Tài liệu Phong cách tự sự dân gian trong tiểu thuyết triều ân

  • Số trang: 111 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 66 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM Trần Thị Hồng Nhung PHONG CÁCH TỰ SỰ DÂN GIAN TRONG TIỂU THUYẾT TRIỀU ÂN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Thái Nguyên - 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM Trần Thị Hồng Nhung PHONG CÁCH TỰ SỰ DÂN GIAN TRONG TIỂU THUYẾT TRIỀU ÂN Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số : 602 234 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ ANH TUẤN Thái Nguyên - 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn MỤC LỤC Trang phụ bìa Trang Mục lục 1 MỞ ĐẦU 3 1. Lý do chọn đề tài 3 2. Tình hình nghiên cứu 4 3. Phƣơng pháp nghiên cứu 10 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 10 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 11 6. Đóng góp của luận văn 11 6. Cấu trúc của luận văn 11 NỘI DUNG 13 Chương 1. Những vấn đề chung 13 1.1 Những vấn đề lý thuyết chung về tự sự học dân gian 13 1.2 Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết 23 1.3 Vài nét về con ngƣời và sự nghiệp sáng tác của tác giả Hoàng Triều Ân 30 1.3.1 Con ngƣời 30 1.3.2 Sự nghiệp sáng tác 32 Chương 2. Phong cách tự sự dân gian trong bình diện xây dựng 40 cốt truyện và nhân vật 2.1 Phong cách tự sự dân gian trong bình diện xây dựng cốt truyện 40 2.1.1 Cách tổ chức cốt truyện theo trật tự thời gian tuyến tính 41 2.1.2 Đan xen cốt truyện cổ trong cốt truyện hiện đại 45 2.2 Phong cách tự sự dân gian trong bình diện xây dựng nhân vật 49 2.2.1 Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện 50 2.2.1.1 Nhân vật chính diện 53 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 2.2.1.2 Nhân vật phản diện 59 2.2.2 Xây dựng nhân vật có môtip văn học dân gian 65 2.2.2.1 Kiểu nhân vật ngƣời mồ côi 65 2.2.2.2 Kiểu nhân vật là anh em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha 68 2.2.2.3 Kiểu nhân vật đi tìm cha, mẹ 74 Chương 3. Phong cách tự sự dân gian trong bình diện ngôn ngữ nghệ thuật 80 3.1 Cách vận dụng thành ngữ, tục ngữ 81 3.2 Lối so sánh ví von giàu hình ảnh 89 KẾT LUẬN 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.1 Trên phƣơng diện lý thuyết, tự sự học từ lâu đã trở thành một lĩnh vực giành đƣợc sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới bởi ý nghĩa to lớn của nó. “Người ta không thể nghiên cứu phong cách học tiểu thuyết mà bỏ qua các vấn đề của tự sự học” (Trần Đình Sử). Từ khi đƣợc giới thiệu vào Việt Nam, tự sự học đã đƣợc hƣởng ứng rộng rãi của giới nghiên cứu, đặc biệt là ở các trƣờng đại học. Hội thảo Tự sự học năm 2001 tại Đại học Sƣ phạm Hà Nội đã đánh dấu một bƣớc khởi đầu tuy muộn màng nhƣng bổ ích. Từ đó về sau các luận văn, luận án theo hƣớng tự sự học đã đƣợc chú ý nhƣng vẫn còn rất hiếm hoi. 1.2 Việt Nam là một đất nƣớc gồm 54 dân tộc anh em. Mỗi dân tộc đều có một bản sắc văn hoá riêng, độc đáo. Điều đó đã từng bƣớc đƣợc phản ánh đậm nét trong văn học. Chính vì vậy, vai trò của văn học dân tộc thiểu số trong thành tựu chung của văn học Việt Nam rất quan trọng. Nó góp phần tạo nên diện mạo nền văn học Việt Nam. Trong các tác giả ngƣời dân tộc thiểu số viết về miền núi, Hoàng Triều Ân là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào. Riêng về sáng tác văn xuôi, sáng tác của ông đa dạng ở nhiều thể loại: Truyện ngắn, nghiên cứu phê bình, dịch thuật, đặc biệt là tiểu thuyết. Tác phẩm của ông có tiếng nói rất riêng mang đậm dấu ấn về cuộc sống và con ngƣời miền núi. Với những thành tựu nhƣ vậy, trong những năm qua, những sáng tác của Triều Ân đã đƣợc giới nghiên cứu thực sự quan tâm. Tuy