đào tạo pháp luật. 6. Phương pháp nghiên cứu Luận văn này được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội, gồm: tổng hợp, phân tích và so sánh. - Phương pháp luận Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước về tội phạm và hình phạt, về đấu tranh PCBBN, đồng thời tiếp thu những tiêu chuẩn pháp lý quốc tế được thừa nhận về PCBBN. 5 - Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra, khảo sát, tổng kết kinh nghiệm... để chọn lọc tri thức khoa học và những kinh nghiệm thực tiễn từ trước cho đến nay ở trong và ngoài nước. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề chung về phòng, chống buôn bán người. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn đấu tranh phòng, chống buôn bán người Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống buôn bán người ở Việt Nam. 6 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÒNG, CHỐNG BUÔN BÁN NGƯỜI 1.1. Khái niệm, đặc điểm buôn bán người 1.1.1. Khái niệm buôn bán người Đến tháng 12 năm 2000, thuật ngữ BBN chưa được định nghĩa chính thức trong pháp luật quốc tế, mặc dù nó đã được xác định là một"vấn đề pháp lý quốc tế cách đây hơn một thế kỷ" [39, tr.63]. Trong lịch sử, thuật ngữ BBN được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau để đáp ứng nhu cầu của từng tổ chức và từng cơ chế phát triển định nghĩa. Công ước quốc tế đầu tiên hình sự hóa hành vi buôn bán nô lệ da trắng ký kết tại Paris ngày 18/5/1904 đã đưa ra thuật ngữ "nô lệ da trắng"(White Slavery) [19] để chỉ nạn nhân bị buôn bán là phụ nữ hoặc trẻ em gái với mục đích mại dâm. Năm 1910, tiế p tu ̣c có một công ước quố c tế được ký kết tại Parisđã đưa ra định nghĩa về BBN là: "Bất cứ ai, để thỏa mãn niềm đam mê của người khác, có gian lận, hoặc bằng phương tiện bạo lực, đe dọa, lạm dụng quyền hạn, hoặc phương pháp nào khác ép buộc, mua sắm, dụ dỗ hoặc dẫn đi một người phụ nữ hoặc cô gái ở độ tuổi chưa thành niên với mục đích mại dâm" [18]. Cho đến thời điểm trước năm 1949, các công ước chỉ thống nhất được vấn đề BBN có liên quan đến việc ép buộc PNTE gái da trắng ở nước ngoài với mục đích mại dâm.Theo đó, "việc tạm giữ một phụ nữ hoặc cô gái trong một nhà chứa được coi nằm ngoài phạm vi của công ước" [39, tr.37]. Năm 1949, Liên Hợp Quốc đã thông qua "Công ước về trấn áp việc BBN và bóc lột mại dâm người khác" [24]. Tuy nhiên, công ước không xác định BBN là gì và không có bất kỳ tài liệu chính thức nào phục vụ đàm phán để làm cho các bên hiểu rõ hơn về khái niệm BBN, mà chỉ đòi hỏi các quốc gia trừng phạt bất kỳ người nào, để thỏa mãn niềm đam mê của người khác, 7 mà: (1) Môi giới, dụ dỗ hoặc dẫn dắt một người khác nhằm mục đích mại dâm, thậm chí với sự đồng ý của người đó; (2) Bóc lột mại dâm người khác, thậm chí với sự đồng ý của người đó. Công ước cũng yêu cầu các quốc gia ký kết trừng phạt những người liên quan trong việc tổ chức hay quản lý, tài trợ hoặc tham gia vào việc tài trợ cho một nhà chứa mại dâm; cố ý cho thuê hoặc đi thuê một ngôi nhà hoặc một địa điểm khác hoặc bất kỳ một phần địa điểm như vậy để sử dụng vào mục đích mại dâm. Như vậy, theo công ước của Liên Hợp Quốc năm 1949 thì BBN là hành vi buôn bán phụ nữ vì mục đích mại dâm, không bao gồm hành vi buôn bán đàn ông. Năm 1994, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã đưa ra định nghĩa trong một nghị quyết về BBN, nó được coi là việc đưa người