Tài liệu Phát triển quỹ tín dụng tiết kiệm phụ nữ tại việt nam –nghiên cứu trường hợp xã yến mao và phượng mao

  • Số trang: 105 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 563 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

Phát triển Quỹ tín dụng tiết kiệm phụ nữ tại Việt Nam –Nghiên cứu trường hợp xã Yến Mao và Phượng Mao
LỜI CAM ĐOAN Luận văn Thạc sĩ “Phát triển “Quỹ tín dụng tiết kiệm phụ nữ” tại Việt Nam – Nghiên cứu trường hợp xã Yến Mao, xã Phượng Mao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ” chuyên nghành Tài chính, LTTT và tín dụng là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Tôi xin cam đoan rằng các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị hay một công trình nghiên cứu khoa học nào. Trong luận văn tôi có sử dụng các thông tin từ các nguồn dữ liệu khác nhau. Các thông tin trích dẫn được sử dụng đều được tôi ghi rõ nguồn gốc, xuất xứ. 2 LỜI CÁM ƠN Sau ba năm học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành chương trình cao học kinh tế chuyên ngành Tài chính Ngân hàng, và luận văn Thạc sĩ “Phát triển “Qũy tín dụng tiết kiệm phụ nữ” tại Việt Nam – Nghiên cứu trường hợp xã Yến Mao, xã Phượng Mao huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ”. Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo khoa Sau đại học, đặc biệt là các thầy giáo, cô giáo chuyên ngành Tài chính, LTTT và tín dụng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà nội đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ và định hướng cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học. Tôi xin trân trọng cám ơn lãnh đạo UBND huyện, phòng Thống kê huyện Thanh Thủy; Đảng Ủy, Hội đồng nhân dân, UBND, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Đoàn thanh niên và bà con nông dân hai xã Yến Mao và Phượng Mao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ và Giám đốc cùng các cán bộ dự án Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn đã cung cấp cho tôi các số liệu cần thiết và đóng góp các ý kiến trong thời gian tôi nghiên cứu tại địa bàn. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, PGS.TS. Đào Văn Hùng, người đã định hướng, chỉ bảo, dìu dắt tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài. Tôi xin trân trọng cám ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học. Hà nội, ngày 20 tháng 4 năm 2007 TÁC GIẢ LUẬN VĂN NGUYỄN ANH DŨNG 2 MỤC LỤC 4 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ADB BQL NHCPNT NHCSXH NHNN NHNo NGO PVS QTD QTDND RDSC TCVM TLN TKĐM TKTN UBND 4 Ngân hàng phát triển Châu á Ban quản lý Ngân hàng cổ phần nông thôn Ngân hàng chính sách xã hội Ngân hàng nhà nước Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Tổ chức phi chính phủ Phỏng vấn sâu Quỹ tín dụng tiết kiệm phụ nữ Qũy tín dụng nhân dân Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn Tài chính vi mô Thảo luận nhóm Tiết kiệm định mức Tiết kiệm tự nguyện Ủy ban nhân dân DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 6 PHẦN MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Trong những năm qua, nhờ công cuộc đổi mới kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch kinh tế, thúc đẩy nhanh quá trình mở cửa, hội nhập với kinh tế thế giới và khu vực mà kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 7,5% năm, bình quân lương thực đầu/người đạt 444 kg năm 2000, đời sống của nhân dân đã được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ người nghèo giảm một nửa so với những năm 90 còn 29% (2002). Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo, nhưng tình hình nghèo đói ở Việt Nam vẫn còn tồn tại ở trên diện rộng, đặc biệt ở nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa. Do vậy xóa đói giảm nghèo là một yêu cầu tất yếu trong quá trình phát triển. Và trong quá trình đó, tín dụng được coi là một công cụ chủ chốt phá vỡ vòng luẫn quẩn của sự nghèo đói và là một trong yếu tố quan trọng không thể thiếu trong chiến lược xóa đói giảm nghèo của quốc gia. Hội nghị thượng đỉnh vi tín dụng toàn cầu họp vào tháng 4 năm 2005 tại Chile đã đưa ra hai mục tiêu tiếp theo là “… đảm bảo rằng tới cuối năm 2010, sẽ có 175 triệu gia đình nghèo trên thế giới, đặc biệt là phụ nữ của những gia đình đó nhận được khoản tín dụng để tự tạo việc làm, và các dịch vụ tài chính, kinh doanh khác” và “… đảm bảo rằng tới cuối năm 2015, sẽ có 100 triệu gia đình nghèo nhất trên thế giới sẽ chuyển từ mức thu nhập dưới 1 đôla một ngày hiện nay lên trên 1 đôla một ngày (đã điều chỉnh cho tỷ suất ngang giá về khả năng trao đổi)” “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo” đã đưa ra cải cách và đổi mới hệ thống tài chính tín dụng nông thôn, hình thành thị 6 7 trường tín dụng bền vững, bảo đảm các hộ nghèo có điều kiện gửi vay được thuận lợi. Hoàn thiện quy trình cho vay với cơ chế một cửa giúp người nghèo vay vốn được dễ dàng. Thực hiện chính sách tín dụng phù hợp với các đối tượng chính sách, tạo điều kiện cho người nghèo có nhu cầu được vay vốn tín dụng với lãi suất hợp lý và đúng thời vụ. Trước mắt áp dụng chính sách lãi suất cho người nghèo và về lâu dài sẽ chuyển dần sang tăng khả năng tiếp cận của người nghèo với hệ thống tín dụng chính thức. Thực hiện trợ cấp trực tiếp cho các tổ chức ngân hàng tín dụng hoạt động ở các vùng khó khăn để bù đắp các chi phí phát sinh. Theo số liệu thống kê trong năm 2005, có 3 tổ chức tài chính vi mô lớn hiện đang cung cấp dịch vụ khu vực nông thôn là NHNo với số khách hàng lên đến 4 triệu, NHCSXH cung cấp vốn bao cấp cho hơn 3 triệu hộ, quỹ tín dụng nhân dân gần 1 triệu hộ, và các tổ chức tài chính vi mô phục vụ trên 35 vạn hộ nghèo. Như vậy còn khoảng 4 triệu hộ, trong đó có các hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn vẫn chưa có cơ may được tiếp cận với dịch vụ tài chính. Nhằm hỗ trợ người nghèo tiếp cận đến hệ thống tín dụng nông thôn, một số tổ chức phi chính phủ (NGO) đã hỗ trợ thành lập quỹ tín dụng tiết kiệm phụ nữ tại các vùng nông thôn miền núi. Hiện tại qũy tín dụng tiết kiệm phụ nữ (QTD) đã có một số kết quả đáng kể trong hỗ trợ vay vốn và sử dụng có hiệu quả, góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo tại Việt Nam. Với mục tiêu quản lý hoạt động các tổ chức cung cấp tài chính vi mô tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định 28/2005/NĐ-CP ngày 09 tháng 03 năm 2005 về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô nhỏ tại Việt Nam, nghị định có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô hiện nay. Theo điều khoản của nghị định thì những tổ chức cung cấp tài chính vi mô có nguồn vốn chủ sở hữu dưới 500 triệu sẽ 8 không hoạt động, còn nếu có nguồn vốn chủ sở hữu dưới 5 tỷ sẽ không được thực hiện tiết kiệm tự nguyện. Như vậy những tổ chức tài chính vi mô đang hoạt động tại những vùng, địa bàn khó khăn, chưa thể đáp ứng được những yêu cầu của sự thay đổi trong cấu trúc quản lý và năng lực của tổ chức thì sẽ tồn tại như thế nào. Tại xã Yến Mao và Phượng Mao, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ, Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn (RDSC) đã hỗ trợ thành lập QTD từ năm 1996, đến nay sau hơn 10 năm hoạt động, QTD đã góp phần hỗ trợ người nghèo tiếp cận với nguồn vốn và đầu tư sản xuất có hiệu quả, nâng cao đời sống của gia đình. Tuy nhiên hiện tại nguồn vốn của các quỹ tín dụng này bao gồm cả nguồn vốn chủ sở hữu