nhiên, đi sâu vào giá trị từng tác phẩm cụ thể là nguồn đề tài rộng lớn cần tiếp tục đƣợc tìm hiểu thêm. Thực hiện đề tài Phong cách tự sự dân gian trong tiểu thuyết Triều Ân, chúng tôi mong muốn góp tiếng nói khẳng định giá trị tác phẩm và tài năng, tâm huyết nhà văn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 1.3 Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kì công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay. Nó bám rễ sâu vào cuộc sống và tâm hồn dân tộc. Bởi thế, các nhà văn, nhà thơ của bất cứ một dân tộc nào trên thế giới đều có một vốn văn hoá, văn học dân gian nhất định, các sáng tác của họ ít nhiều đều có ảnh hƣởng của nền văn hoá, văn học ấy. Triều Ân là nhà văn đồng thời cũng là nhà nghiên cứu văn học dân gian. Trong tƣ duy sáng tạo của mình, tác giả đã chịu sự ảnh hƣởng của thi pháp văn học dân gian rất rõ nét ở các phƣơng diện: xây dựng cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật… Việc nghiên cứu Phong cách tự sự dân gian trong tiểu thuyết Triều Ân là cơ hội để ngƣời viết có điều kiện đi sâu tìm hiểu loại hình tự sự dân gian và sự ảnh hƣởng của văn học dân gian đến văn học viết đƣơng đại qua hiện tƣợng Hoàng Triều Ân. Từ đó góp phần khẳng định vai trò của nhà văn trong nền văn học Việt Nam, đồng thời góp phần nâng cao trình độ học tập cũng nhƣ giảng dạy bộ môn văn học dân gian trong nhà trƣờng phổ thông của ngƣời nghiên cứu. 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Điểm lược nghiên cứu về văn học miền núi đương đại Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại chủ yếu đƣợc hình thành và phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám 1945. Đây là một mảng sáng tác có đóng góp quan trọng góp phần tạo nên diện mạo chung của nền văn học Việt Nam hiện đại với hai nguồn tác giả song song. Một là do tác giả ngƣời Kinh viết, một là các tác giả ngƣời dân tộc thiểu số viết về con ngƣời và cuộc sống của dân tộc mình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 Những nhà văn ngƣời Kinh đã đem lại cho văn học miền núi những bức tranh hoành tráng sử thi nhƣ “Rừng động” (Mạc Phi), “Hoa hậu xứ Mường” (Phƣợng Vũ), “Đồng bạc trắng hoa xoè” (Ma Văn Kháng)…Tác giả Lâm Tiến cho rằng “chỗ mạnh của các nhà văn người Kinh là ở chiều sâu cảm nhận, khám phá, phát hiện ra cái mới, cái lạ, cái riêng độc đáo, phát hiện ra phẩm chất tốt đẹp của con người miền núi mà có khi bản thân dân tộc ấy chưa phát hiện ra hoặc không để ý tới” [49.13]. Nhắc đến nền văn học miền núi chúng ta không thể không nhắc tới tên tuổi của những thế hệ các nhà văn, nhà thơ là ngƣời dân tộc thiểu số. Chính họ, những ngƣời sinh ra, lớn lên và gắn bó máu thịt với mảnh đất miền núi, đã cho chúng ta cái nhìn phong phú, đầy đủ về con ngƣời, cuộc sống với những phong tục tập quán của dân tộc mình. Giai đoạn mới hình thành (1957), ta có thể kể đến các tác giả: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Cầm Biêu. Giai đoạn tiếp theo có thêm Nông Viết Toại, Nông Minh Châu, Triều Ân, Vi Hồng, Y Phƣơng... Nhìn chung đội ngũ các nhà văn miền núi khá hùng hậu trên các thể loại: Thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, sƣu tầm, nghiên cứu phê bình. Tuy những tác phẩm của họ không phải tác phẩm nào cũng có giá trị nghệ thuật cao nhƣng đã phản ánh đƣợc một bức tranh rộng lớn với những hình ảnh sinh động và thuyết phục về cuộc đổi đời vĩ đại của dân tộc, trong đó cuộc sống hiện thực miền núi hiện lên chân thực, sinh động với những mảng màu tƣơi tắn và mới lạ. Việc nghiên cứu văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đƣơng đại là một việc làm thực sự cần thiết. Cho đến nay đã xuất hiện một số công trình nhƣng chủ yếu