bất hợp pháp và bí mật qua biên giới quốc gia hoặc quốc tế với mục tiêu cuối cùng buộc PNTE gái phải bán dâm, lao động cưỡng bức hoặc hôn nhân giả, bắt buộc nhận con nuôi.Năm 1994, Tổ chức di dân quốc tế (IOM) định nghĩa BBN trong một báo cáo: đưa người di cư bất hợp pháp được coi là buôn bán nếu điều kiện sau đây được đáp ứng: (1) tiền (hoặc một hình thức thanh toán) trao đổi qua tay, (2) người hỗ trợ (buôn) tham gia, (3) vượt qua một cửa khẩu quốc tế, (4) nhập cảnh bất hợp pháp; (5) việc di chuyển là tự nguyện. Như vậy, quá trình phát triển các định nghĩa về BBN trong trong các văn kiện pháp lý quốc tế đã trải qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu, các định nghĩa thường đồng nghĩa BBN với buôn bán phụ nữ nhằm mục đích mại dâm. Sau đó, định nghĩa được sử dụng để mô tả hành vi vận chuyển người di cư là nam giới và nữ giới qua biên giới nhằm mục đích kinh tế. Đó là những cách hiểu hạn chế, thể hiện việc phát triển định nghĩa của những tổ chức và cơ chế khác nhau với những cách tiếp cận chưa toàn diện, chưa đúng phản ánh đúng bản chất của hành vi BBN. Ở Việt Nam, dưới góc độ khoa học luật hình sự, Tiến sỹ Phạm Văn Beo 8 định nghĩa “MBN là hành vi của một người coi con người như hàng hóa để mua bán, trao đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác” [4, tr.168]. Quan điểm này chưa thật đầy đủ vì mới chỉ nêu MNB với tư cách là hành vi phạm tội trong mặt khách quan của tội phạm MBN. Tiến sỹ Trần Minh Hưởng cho rằng: “Tội MBN thể hiện ở hành vi dùng tiền hoặc các lợi ích vật chất khác mua bán, trao đổi con người như một thứ hàng hóa” [13, tr.252]. Quan điểm này cũng chưa làm rõ các yếu tố khách thể, chủ thể, dấu hiệu lỗi của tội phạm. Tiế n sỹ Trinh ̣ Tiế n Việt đưa ra định nghĩa: Tội MBN là hành vi dùng tiền hoặc các lợi ích vật chất khác mua, bán, trao đổi con người từ đủ 16 tuổi trở lên như một thứ hàng hóa, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, quyền tự do thân thể của con người được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ [37, tr.209]. So với hai quan điểm nêu trên, quan điểm này toàn diện hơn cả. Tuy nhiên, quan điểm của các học giả Việt Nam như trên vẫn có những hạn chế, đó là chỉ dựa vào các yếu tố cấu thành tội phạm BBN được quy định tại Điều 119 và Điều 120 BLHS để định nghĩa về hành vi BBN. Cách tiếp cận vấn đề như vậy chưa toàn diện,cần phải định nghĩa theo cách tiếp cận cấp quốc gia. Theo hướng đó, định nghĩa sẽ hỗ trợ các nước hợp tác quốc tế một cách có hiệu quả trong điều tra, truy tố các vụ án BBN. Ngoài ra, định nghĩa cũng phải hướng tới mục tiêu quan trọng hơn, đó là tạo điều kiện để các quốc gia hợp tác trong bảo vệ QCN của nạn nhân và người thân thích của họ trong đấu tranh PCBBN. Cho đến thời điểm hiện tại, định nghĩa BBN được ghi nhận tại Điều 3, Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị việc BBN, đặc biệt là PNTE, bổ sung Công ước của Liên Hợp Quốc chống tội phạm có tổ chức 9 xuyên quốc gia, 2000 (Nghị định thư về chống BBN) được cộng đồng quốc tế thừa nhận là toàn diện và đầy đủ nhất. Theo đó: (a) “BBN” được hiểu là “việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách đe dọa dùng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với người khác vì mục đích bóc lột. Hành vi bóc lột ở đây ít nhất là bao gồm bóc lột vì mục đích mại dâm hoặc các hành vi bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hay