và tiết kiệm tự nguyện chỉ dưới 300 triệu, như vậy các Qũy tín dụng sẽ gặp nhiều khó khăn khi Nghị định 28 của Chính Phủ được thực thi. Nhằm ghi nhận những đóng góp của Quỹ tín dụng phụ nữ trong sự phát triển của phụ nữ và giảm nghèo, và giúp các tổ chức đoàn thể, các tổ chức phát triển có những kinh nghiệm cần thiết trong xây dựng và hỗ trợ hoạt động quỹ tín dụng phụ nữ, đồng thời có những kiến nghị cần thiết đến Chính phủ trong hỗ trợ hoạt động của các QTD, tôi thực hiện cuộc nghiên cứu với đề tài “Phát triển Quỹ tín dụng tiết kiệm phụ nữ tại Việt Nam – Nghiên cứu trường hợp xã Yến Mao và Phượng Mao, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ”. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Ghi nhận những đóng góp của Quỹ tín dụng tiết kiệm phụ nữ trong phát triển phụ nữ và giảm nghèo; và giúp các tổ chức có những kinh nghiệm cần thiết trong xây dựng và hỗ trợ hoạt động của QTD, đồng thời có những kiến nghị cần thiết đến Chính phủ trong hỗ trợ hoạt động của các QTD. 8 9 Mục tiêu cụ thể: • Hệ thống hóa những cơ sở lý luận về tài chính vi mô. • Đánh giá thực trạng hoạt động của Quỹ tín dụng tiết kiệm phụ nữ xã Yến Mao và Phượng Mao. • Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động Quỹ tín dụng đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển quỹ tín dụng tiết kiệm phụ nữ. Phương pháp nghiên cứu Số liệu thứ cấp: là các số liệu đã được công bố qua sách, báo, tạp chí, niên giám thống kê, báo cáo… Số liệu sơ cấp: là số liệu thu được từ phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình tại các xã đặc biệt khó khăn của xã Yến Mao và Phượng Mao, huyện Thanh Thủy. Trong nghiên cứu này tôi sử dụng hai phương pháp để thu thập số liệu sơ cấp là phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng. Phương pháp nghiên cứu định tính: Là phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả và phân tích đặc điểm văn hóa và hành vi của con người của nhóm người từ quan điểm của nhà nghiên cứu. Nghiên cứu định tính là cung cấp thông tin toàn diện về các đặc điểm của môi trường xã hội nơi nghiên cứ được tiến hành. Nghiên cứu định tính dựa trên một chiến lược nghiên cứu linh hoạt, cho phép phát hiện những chủ đề mới mà nhà nghiên cứu có thể chưa bao quát được trước đó, kỹ thuật thu thập thông tin có thể được điều chỉnh. Một số phương pháp nghiên cứu định tính cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm: phỏng vấn bán cấu trúc, thảo luận nhóm tập trung. Phỏng vấn sâu: Được sử dụng để tìm hiểu thật sâu về một chủ đề cụ thể, nhằm thu thập đến mức tối đa thông tin về chủ đề đang nghiên cứu. Phỏng vấn sâu sử dụng bản hướng dẫn bán cấu trúc trên cơ sở những phỏng vấn thăm dò trước đó về chủ đề nghiên cứu có thể biết được câu hỏi nào là phù hợp. 10 Nghiên cứu trường hợp: nhằm thu thập thông tin toàn diện, có hệ thống và sâu về các trường hợp đang quan tâm. Nghiên cứu trường hợp đặc biệt cần thiết khi nghiên cứu viên cần có hiểu biết sâu sắc về một người, vấn đề và tình huống cụ thể, cũng như khi các trường hợp có nhiều thông tin hay mà có thể đem lại một cách nhìn sâu sắc về hiện tượng đang quan tâm. Thảo luận nhóm tập trung: là phương pháp thu thập thông tin về một chủ đề từ cuộc thảo luận từ các thành viên từ 6 đến 8 người có chung một đặc điểm nhất định hoặc kinh nghiệm phù hợp với chủ đề được thảo luận. Cuộc thảo luận được dẫn đắt bởi một người điều hành sao cho các thành viên cùng tham gia vào cuộc thảo luận một cách sôi nổi và tự nhiên. Quan sát trực tiếp cho ta ấn tượng ban đầu về những đặc điểm có thể quan sát được của một cộng như cảnh quan, phương thức canh tác, hội họp tổng kết… Phương pháp nghiên cứu định lượng phân tích những tác