là các bài báo rải rác trên các tạp chí hay nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm văn học miền núi nói chung nhƣ: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Lâm Tiến), Văn học và miền núi (Lâm Tiến), Vấn đề văn nghệ miền núi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 Việt Bắc (Bàn Tài Đoàn, Chu Văn Tấn, Nông Quốc Chấn), Bước đầu tìm hiểu văn nghệ Việt Bắc (Nhiều tác giả)… Trong đó, các tác giả đã khẳng định giá trị của văn học miền núi cũng nhƣ khẳng định đóng góp của nó đối với nền văn học nƣớc nhà bởi vì Với mảng văn học này, văn học Việt Nam có thêm một tiếng nói, một phong cách riêng trong việc khám phá tâm hồn, tính cách con người miền núi nói riêng và con người Việt Nam nói chung [63.240]. Bên cạnh đó, khi bàn về thể loại văn xuôi, Lâm Tiến còn chỉ ra Truyền thống văn học dân gian hàng nghìn năm và những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ở miiền núi ảnh hưởng không nhỏ tới văn học các dân tộc thiểu số [67.196]. Trong cuốn Văn học miền núi, Lâm Tiến đã điểm qua một số tác giả nhƣ Vi Hồng, Nông Minh Châu, Hoàng Hạc, Nông Viết Toại, Hoàng Đức Hậu, H’Linh Niê và đều chỉ ra ở họ có “sự vận dụng văn hoá văn học dân gian cũng như cách nói của dân tộc Tày khá nhuần nhuyễn” [67.17] Tựu chung lại, giới nghiên cứu phê bình văn học đã có sự quan tâm và khẳng định vai trò của các nhà văn dân tộc thiểu số đối với nền văn học nƣớc nhà. Đa số những nghiên cứu đó còn ở mức độ tổng quát của cả một bộ phận, còn hiếm những tác phẩm chuyên sâu về một tác giả, tác phẩm cụ thể nào. Đó là một chân trời rộng mở đối với các nhà nghiên cứu về sau. 2.2 Điểm lược nghiên cứu về nhà văn Triều Ân Trong các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, Triều Ân là một tác giả có năng lực sáng tạo dồi dào, ít nhiều có phong cách riêng. “Cuộc đời của nhà văn Hoàng Triều Ân được giới văn nghệ sĩ trân trọng, được xã hội ghi nhận. Những cống hiến của ông được đánh giá cao” (Đoàn Lƣ). Cho đến nay đã có khá nhiều công trình, bài viết đề cập đến sự nghiệp sáng tác cũng nhƣ đóng góp của Triều Ân với nền văn học miền núi nói riêng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 và văn học đƣơng đại nói chung. Đặc biệt Hội thảo khoa học về nhà văn Hoàng Triều Ân diễn ra tại Cao Bằng ngày 12 tháng 11 năm 2007 đã có những ý kiến khẳng định tài năng nghệ thuật cũng nhƣ những đóng góp của ông cho nền văn học nƣớc nhà với sự tham gia của đông đảo các tác giả phê bình, nghiên cứu văn học có uy tín. Những bài tham luận, phát biểu trong hội thảo đã làm nổi bật về con ngƣời, sự nghiệp, về giá trị những tác phẩm, công trình của Triều Ân. Nói về thành tựu sáng tác của Triều Ân trên các thể loại, các nhà nghiên cứu, đồng nghiệp đều đánh giá cao tài năng, tâm huyết của nhà văn. Lã Nhâm Thìn cho rằng “Nói đến Triều Ân là nói đến ba nhà trong một nhà: nhà văn, nhà thơ, nhà sưu tầm, nhà nghiên cứu văn học. Ở nhà nào Hoàng Triều Ân cũng có những đóng góp làm phong phú, làm giàu có thêm nền văn học các dân tộc ít người nói riêng, nền văn học nước nhà nói chung” [64.104]. Các tác giả khác cũng khẳng định: “Gọi Hoàng Triều Ân là nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu đề đúng cả vì ở lĩnh vực nào ông cũng đạt được thành tích đáng kể” [64.243] và “Dù ở thể loại nào, thơ, truyện ngắn hay tiểu thuyết, đọc trang viết của Triều Ân, người đọc đều có cảm giác được khám phá những điều mới mẻ và thú vị” [64.217]. Bởi mỗi trang văn của Triều Ân đã đem đến cho ngƣời đọc hiểu biết phong phú về cuộc sống sinh hoạt, đặc biệt là phong tục tập quán của đồng bào dân tộc miền núi bằng một thứ ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, lối so sánh ví von