các hình thức tương tự như nô lệ, khổ sai hay lấy các bộ phận cơ thể. (b) Việc một nạn nhân bị buôn bán chấp nhận sự bóc lột có chủ ý được nêu tại Khoản (a) trên đây sẽ không được tính đến nếu bất kỳ một cách thức nào nêu trong Khoản (a) đã được sử dụng. (c) Việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận trẻ em nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là BBN ngay cả khi việc này được thực hiện không cần dùng đến bất kỳ một cách thức nào được nói tại Khoản (a) trên đây. (d) Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi [32, tr.1053]. Như vậy, với cách định nghĩa như trên, Nghị định thư đã khẳng định phạm vi áp dụng của nó. Đồng thời Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia được áp dụng với các hành vi BBN đã cung cấp cơ sở chung cho việc quy định các tội phạm hình sự ở quốc gia, các thủ tục tố tụng, các biện pháp hỗ trợ và trợ giúp nạn nhân. Định nghĩa BBN được chia thành ba yếu tố gồm: hành vi, phương thức và mục đích. Với việc đưa ra thuật ngữ lao động cưỡng bức, nô lệ, tương tự nô lệ, Nghị định thư đã tránh được xu hướng 10 hạn chế định nghĩa BBN đối với các vụ việc liên quan đến dịch vụ tình dục mà có thể dễ dàng nhận ra các dạng BBN bao gồm: BBN để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy đi các bộ phận cơ thể... thậm chí còn chỉ ra được phụ nữ và trẻ em dễ trở thành nạn nhân bị buôn bán. Tóm lại, cho đến thời điểm hiện tại, đây là định nghĩa toàn diện và đầy đủ nhất, được cộng đồng quốc tế thừa nhận và từng bước được đưa vào nội luật của các quốc gia. 1.1.2. Đặc điểm của buôn bán người Từ định nghĩa về BBN, có thể rút ra một số đặc điểm của loại tội phạm này như sau: Một là, về mặt khách quan, hành vi BBN là việc thực hiện một trong các hành vi: tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, tiếp nhận đối tượng bị buôn bán. Tuyển mộ là những hoạt động hướng tới việc tuyển người theo thỏa thuận, được thể hiện dưới hình thức lựa chọn, tìm kiếm ứng cử viên, ghi tên những người mong muốn... Đây là thời điểm những người tuyển dụng thực hiện sự tiếp xúc đầu tiên với nạn nhân, đưa ra những lời hứa hẹn để đạt được mục đích. Việc tuyển mộ trẻ em được diễn ra trong hoàn cảnh khác, những kẻ buôn người tuyển mộ trẻ em ở độ tuổi còn nhỏ, khi chúng sống với cha mẹ. Lợi dụng sự nghèo đói,thiếu hiểu biết hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của gia đình đứa trẻ, những kẻ buôn người có thể đề nghị ứng trước cho cha mẹ đứa trẻ tiền lương của chúng hoặc có thể gây sức ép dưới hình thức nào đó để giành được quyền kiểm soát đứa trẻ và cuối cùng là bán, hoặc trực tiếp bóc lột những đứa trẻ này. Vận chuyển có nghĩa là di chuyển người từ địa điểm này sang địa điểm khác bằng bất kỳ phương tiện nào. Việc di chuyển này không nhất thiết phải qua biên giới quốc gia, mà chỉ cần đưa người đó (nạn nhân) ra khỏi nơi họ sinh sống đến nơi khác. Những phương thức vận chuyển có thể là:di chuyển 11 nạn nhân từ một quốc gia bằng con đường lậu; di cư bất hợp pháp; di chuyển bất hợp pháp dưới toa tàu chở hàng, ẩn náu trong xe chở hàng; đi du lịch bằng giấy tờ và hộ chiếu hợp pháp của mình; di chuyển bằng giấy tờ ăn cắp hoặc giấy tờ giả do những kẻ tuyển mộ cung cấp; di chuyển bằng đường bộ, đường không, đường thủy, thậm chí bằng phương tiện cá nhân của mình. Chuyển giao là hành động giao cho những người khác