động tài chính vi mô dựa vào những bản phỏng vấn được xây dựng và kiểm tra trước. Nó mang tính chính xác hơn là khi không có kết cấu, vì những câu trả lời phải so sánh được và dễ dàng đếm được. Vì bản phỏng vấn có cấu trúc và tương đối bất biến, có rất ít mối tương tác giữa người điều tra và người trả lời. Kết quả là bản điều tra hoàn toàn phụ thuộc vào câu trả lời. Lý do khiến phương pháp định lượng trở nên hấp dẫn với các nhà hoạch định chính sách vì bắt nguồn từ ý kiến cho rằng các con số có sức thuyết phục hơn. Những con số mang lại sự tin tưởng vì chúng được coi là biểu đạt những giá trị chính xác. 10 11 CHƯƠNG 1: CÁC MÔ HÌNH TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 1.1 Khái niệm và quan điểm về hoạt động tài chính vi mô 1.1.1 Khái niệm tài chính vi mô Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB) định nghĩa tài chính vi mô “là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm tới các hộ nghèo, hộ thu nhập thấp và các doanh nghiệp quy mô nhỏ”. ADB xác định có 3 nguồn cung cấp dịch vụ tài chính vi mô: các thể chế chính thức như ngân hàng và các hợp tác xã, các định chế bán chính thức như các tổ chức phi chính phủ (NGO); và các nguồn phi chính thức như những người cho vay nặng lãi và thương nhân. Tài chính vi mô bao gồm các định chế chính thức và bán chính thức. Nghị định 28 NĐ-CP về về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam định nghĩa “Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và người nghèo”, “Tổ chức tài chính quy mô nhỏ là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và nhận tiết kiệm để cung cấp dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp”. “Tài chính vi mô bao gồm các giao dịch tài chính tương đối nhỏ, đặc biệt là cung cấp tin dụng nhỏ cho các doanh nghiệp vi mô hoặc cá nhân và huy động tiết kiệm nhỏ của họ”. Phương pháp thông dụng và thực tiễn nhất là nhìn nhận tài chính vi mô ở Việt Nam trên ba giác độ: nhóm mục tiêu, quy mô khoản vay và tiền gửi, và cơ chế sử dụng để cung cấp dịch vụ tới khách hàng. Như vậy, theo những định nghĩa được nêu ở trên thì TCVM có hai mục tiêu chính: Mục tiêu thứ nhất là mở rộng sự tiếp cận phục vụ những đối tượng 12 dễ bị tổn thương như người nghèo, người dân tộc thông qua tạo cơ hội về việc làm và thu nhập thông qua việc mở rộng các doanh nghiệp nhỏ, tăng hiệu quả công việc cũng như thu nhập cho một số nhóm người, đặc biệt là phụ nữ và người nghèo, làm giảm sự phụ thuộc vào những mùa vụ chính ở trong năm của các hộ gia đình ở nông thôn bằng cách đa dạng hóa các hoạt động tạo thu nhập. Mục tiêu thứ hai là phát triển bền vững, tạo ra đủ lợi nhuận để trang trải các chi phí cung cấp dịch vụ tài chính. Tài chính vi mô được coi là một phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho cư dân thu nhập thấp. Cùng với các trung gian tài chính, rất nhiều tổ chức TCVM cung cấp các dịch vụ trung gian mang tính chất xã hội như hình thành tổ nhóm phát triển tính tự tin, và đào tạo các kiến thức về tài chính cũng như quản lý các thành viên trong cùng một nhóm. Do đó TCVM không đơn giản chỉ là công cụ ngân hàng, nó là một công cụ phát triển. Tài chính vi mô thường đề cập đến: - Các khoản vay nhỏ, đặc biệt là các món vay để làm vốn lưu động; - Thẩm định phi chính thức về người vay và các hoạt động đầu tư của họ; - Các hình thức ký quỹ thay thế tài sản thế chấp như bảo lãnh nhóm và tiết kiệm bắt buộc; - Vay nhiều lần và số tiền lớn dần dựa trên thực trạng hoàn trả vốn vay; - Giải ngân gọn và giám sát; - Các sản phẩm tiết kiệm an toàn tạo sự tin tưởng cho người gửi tiền. Như vậy các tổ chức TCVM có thể là các tổ chức phi chính phủ (NGO), các tổ nhóm cho vay tiết và tiết kiệm, các