gần với cách cảm, cách nghĩ của ngƣời miền núi. Trong hội thảo, các nhà nghiên cứu cũng đã đƣa ra một số nhận định về nghệ thuật tự sự trong sáng tác của Triều Ân ở một số phƣơng diện sau: Về trần thuật: “Cách trần thuật miêu tả nhân vật và ngoại cảnh vẫn là bằng bút pháp tả thực và lối thuật kể, nhiều khi còn quá đơn giản, thực thà…Tuy vậy bút pháp của Triều Ân không phải không có những nét đặc sắc đáng chú ý” [64.39] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 Về xây dựng nhân vật: “Truyện của Triều Ân không có những anh hùng, kể cả bóng dáng anh lãnh đạo. Thế giới nhân vật của anh, khung trời văn chương của anh là những con người bình thường, không chức sắc, không vĩ nhân” [64.79] “Nhân vật trong truyện của Triều Ân cũng ngày càng được soi rọi và thể hiện ở nhiều bình diện, ở đời sống bên trong với những diễn biến tâm lý không giản đơn một chiều” [64.39] “Nhà văn đã không ngần ngại đặt nhân vật trong những tình huống, những thử thách ngặt nghèo để nhân vật tự lựa chọn, ứng xử, qua đó bộc lộ cá tính và nhân cách của mỗi cá nhân” [64.58] Về cốt truyện: “Tác giả đã xây dựng cốt truyện với nhiều tuyến đan xen, cùng với sự mở rộng không gian truyện và thế giới nhân vật” [64.39] “Xung đột truyện được thắt và cởi liên tục khiến người đọc thích thú…Nhìn chung các cốt truyện đều đi sâu khai thác những xung đột khác nhau của đời sống” [64.101] Về ngôn ngữ: “Sức hấp dẫn của truyện không phải ở những cốt truyện độc đáo mà chủ yếu ở câu chuyện, lời kể chuyện dung dị, chân tình, say mê của tác giả” [64.50] “…Ông chỉ vận dụng chất dân gian trong cách viết. Nên ngôn ngữ trong truyện ngắn gần gũi với ngôn ngữ thường ngày của dân tộc…Nhân vật cũng không đa dạng, phức tạp, không có những ẩn ý sâu xa, khó hiểu” [64.94] “Đưa đến mức tối đa ngôn ngữ của đời sống, phương ngôn ngạn ngữ, lối so sánh ví von của đồng bào vào tác phẩm, đấy là một dụng công của nhà văn” [64.221] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 Có thể nói, làm nên bản sắc riêng trong các sáng tác của Triều Ân không chỉ bởi tài năng nghệ thuật mà còn bởi ông đã “hấp thu những nét văn hoá truyền thống của dân tộc mình” [64.66], “là một người có công đối với việc sưu tập và gìn giữ vốn văn học dân gian của người Tày” [64.182]. Sự hiểu biết sâu rộng về văn hoá dân gian ấy đã ít nhiều ảnh hƣởng đến văn chƣơng nói chung và đặc biệt là tiểu thuyết Triều Ân nói riêng. Điều đó thể hiện ở một số yếu tố. Bích Thu nhận xét “Dễ nhận thấy tiểu thuyết Triều Ân thường có một kết thúc có hậu” [64.57] và “nhà văn đã chịu ảnh hưởng của thi pháp dân gian với quan niệm: ở hiền gặp lành, ác giả ác báo” [64.67]. Nguyễn Văn Long cũng khẳng định: “Một trong những yếu tố văn hóa dân gian có thể tìm thấy dấu ấn trong truyện của Triều Ân, đó là việc sử dụng những môtíp văn học dân gian một cách sáng tạo…cố nhiên những môtíp dân gian đi vào tác phẩm Triều Ân không lặp lại nguyên dạng mà đã được biến cải phù hợp với hoàn cảnh xã hội đương đại” [64.35]. Có lẽ bởi vậy nên “mạch truyện của anh như là cổ tích, truyện viết ra để kể chứ không phải để đọc” [64.79] Luận văn thạc sĩ Bản sắc dân tộc trong văn xuôi Triều Ân của tác giả Hoàng Thị Vi là một công trình khá dày dặn nghiên cứu về văn xuôi Triều Ân. Tác giả đã khai thác một số phƣơng diện nghệ thuật thể hiện bản sắc dân tộc nhƣ: nghệ thuật tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật, ngôn ngữ. Qua đó khẳng định Triều Ân đã kế thừa, tiếp thu có sáng tạo và vận dụng vốn văn hoá văn học dân gian của dân tộc mình. Qua việc điểm lƣợc một số ý kiến đánh giá, nhận xét về con ngƣời, về tác phẩm của Triều Ân, ta thấy đƣợc những thành tựu đáng ghi nhận của ông đối với nền văn học dân tộc. Đặc biệt, nhận định về một số yếu tố làm nên giá trị nghệ thuật đặc sắc trong văn xuôi Triều Ân, các nhà phê bình, nghiên cứu đều khẳng định dấu ấn của bản sắc dân tộc, đặc biệt là sự ảnh hƣởng của thi pháp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 văn học dân gian in đậm trong mỗi tác phẩm. Những ý kiến quý báu đó sẽ là những gợi mở bƣớc đầu cho ngƣời viết đi sâu nghiên cứu phong cách tự sự dân gian trong tiểu thuyết Triều Ân. 