người bị buôn bán (nạn nhân) sau khi diễn ra việc mua, bán người đó. Chuyển giao còn có thể được thực hiện dưới hình thức biếu, tặng, cho. Chứa chấp là việc che dấu người bị buôn bán sau khi việc mua bán đã được tiến hành thành công. Tiếp nhận là việc thực hiện hành động nhận người (nạn nhân), có tính đáp trả lại hành động chuyển giao. Hai là, về phương thức, thủ đoạn là đe dọa, sử dụng bạo lực, ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương của nạn nhân; cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với người khác. Phương thức thực hiện tội phạm BBN rất đa dạng, có thể được thực hiện bởi người sử dụng địa vị công vụ của mình; bằng việc vận chuyển nạn nhân qua biên giới quốc gia và giữ người bất hợp pháp ở nước ngoài; sử dụng các giấy tờ giả; sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; bằng những hình thức gây nguy hiểm cho tính mạng và sức khỏe của nạn nhân...Về thủ đoạn, các thủ đoạn thực hiện hành vi BBN cũng vô cùng đa dạng như: dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực tác động đến thân thể nạn nhân; cưỡng bức về tâm lý; đe dọa nạn nhân (đe dọa làm hại những người thân thích của nạn nhân, dọa tiết lộ những thông tin bí mật đời tư của nạn nhân...); tước đoạt tự do của nạn nhân; thu và giữ giấy tờ; khai thác sự phụ thuộc do nợ nần; hạn chế tự do đi lại, liên lạc với người thân; lừa dối... Ba là, về mặt chủ quan, người thực hiện hành vi BBN phải có mục đích 12 bóc lột nạn nhân. Bóc lột được hiểu theo nghĩa rộng là khai thác sức lao động, khai thác chính bản thân nạn nhân hoặc lấy đi các bộ phận trên cơ thể nạn nhân. Các hình thức bóc lột ở mức độ thấp nhất bao gồm: (1) Bóc lột mại dâm hoặc các hành vi bóc lột tình dục khác; (2) Các hình thức lao động hay dịch vụ cưỡng bức; (3) Các hình thức nô lệ hay tương tự nô lệ như khổ sai; và (4) Lấy đi các bộ phận cơ thể. Bốn là, người bị hại là con người nói chung (nữ giới hoặc nam giới). Năm là, với đối tượng bị buôn bán là trẻ em, chỉ cần có các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận trẻ em (là những người dưới 18 tuổi) nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là BBN, không cần tính đến việc sử dụng bất kỳ phương thức, thủ đoạn nào. Sáu là,về sự ưng thuận của nạn nhân: Một trong những vấn đề rất quan trọng trong xử lý các vụ BBN là phải làm rõ nạn nhân có ưng thuận để bị đưa đi trái phép hoặc bị buôn bán hay không. Điều này làm nảy sinh vấn đề mang tính thực tiễn là: trong các vụ án BBN, những kẻ buôn người bị buộc tội thường đưa ra những chứng cứ về sự ưng thuận của nạn nhân để bào chữa cho hành vi phạm tội của chúng. Trong nhiều vụ BBN, mặc dù có sự ưng thuận hoặc hợp tác ban đầu giữa nạn nhân và bọn BBN, nhưng sau đó chúng thực hiện hành vi cưỡng bức, lạm dụng và bóc lột nạn nhân. Về vấn đề này, Điều 3, đoạn (b) Nghị định thư về chống BBN quy định: vấn đề ưng thuận của nạn nhân không có quan hệ gì một khi các phương thức, thủ đoạn bất hợp pháp được thực hiện. Bất cứ sự ưng thuận ban đầu nào cũng bị vô hiệu bởi nếu những kẻ buôn người sử dụng các phương thức, thủ đoạn bất hợp pháp ở một số điểm trong quá trình thực hiện hành vi BBN. Bên cạnh đó, Nghị định thư cũng loại trừ bất cứ sự ưng thuận nào có thể xảy ra đối với nạn nhân là trẻ em dưới 18 tuổi để bị buôn bán.Như vậy, theo Nghị định thư, sự ưng thuận có thể có cơ sở, nhưng hoàn toàn phải 13
- Xem thêm -