hiệp hội tín dụng, các ngân hàng quốc doanh, hoặc các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Khách hàng của TCVM có thể là các cá thể làm ăn, những doanh nghiệp ở nông thôn, những người có thu nhập thấp hoặc có thu nhập cao. Thông thường công việc của các khách hàng TCVM có những nguồn thu nhập ổn định. 12 13 1.1.2 Quan điểm về hoạt động tài chính vi mô - Người nghèo không những cần vay vốn, mà còn có những nhu cầu đối với nhiều loại hình dịch vụ khác nhau. Cũng như nhiều nhóm đối tượng khác, người nghèo có nhu cầu đối với nhiều loại hình dịch vụ tài chính đa dạng thuận tiện, linh hoạt và có mức giá cả hợp lý. Tùy từng điều kiện cụ thể của mình mà người nghèo không những cần được vay vốn, mà còn muốn được sử dụng dịch vụ tiết kiệm, chuyển tiền mặt và bảo hiểm. - Tài chính vi mô là một công cụ có tác dụng mạnh để chống nghèo đói. Việc tiếp cận đến các dịch vụ tài chính bền vững sẽ giúp người nghèo tăng thu nhập, tích lũy tài sản và giảm nguy cơ bị tổn thương do các biến động bên ngoài. Tài chính vi mô cho phép các hộ gia đình nghèo từ chỗ chỉ duy trì sự tồn tại hàng ngày của mình tiến tới lập kế hoạch cho tương lai, đầu tư vào chế độ dinh dưỡng tốt hơn, nâng cao điều kiện sống, sức khỏe và học tập của trẻ em. - Tài chính vi mô có nghĩa là xây dựng các hệ thống tài chính phục vụ người nghèo. Người nghèo hiện nay vẫn khó tiếp cận đến với các dịch vụ tài chính cơ bản. Để thực hiện được tiềm năng tiếp cận số lượng người nghèo của mình, TCVM phải được trở thành một bộ phận không thể tách rời khu vực tài chính của mình. - Cần đảm bảo bền vững về mặt tài chính để tiếp cận được số lượng đáng kể người nghèo. Đa phần người nghèo không tiếp cận được các dịch vụ tài chính do thiếu hệ thống trung gian. Bản thân việc xây các tổ chức bền vững về mặt tài chính cũng có ý nghĩa quan trọng. Đó là phương thức duy nhất để đạt được quy mô và mức độ ảnh hưởng lớn vượt khỏi những gì mà nhà tài trợ có thể cung cấp. “Bền vững” là khả năng một tổ chức tài chính vi mô bù đắp được tất cả các chi phí của mình. Việc đảm bảo được khả năng bền vững này sẽ cho phép tổ chức tài chính vi mô hoạt động liên tục và không 14 ngừng cung cấp dịch vụ tài chính cho người nghèo. Đạt được những bền vững có nghĩa là các dịch vụ tài chính sẽ cung cấp một cách có hiệu quả, các chi phí giao dịch trung gian được giảm thiểu và có các hướng đi mới khác nhau để người nghèo được tiếp cận với các dịch vụ tài chính một cách tốt nhất. - Tài chính vi mô là việc xây dựng các định chế tài chính thường trực tại địa phương. Xây dựng các hệ thống tài chính dành cho người nghèo có nghĩa là xây dựng các trung gian tài chính vững mạnh tại địa phương có đủ khả năng cung cấp dịch vụ tài chính cho người nghèo một cách thường xuyên. Những tổ chức này phải có khả năng huy động vốn và quay vòng tiền tiết kiệm tín dụng và cung ứng các dịch vụ khác. Cùng với sự phát triển của các tổ chức tài chính địa phương, giảm thiểu các nguồn vốn do các nhà tài trợ và chính phủ. - Tín dụng vi mô không phải là câu trả lời cho mọi trường hợp. Tín dụng vi mô không phải là thích hợp cho mọi người hay mọi trường hợp. Những người nghèo đói không có thu nhập hay bất cứ phương thức nào để trả nợ sẽ cần đến hình thức hỗ trợ khác trước khi họ tận dụng các khoản vay. Trong nhiều trường hợp họ sẽ cần các khoản hỗ trợ nhỏ, các dịch vụ tạo việc làm thì sẽ có được kết quả giảm nghèo có hiệu quả. Và nếu có thể thì các dịch vụ tài chính phi chính thức này lồng ghép được với quá trình tích lũy tiết kiệm thì sẽ hiệu quả hơn đối với người nghèo. - Trần lãi suất có thể làm hỏng khả năng tiếp cận với dịch vụ tài chính của người nghèo. Cho vay với nguồn vốn nhỏ và hình thức thu