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số phƣơng pháp sau: 3.1 Phương pháp liên ngành Luận văn dựa trên cơ sở lý luận về tự sự học và tự sự học dân gian, từ đó tìm hiểu phong cách nghệ thuật mang đặc trƣng nghệ thuật dân gian của tác giả. Đây là một vấn đề tƣơng đối phức tạp, đòi hỏi ngƣời viết phải sử dụng kiến thức liên ngành folklore học và văn học cũng nhƣ kiến thức ở một số ngành khác nhƣ xã hội học, dân tộc học. 3.2 Phương pháp thống kê, khảo sát Thống kê, khảo sát các yếu tố trong tác phẩm mang đặc trƣng của loại hình tự sự dân gian giúp cho việc nghiên cứu có cơ sở khoa học, chính xác, có tính thuyết phục cao. 3.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp Trong luận văn, phƣơng pháp phân tích đƣợc sử dụng linh hoạt, kết quả phân tích làm tiền đề cho những kết luận khái quát về vấn đề đƣợc đặt ra trong nhiệm vụ nghiên cứu. 3.4 Phương pháp đối chiếu, so sánh Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng giữa loại hình tự sự dân gian và tiểu thuyết Triều Ân làm nổi rõ phong cách tự sự dân gian của tác giả. 4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4.1 Đối tượng nghiên cứu Tiểu thuyết Triều Ân (2009). Nxb Hội nhà văn gồm 3 tác phẩm: Nắng vàng bản Dao (1992) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 Nơi ấy biên thuỳ (1994) Dặm ngàn dong ruổi (2000) 4.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu phong cách tự sự dân gian trong tiểu thuyết Hoàng Triều Ân ở các phƣơng diện: Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và nhân vật, ngôn ngữ nghệ thuật. 5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Nghiên cứu Phong cách tự sự dân gian trong tiểu thuyết Triều Ân, luận văn có nhiệm vụ khảo sát tìm hiểu những vấn đề sau: - Những vấn đề lý luận về tự sự học và tự sự dân gian qua thể loại cổ tích để từ đó xác định cơ sở lý thuyết để chỉ ra phong cách tự sự dân gian trong tiểu thuyết Triều Ân. - Phong cách tự sự dân gian trong tiểu thuyết Triều Ân biểu hiện qua một số phƣơng diện: Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và nhân vật, ngôn ngữ nghệ thuật. 6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN - Luận văn là một công trình vận dụng lý thuyết tự sự còn khá mới mẻ ở Việt Nam để khảo sát sáng tác của một nhà văn dân tộc thiểu số. - Luận văn góp phần đánh giá phong cách tự sự dân gian nhƣ một yếu tố quan trọng làm nên giá trị đặc sắc trong tiểu thuyết của nhà văn Triều Ân. - Luận văn góp phần khẳng định chiều sâu của văn hoá, văn học dân gian nhƣ một mạch nguồn sáng tác, thúc đẩy sự phát triển của văn xuôi hiện đại. 7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung chính gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận chung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 Chƣơng 2. Phong cách tự sự dân gian trong bình diện xây dựng nhân vật và xây dựng cốt truyện. Chƣơng 3. Phong cách tự sự dân gian trong bình diện ngôn ngữ nghệ thuật. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 NỘI DUNG Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, nền văn học Việt Nam chứng kiến sự cách tân mạnh mẽ chƣa từng thấy trong tƣ duy nghệ thuật của nhà văn và cấu trúc tự sự của tác phẩm. Một trong những biểu hiện thú vị nhất của công cuộc đổi mới sôi động này, không hẳn là sự sản sinh ra những chất liệu và nhân tố nghệ thuật mới, mà lại nằm ở sự thâu nhận và “tái sử dụng” tích cực những yếu tố tự sự truyền thống - đặc biệt là các yếu tố tự sự dân gian. Ở chƣơng này, chúng tôi sẽ trình bày khái quát về loại hình tự sự dân gian và đặc điểm chung của loại hình nghệ thuật này. Trên cơ sở đó tìm hiểu sự ảnh hƣởng của văn học dân gian tới loại hình tự sự văn học viết Việt Nam từ trung đại đến hiện đại sau khi đã có những luận giải về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết. Cuối cùng là tổng quan về con ngƣời và sự nghiệp sáng của Triều Ân trong dòng chảy văn học miền núi đƣơng đại. Đây sẽ là cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn giúp ngƣời viết giải quyết những vấn đề đặt ra ở chƣơng 2 và chƣơng 3 của luận văn. 1.1 Những vấn đề lý thuyết chung về tự sự học dân gian Vấn đề phân loại văn học theo phƣơng thức phƣơng tiện thẩm mĩ ở cấp độ loại hình, thuật ngữ tự sự và trữ tình từ lâu đã đƣợc các nhà kinh điển mỹ học và lý luận văn học trên thế giới đề xuất nghiên cứu trong sự phân biệt và tƣơng quan ƣớc lệ. Tuy nhiên, theo sự tiến hoá của văn hoá, xã hội và lịch sử, những tƣ liệu bao quát chúng ngày càng phong phú, đa dạng, sự chuyển hoá thâm nhập lẫn nhau của chúng trong thực tiễn sáng tác cũng gây không ít khó khăn cho ngƣời nghiên cứu trong việc xác định thể loại. Trong khi nêu lên những ranh giới cụ thể giữa chúng cũng nhƣ những đặc tính và những biến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 thể phong phú, lịch sử phân định tự sự và trữ tình đã có những ý kiến khác nhau. Một trong những ngƣời đầu tiên nhắc đến khái niệm tự sự trong sự phân biệt hai loại hình còn lại, phải kể đến là Arixtot. Theo ông, văn học có ba phƣơng thức mô phỏng hiện thực. Đó là kể về một sự kiện nhƣ về một cái gì tách biệt với mình, hoặc là ngƣời mô phỏng tự nói về mình không thay đổi ngôi xƣng, hoặc là trình bày tất cả những nhân vật đƣợc mô tả trong hành động. Tên gọi của ba phƣơng thức trên lần lƣợt là tự sự, trữ tình và kịch. Nhƣ vậy, ở dạng ban đầu, tự sự chỉ đƣợc coi là một phƣơng thức mô phỏng hiện thực. Cho đến sau này, trong quá trình phân loại văn học, các nhà nghiên cứu mới dựa vào ba phƣơng thức trên mà khái quát hoá, phân loại thành ba loại hình văn học. Lúc này tự sự mới xuất hiện với tƣ cách là một loại hình. Trong cách phân loại đó, theo Bielinxki, khái niệm tự sự đƣợc dùng để chỉ toàn bộ những tác phẩm biểu hiện đời sống thông qua miêu tả sự kiện. Đặc trƣng nổi bật nhất và cũng là quan trọng nhất của loại hình tự sự là tính khách quan. Cũng theo Bielinxki, trong mối quan hệ với những loại hình còn lại, nếu tác phẩm trữ tình ƣa nói tới cái chủ quan, tác phẩm kịch là “sự dung hợp của các yếu tố đối lập của tính khách quan tự sự và tính chủ quan trữ tình” thì đối tƣợng mà tự sự hƣớng tới là tính khách quan của thế giới. Nhƣ vậy, mỗi nhà nghiên cứu, dƣới các góc độ khác nhau sẽ có quan điểm khác nhau về tự sự. Song dù nhấn mạnh đặc trƣng nào, tiêu chí loại hình vẫn có một cái lõi chung nhất. Về khái niệm tự sự, chúng tôi thống nhất quan điểm của các nhà biên soạn cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong cảm nhận chủ quan về nó thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó. Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14 mở rộng của đời sống, trong không gian, thời gian qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con ngƣời. Trong tác phẩm tự sự, nhà văn cũng thể hiện tƣ tƣởng và tình cảm của mình. Nhƣng ở đây tƣ tƣởng và tình cảm của nhân vật thâm nhập sâu sắc vào sự kiện và hành động bên ngoài của con ngƣời tới mức giữa chúng dƣờng nhƣ không có sự phân biệt nào cả. Nhƣ vậy ở tác phẩm tự sự, kể chuyện (hay trần thuật) là yếu tố trung tâm tổ chức ra thế giới nghệ thuật. Đồng thời với nó, cốt truyện, nhân vật là những yếu tố hạt nhân, đƣợc triển khai nhờ một hệ thống các yếu tố chi tiết, sự kiện, ngoại hình, tính cách, nhân vật, ngoại cảnh... kể cả hệ thống hƣ cấu liên tƣởng. Từ đặc trƣng trên, có thể thấy tự sự có một khả năng bao quát rộng lớn, phản ánh hiện thực cuộc sống và ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống thể loại văn học. Tự sự học là một chuyên ngành còn khá mới trong khoa nghiên cứu văn học nƣớc ta. Một số vấn đề của tự sự học đã đƣợc các nhà lý luận quan tâm tìm hiểu. Ngày 9.11.2001 khoa Ngữ văn - trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội đã tổ chức Hội thảo khoa học về tự sự học. Hội thảo thu hút sự chú ý của học giới, đánh dấu thành tựu lớn lao đầu tiên của chuyên ngành tự sự học trong nƣớc. Tự sự học vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại. Hiểu theo nghĩa rộng, tự sự học nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề có liên quan. Nói cách khác là nghiên cứu nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc. Tự sự là “kể việc”, “kể chuyện” nhƣng ngày nay tự sự không đơn giản là việc kể chuyện, mà là một phƣơng pháp không thể thiếu để giải thích, lý giải quá khứ và nó có nguyên lý riêng. Theo J.H. Miller “Tự sự là cách để đưa các sự việc vào một trật tự, và từ trật tự ấy mà chúng có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15 được ý nghĩa. Tự sự là cách tạo nghĩa cho sự kiện, biến cố” [60.12]. Jonathan Culler cũng nói “Tự sự là phương thức chủ yếu để con người hiểu biết sự vật” [60.12]. Muốn hiểu sự vật nào thì ngƣời ta kể về sự vật đó, nhƣ vậy tự sự có nội hàm rất rộng bởi tự sự là phƣơng thức tạo nghĩa và truyền thông tin. Trong các hình thức tự sự thì tự sự văn học khá phức tạp, vì vậy nó đã đƣợc nghiên cứu từ rất lâu và văn học trở thành đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu của tự sự học. Thuật ngữ tự sự học Narratology do nhà nghiên cứu Pháp là Tzevan Todorov đề xuất năm 1969, từ đó lý luận tự sự đã thay thế cho lý luận về tiểu thuyết. Theo tác giả Trần Đình Sử, đối tƣợng đƣợc gọi là tự sự học “bao gồm cả phần lý thuyết cấu trúc văn bản tự sự, cấu trúc sự kiện…cả phần nghiên cứu các hình thức và truyền thống tự sự, trong các nền văn học dân tộc cũng như sự so sánh chúng với nhau…nói lên được thực chất và tầm bao quát của một bộ môn nghiên cứu liên ngành” [60.22]. Tự sự học nghiên cứu cấu trúc văn bản tự sự và những vấn đề liên quan. Vấn đề cấu trúc tự sự bắt đầu từ chủ nghĩa hình thức Nga chia ra hai lớp chất liệu và hình thức. Đến nhà lý luận G.Genette nêu thêm lớp tự sự” (kể chuyện). Theo ông, nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ nói hay viết mà biểu đạt cho nên vai trò của ngƣời trần thuật là quan trọng nhất. Lý thuyết tự sự học hiện đại lần đầu tiên làm cho ngƣời trần thuật vô hình vốn ít đƣợc ngƣời ta chú ý phân tích, đƣợc hiện ra nhƣ một hệ thống biểu đạt. Nó cho ngƣời ta thấy ngƣời trần thuật đã can dự vào tiến trình tự sự nhƣ thế nào, từ hình thức đến bình luận. Lý thuyết tự sự cho thấy rõ sự biến dạng của thời gian bằng các biện pháp rút gọn, tỉnh lƣợc, kéo dài, dừng lại, lặp lại và các hình thức đổi thay tính liên tục của sự kiện. Từ đó nó giúp quan sát cụ thể cơ chế nghệ thuật của tự sự. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 16 Lý thuyết tự sự hiện đại đã nêu ra vấn đề phƣơng vị hay còn gọi là góc nhìn, điểm nhìn, tiêu cự trần thuật với mô hình trần thuật. Tự sự học hiện đại cũng nghiên cứu sâu về hành vi ngôn ngữ tự sự và các hình thức của nó, bao gồm việc phân loại các cách chuyển thuật ngôn ngữ của ngƣời khác, nhƣ trực tiếp, gián tiếp tự do, các hình thức độc thoại nội tâm, dòng ý thức. Tự sự học gắn chặt với phong cách học tiểu thuyết. Tự sự học hiện đại cũng tiếp tục nghiên cứu cấu trúc của tình tiết, đơn vị cơ bản của tự sự, các kiểu tổ hợp tình tiết, loại hình hoá cốt truyện. Tóm lại, nghiên cứu tự sự học mở ra khả năng nghiên cứu truyền thống tự sự trong mỗi nền văn học. Chúng ta đã biết mỗi nền văn học đều có một truyền thống thể loại tự sự và các thể loại ấy tiếp nối nhau trong lịch sử. Nhƣng thực chất về sự khác biệt của các thể loại cũng nhƣ sự tiến triển của chúng diễn ra nhƣ thế nào thì trƣớc nay chỉ có thể ghi nhận một cách cảm tính. Giờ đây lý thuyết tự sự cung cấp những khái niệm về cấu trúc văn bản tự sự, cho phép ta nhận ra những đặc điểm trên một cách khoa học. Văn học dân gian là các sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng theo phƣơng thức tập thể nhiều đời chọn lọc và gọt giũa của nhân dân, là thành tố quan trọng hợp thành chỉnh thể văn hoá dân gian có tính nguyên hợp. Hiện nay việc phân loại và đặt tên các loại hình và thể loại văn học dân gian còn có nhiều ý kiến chƣa thống nhất nhƣng có thể tạm chia làm ba loại hình: Tự sự, trữ tình và sân khấu. Loại hình tự sự bao gồm các thể loại mô tả và đúc rút kinh nghiệm toàn bộ các sự kiện diễn ra trong thế giới khách quan. Theo bảng phân loại của Đỗ Bình Trị, ngoài những thể loại đặc thù nhƣ: Tục ngữ, Câu đố, Vè thì các thể loại tự sự dân gian thƣờng chú trọng đến việc miêu tả hành động của nhân vật và bối cảnh xã hội của hành động ấy mà ít chú trọng đến việc miêu tả nội tâm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 17 của nhân vật. Tuy nhiên, nếu tác phẩm tự sự dân gian đƣợc đặt ra dƣới dạng thơ ca thì yếu tố trữ tình thƣờng xen vào giữa yếu tố tự sự. Tự sự là phƣơng thức phản ánh thế giới khách quan thông qua cốt truyện và nhân vật cụ thể. Tuy nhiên, nếu nhƣ ở văn học viết chúng ta đi tìm hiểu nghệ thuật xây dựng cốt truyện và nhân vật của một tác phẩm tự sự cụ thể để đánh giá giá trị của tác phẩm ấy thì văn học dân gian lại có cách tiếp cận khác. Bởi mỗi thể loại văn học dân gian đều đƣợc sáng tạo trên nguồn công thức folklore, có tính lặp lại. Do vậy, nghiên cứu văn học dân gian phải nghiên cứu dựa theo đặc trƣng thể loại của chúng. Các thể loại tự sự dân gian kể trên đều có cách xây dựng cốt truyện và nhân vật riêng theo đặc trƣng từng thể loại. Sau khi khảo sát tiểu thuyết Triều Ân, chúng tôi nhận thấy sự ảnh hƣởng đậm nét của văn học dân gian đặc biệt là thể loại cổ tích trong phong cách sáng tác của tác giả. Do đó, ở luận văn này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu một số yếu tố nghệ thuật của thể loại cổ tích - một thể loại khá hoàn chỉnh và là bộ phận quan trọng nhất trong các thể loại tự sự dân gian để từ đó so sánh, đối chiếu, tìm hiểu phong cách tự sự dân gian trong tiểu thuyết Triều Ân. Truyện cổ tích là thể loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội nguyên thủy, nhƣng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con ngƣời trong cuộc sống khi đã có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh xã hội quyết liệt. Truyện bày tỏ quan niệm đạo đức, lí tƣởng và mơ ƣớc của nhân dân lao động về một xã hội công bằng, dân chủ, hạnh phúc qua những yếu tố hoang đƣờng, kì ảo. Cốt truyện cổ tích thƣờng ngắn gọn, đƣợc cấu tạo theo đƣờng thẳng, xây dựng theo trình tự thông thƣờng, việc gì xảy ra trƣớc kể trƣớc, việc gì xảy ra sau kể sau, không có nhiều kiểu kết cấu đa dạng. Trình tự không gian cũng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 18
- Xem thêm -