gốc lãi chia làm nhiều lần sẽ tăng chi phí dành cho quản lý lên cao, điều này có thể lý giải tại sao hệ thống cung cấp tài chính nông thôn chính thức thường ưu tiên cho các khoản vay với số lượng lớn. Vì vậy, nếu không áp dụng mức lãi suất cao hơn đáng kể so với mức lãi suất ngân hàng thì các tổ chức tài chính vi mô sẽ không thể bù đắp với chi phí. Khi chính phủ điều tiết lãi suất, chính phủ 14 15 thường quy định mức lãi suất quá thấp để có thể đảm bảo được hoạt động tín dụng vi mô bền vững. Đồng thời, tổ chức cho vay vi mô lại không được chuyển ghánh nặng của hoạt động thiếu hiệu quả của mình sang cho khách hàng dưới hình thức lãi suất và các loại chi phí khác cao hơn mức quy định. - Chính phủ đóng vai trò là người tạo điều kiện, chứ không phải là người trực tiếp cung cấp dịch vụ tài chính. Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra môi trường chính sách mang tính chất hỗ trợ nhằm khuyến khích phát triển dịch vụ tài chính, đồng thời bảo hộ tiền gửi tiết kiệm của người nghèo. Những điều cơ bản mà chính phủ có thể hỗ trợ các dịch vụ tài chính dành cho người nghèo bằng cách cải thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp, kiểm soát chặt chẽ nạn tham nhũng và tăng cường tiếp cận của người nghèo đối với thị trường và cơ sở hạ tầng. - Nguồn vốn của các nhà tài trợ mang tính chất bổ sung chứ không phải cạnh tranh với nguồn vốn khu vực tư nhân. Các nhà tài trợ chỉ nên sử dụng số tiền viện trợ, cho vay và các công cụ vốn cổ phần khác trên cơ sở tạm thời nhằm xây dựng năng lực thể chế của các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính, phát triển cơ sở hạ tầng cần thiết, và hỗ trợ các sản phẩm dịch vụ và thử nghiệm. Để đảm bảo hiệu quả thì nguồn vốn của nhà tài trợ phải tìm cách kết được dịch vụ tài chính cho người nghèo với thị trường tài chính địa phương, yêu cầu các tổ chức tài chính và các đối tác khác phải đạt được những chuẩn mực hoạt động tối thiểu, coi đó là điều kiện để được tiếp tục hỗ trợ. - Trở ngại lớn nhất là thiếu năng lực. Tài chính vi mô là một lĩnh vực đặc biệt, kết hợp hoạt động ngân hàng với các mục tiêu xã hội. Cần phải xây dựng năng lực ở tất cả các cấp độ, từ các tổ chức tài chính đến các cơ quan quản lý giám sát, hệ thống thông tin. - Tầm quan trọng của tính minh bạch về tài chính vi mô. Bắt buộc thông tin phải chính xác, chuẩn hóa và có thể so sánh được về hoạt động tài chính 16 và hoạt động xã hội của các tổ chức tài chính cung ứng dịch vụ cho người nghèo. Các cơ quan quản lý, các nhà tài trợ và bản thân các người nghèo cần những thông tin này để đánh giá đầy đủ về rủi ro và lợi nhuận. 1.2 Các loại hình tổ chức tài chính vi mô 1.2.1 Tổ chức tài chính vi mô chính thức Ngân hàng phát triển cộng đồng: Những ngân hàng được thành lập trong thời gian gần đây là một điển hình về mô hình ngân hàng lớn, tập trung và thuộc sở hữu của nhà nước. Hầu hết những ngân hàng được thành lập bởi ủng hộ tài chính từ các tổ chức nước ngoài, và cung cấp các dịch vụ tài chính đến lĩnh vực trọng điểm của mình là nông nghiệp hoặc công nghiệp. Phần lớn các ngân hàng này là sản phẩm của cách tiếp cận truyền thống nhấn mạnh đến việc phân cấp vốn với tỷ lệ lãi suất được hỗ trợ. Khách hàng truyền thống của họ trước đây thường là những nhà kinh doanh lớn, trong mấy năm trở lại đây họ đã tiếp cận đến vùng nông thôn và những nhà kinh doanh nhỏ. Tuy nhiên với cơ cấu tổ chức ít thay đổi nên thành công của họ vẫn chưa đáng kể. Ngoài ra các ngân hàng đã cải thiện và cung cấp các dịch vụ cho các nhóm khách hàng nghèo hơn. Ngân hàng phát triển tư nhân: Ngân hàng hoạt động nhằm mục đích hỗ trợ phát triển kinh tế nước ngoài nhằm điền đầy khoảng trống về vốn trong khu vực tư nhân. Ngân hàng tiết kiệm và ngân hàng bưu điện: là điển hình của những ngân hàng không thuộc sở hữu của chính quyền trung ương, thông thường nó là sự kết hợp giữa sở hữu tư nhân và công chúng. Ngân hàng tiết kiệm có nhiều hướng nhấn mạnh sự huy động tiết kiệm hơn các ngân hàng khác. Điểm mạnh của ngân hàng này là phân cấp quản lý, huy động sự tham gia của cộng đồng địa phương và quan tâm đến những nhà kinh doanh nhỏ. 16 17 Ngân hàng này có một mạng lưới cửa hàng, nó không chỉ cung cấp tín dụng mà còn nhận tiền gửi và cung cấp dịch vụ chuyển tiền. Điểm mạnh của ngân hàng này là quản lý bắt nguồn từ cộng đồng, quan tâm đến những nhà kinh doanh nhỏ ở địa phương. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng: Hoạt động của các công ty tài chính thường gắn liền với các hợp đồng trả góp, và tín dụng tiêu dùng. Các công ty này thường không được huy động tiền gửi tiết kiệm, tuy nhiên tùy theo thể chế của mỗi công ty mà một số công ty có thể huy động tiết kiệm có thời hạn. 1.2.2 Tổ chức tài chính bán chính thức Các hiệp hội tín dụng, hợp tác xã cho vay và tiết kiệm, và các hợp tác xã tài chính khác: Có nhiều loại hình tổ chức tài chính hợp tác, các loại hình tổ chức này đóng vai trò quan trọng trong cung cấp dịch vụ tài chính cho nhóm người nghèo. Hợp tác xã thực hiện chức năng đóng vai trò trung gian tài chính trong phân luồng tài chính giữa những người gửi tiền thuần túy với những người vay thuần túy trong khi vẫn đảm bảo nguồn vốn vay tại cộng đồng. Các hợp tác xã tài chính được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc là không có cổ đông bên ngoài, các thành viên là chủ sở hữu của hợp tác xã. Ngoài việc gửi các cổ phần có thể chuyển nhượng lại với giá danh nghĩa, các thành viên có thể gửi hoặc vay tiền của hợp tác xã. Nhóm quản lý hợp tác xã được thành lập dựa trên tín nhiệm của thành viên, do tự nguyện hoặc do bầu lên. Các đặc trưng của hợp tác xã tài chính: - Khách hàng thông thường là các những người có thu nhập thấp hoặc dưới trung bình. - Các dịch vụ tài chính của hợp tác xã mang tính chất đặc biệt. 18 - Tự tạo vốn và chi phí luôn giữ ở mức thấp và không phụ thuộc vào sự tài trợ từ bên ngoài. Các hợp tác xã tài chính riêng lẻ thường lựa chọn tham gia vào một hiệp hội tổ chức cấp 1 nhằm mục đích đại diện cho các hiệp hội tín dụng ở cấp quốc gia, cung cấp hỗ trợ đào tạo về kỹ thuật cho các hiệp hội tín dụng thành viên, hoạt động như một bộ phần nhận tiền gửi trung tâm và cho vay giữa các thành viên, và chuyển các nguồn từ nhà tài trợ bên ngoài vào hệ thống hợp tác xã quốc gia. Dịch vụ tiết kiệm là nhân tố cơ bản trong việc gây dựng vốn. Hoạt động cho vay của các hợp tác xã tín dụng ít đòi hỏi thế chấp mà chủ yếu là tín chấp, và các thỏa thuận được thực hiện với các thành viên vay vốn. Tuy nhiên để hợp tác xã tài chính hoạt động hiệu quả thì phải thỏa mãn hai nguyên tắc là: nhóm cấu thành nên tổ chức phải vừa đủ đế các thành viên có thể hiểu rõ về nhau; và các hội viên phải thường xuyên chuyển từ vai trò người cho vay thuần túy sang thành người đi vay thuần túy và ngược lại. Các tổ chức tài chính phi chính phủ: NGO là các tổ chức được thành lập và quản lý không phải bởi những người mà nó nhằm phục vụ mà bởi người ngoài, thường là những người thuộc tầng lớp trung lưu muốn giúp đỡ những người nghèo hơn vì mục đích xã hội, đạo đức và chính trị. NGO là hình thức cung cấp TCVM phổ biến nhất. NGO tuy không do chính các hội viên cần giúp đỡ tạo nên, nhưng NGO rất gần gũi với nhóm khách hàng mục tiêu thông qua các cách tiếp cận của mình. Tuy nhiên, một vài nhân tố đã làm cho các NGO hoạt động không có hiệu quả cao do những lý do về sự nhạy bén trong kinh doanh, sự tham vọng quá mức về sự tương thích mang tính xã hội; quy mô hoạt động hẹp nên không đủ điều kiện thu lợi nhuận từ hoạt động của mình, phụ thuộc vào nhà tài trợ, không chịu trách nhiệm về hoạt động của mình một cách trực tiếp xét 18 19 về mặt tài chính. Và một trong những hạn chế của NGO là thiếu một tầm nhìn chiến lược mang tính dài hạn. 1.2.3 Khu vực tài chính phi chính thức Thị trường tài chính phi chính thức chiếm hầu hết cấp cuối cùng trong hệ thống tài chính và có thể phân theo nhiều cách: - Dựa trên cá nhân (các nhà cho vay, các nhà nhận tiền gửi) và dựa trên các nhóm (các hiệp hội tiết kiệm và tín dụng). - Các nhóm chuyên môn hóa (ví dụ các hiệp hội tiết kiệm và cho vay) với các nhóm không chuyên mô hóa (ví dụ các hội kinh doanh, hội tự nguyện hoặc không tự nguyện). - Có nguồn gốc địa phương (có thể có chung nguồn gốc về truyền thống hoặc văn hóa địa phương) và được giới thiệu từ bên ngoài. Các tổ chức, cá nhân nằm trong khu vực tài chính phi chính thức có một số nét tương đồng với các tổ chức tài chính chính thức. Các hình thức hoạt động dưới dạng là tín dụng quay vòng, hoặc các nhóm tự hỗ, hoặc các doanh nhân và các nhà sản xuất cung cấp tín dụng thương mại cho khách hàng của họ, hoặc các hình thức cung cấp tín dụng giữa các bạn bè, người cùng gia đình hoặc người thân. Người cho vay trên khu vực tài chính phi chính thức chấp nhận khoản vay dựa trên hiểu biết cá nhân về người vay, dựa trên tín chấp. Họ đáp ứng nhu cầu vay vốn của người vay dựa trên tối thiểu hóa về các thủ tục hành chính. Tuy nhiên các khoản vay từ những người vay tiền thường không vì mục đích kinh doanh mà thường đáp ứng mục đích sinh hoạt hàng ngày. Các khoản vay này thường ngắn hạn. Tổ chức tài chính phi chính thức có thể hoạt động dựa trên nhóm, các tổ chúc này có thể bao gồm các thành viên của một cộng đồng, một làng, một nhóm làng, một cơ quan, một hội nghề nghiệp, những người họ hàng... Đây 20 có thể là những nhóm mà các thành viên đều biết đến nhau, hoặc có thể không biết hết được. Các nhóm vì vậy có đặc điểm đồng nhất hoặc hỗn tạp. Về phạm vi xã hội, các điều kiện kinh tế hoặc văn hóa, các hội viên có thể là đồng nhất hoặc khác biệt. Các nghĩa vụ và các cam kết có được tôn trọng nhiều hay không trong các nhóm đồng nhất hay hỗn tạp phụ thuộc vào loại hình cộng đồng. 1.3 Phương pháp tiếp cận tài chính vi mô Các phương pháp tiếp cận TCVM được đưa ra bao gồm: 1. Cho vay theo cá thể; 2. Cho vay theo nhóm tương hỗ kiểu Ngân hàng Grameen; 3. Cho vay theo nhóm tương hỗ ở khu vực Mỹ La tinh; 4. Ngân hàng làng xã; 5. Ngân hàng làng xã tự quản. Bất kỳ một cách tiếp cận theo hình thức nào cũng dựa trên cơ sở là thị trường mục tiêu, và nhu cầu của nó đối với các dịch vụ trung gian tài chính, cũng như các sản phẩm khác. Các cách tiếp cận có thể dựa trên các tổ chức khác kể cả công cộng và tư nhân để cung ứng các dịch vụ bổ trợ để nhóm khách hàng mục tiêu sử dụng một cách hiệu quả nhất dịch vụ tín dụng của mình, và nhà cung cấp dịch vụ đảm bảo hiệu quả về mặt tài chính của tổ chức. Khó có thể đánh giá được cách tiếp cận nào sẽ là tốt nhất, và không có một mô hình đơn lẻ nào lại thích hợp cho mọi tổ chức và vì vậy, mọi mô hình TCVM đều phải được thiết kế thay đổi sao cho phù hợp với nhu cầu thực tế của thực tế. 1.3.1 Cho vay cá thể Cho vay cá thể được định nghĩa là việc cung ứng tín dụng cho các cá nhân không phải là thành viên của một nhóm cùng chịu trách nhiệm hoàn trả. Như vậy hình thức cho vay cá thể cần được sự liên hệ thường xuyên và gần gũi với khách hàng. Vì vậy mô hình này đặc biệt thành công với những doanh nghiệp sản xuất, ở thành thị và có quy mô lớn và với khách hàng có tài sản 20
- Xem thêm -