Tài liệu Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của việt nam

  • Số trang: 112 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 175 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ --------------***-------------- NGUYỄN MAI HƢƠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Chuyên ngành: Kinh tế chính trị Mã số: 60 31 01 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS, TS. LÊ DANH TỐN HÀ NỘI - 2008 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ --------------***-------------- NGUYỄN MAI HƢƠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI - 2008 MỤC LỤC MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 1 Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ............................................................................ 6 1.1. Lý luận chung về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế................................................................................................................................... 6 1.1.1. Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước......................................................................................................................... 6 1.1.2. Hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu của nó đối với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam.......................... ............................................................................................... 16 1.2. Kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế...................................................................................................... 25 1.2.1. Kinh nghiệm ở một số quốc gia điển hình.............................................................. 25 1.2.2. Bài học rút ra cho Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực................................... 32 Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM..................................... 35 2.1. Tổng quan về quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam............................. 35 2.1.1. Mục tiêu và quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế................................................... 35 2.1.2. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế........................................................................... 37 2.2. Tình hình phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ..................................................................................................................... 38 2.2.1. Lực lượng lao động và cơ cấu nguồn nhân lực...................................................... 38 2.2.2. Tình hình giáo dục và đào tạo.................................................................................. 44 2.2.3. Thu nhập và mức sống...................................................................................... 57 2.2.4. Sức khỏe và dinh dưỡng................................................................................... 62 2.2.5. Vấn đề việc làm................................................................................................ 66 2.3. Đánh giá chung về phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam trong quá trình 1 hội nhập kinh tế quốc tế.............................................................................................. 68 2.3.1. Những thành tựu trong phát triển nguồn nhân lực và tác động của nó đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam...................................................... 68 2.3.2. Những hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực............................................. 70 Chương 3. QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI................................................................... 74 3.1. Bối cảnh mới và tác động của nó đến phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam .. 74 3.1.1. Bối cảnh quốc tế........................................................................................................ 74 3.1.2. Bối cảnh trong nước.................................................................................................. 75 3.2. Mục tiêu và quan điểm định hướng phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế...................................................................................................... 76 3.2.1. Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực......................................................................... 76 3.2.2. Quan điểm định hướng............................................................................................. 77 3.3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam....................................................................................................................... 79 3.3.1. Phát triển giáo dục và đào tạo.................................................................................. 79 3.3.2. Nâng cao thu nhập, mức sống và thể chất dân cư.................................................. 82 3.3.3. Giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp................................................................ 84 3.3.4. Phát triển thị trường lao động................................................................................... 86 3.3.5. Kiểm soát dân số....................................................................................................... 90 3.3.6. Mở rộng hợp tác quan hệ quốc tế toàn diện và đa phương để phát triển nguồn nhân lực................................................................................................................................ 92 3.3.7. Hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về phát triển nguồn nhân lực và hệ thống tổ chức quản lý phát triển nguồn nhân lực............................................. 93 KẾT LUẬN......................................................................................................................... 97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 98 2 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nguồn nhân lực là một nhân tố cơ bản quyết định sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội ở mọi thời đại. Ở nước ta, nguồn nhân lực là một tiềm năng dồi dào để tăng trưởng kinh tế, song mặt khác, chính nguồn nhân lực đó chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Điều đó bắt nguồn từ những hạn chế về chất lượng, cơ cấu lao động, về thể chế, chính sách huy động và sử dụng nguồn nhân lực. Hơn nữa, trong xu thế hội nhập hiện nay, cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, tri thức ngày càng trở thành động lực phát triển mang tính chất quyết định của nền kinh tế mới - kinh tế tri thức, các nhân tố sản xuất truyền thống như đất đai, tiền vốn, nhà xưởng, máy móc là rất quan trọng nhưng đã tụt dần xuống hàng thứ hai. Con người với khả năng nắm giữ kiến thức đang trở thành nhân tố so sánh lớn nhất và yêu cầu họ không chỉ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao mà phải có sức khoẻ, ý thức tổ chức kỷ luật tốt và tác phong công nghiệp. Nhân tố con người trở thành mũi nhọn quyết định sức mạnh cạnh tranh của mối quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu. Chính vì vậy, việc làm rõ vấn đề con người có thể đóng góp như thế nào cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và làm sao để con người trở thành động lực, tức là xem xét con người từ góc độ phát triển nguồn nhân lực là vấn đề cấp thiết đang đòi hỏi nghiên cứu từ khía cạnh lý luận và thực tiễn. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải có đội ngũ lao động có chất lượng ngày càng cao, cơ cấu lao động hợp lý. Thực tiễn đòi hỏi cần phải nghiên cứu thực trạng, đề ra định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực một cách thiết thực. Do vậy, việc chọn nghiên cứu đề tài “Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam” là nhằm góp phần giải quyết vấn đề bức thiết nói trên. 3 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam nói chung và trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước cũng như của một số cơ quan hoạch định chính sách của Việt Nam. Điển hình là các công trình nghiên cứu sau: - Một số vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 - 2020. Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 1999. - Phạm Minh Hạc (chủ biên), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996. - Nguyễn Văn Lê, Phát triển khoa học về con người trong hoạt động kinh tế - xã hội, Tạp chí Cộng sản, số 3, 01/2003. - Trần Tiến Cường, Phát triển kinh tế và đổi mới doanh nghiệp với vấn đề giải quyết lao động, việc làm và phát triển nguồn nhân lực, NXB Thế giới, 2001. - Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân (chủ biên), Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Khoa học xã hội, 2004. - Vũ Bá Thể, Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Lao động - xã hội, 2005. - Vũ Minh Mão, Hoàng Xuân Hoà, Dân số và chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế, Tạp chí Cộng sản, số 10, tháng 5/2004. 4 - Geoffey Hainsworth, Phát triển nguồn nhân lực: đáp ứng thách thức của quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ và một “nền kinh tế dựa trên những hiểu biết mới”, NXB Thế giới, 2001. - Asian Development Bank (1991), Human Resourse Policy & Ecconomic Development (Selected country Studies), Printed in the Philipin. - Toàn cầu hoá chuyển đổi và phát triển tiếp cận đa chiều, NXB Thế giới, 2005. - Phạm Thái Hưng, Sức ép hội nhập và sự sẵn sàng hội nhập của Việt Nam. NXB Thế giới, 2004. - Ngô Doãn Vịnh (chủ biên), Chiến lược phát triển bàn về tư duy và hành động có tính chiến lược, NXB Chính trị quốc gia, 2007. - Lê Văn Toan, Lao động, việc làm trong xu thế toàn cầu hoá, NXB Lao động - xã hội, 2007. Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là một vấn đề có nội dung và phạm vi rộng. Các công trình trên chỉ đề cập các giác độ liên quan, chưa nghiên cứu vấn đề một cách tổng thể, hoặc các tác giả đưa ra các giải pháp cho từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này một cách hệ thống từ góc độ khoa học kinh tế chính trị, đưa ra những định hướng và giải pháp thích hợp với tình hình mới là hết sức cần thiết. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu . Mục đích Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chủ yếu về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay, luận văn đưa ra quan điểm định 5 hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới. . Nhiệm vụ Để đạt được mục đích trên, đề tài giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau đây: - Hệ thống hoá, phân tích và góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận chủ yếu về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. - Phân tích đánh giá đúng thực trạng phát triển nguồn nhân lực hiện nay và tác động của nó đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. - Đưa ra quan điểm định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực phục vụ một cách hiệu quả quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu nguồn nhân lực của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Luận văn tập trung nghiên cứu về nguồn nhân lực của Việt Nam từ giác độ của khoa học kinh tế chính trị trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là trong những năm gần đây. 5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: trừu tượng hoá khoa học, logic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh… 6. Những đóng góp mới của luận văn - Hệ thống hoá và góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận chủ yếu về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. 6 - Phân tích và đưa ra đánh giá khách quan về thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian qua. - Đưa ra các giải pháp thiết thực góp phần phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới. 7 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết. Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Chương 3: Quan điểm định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam thời gian tới. 8 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1. Lý luận chung về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 1.1.1. Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 1.1.1.1. Những khái niệm cơ bản • Nguồn nhân lực Nguồn lực được hiểu một cách chung nhất là khả năng cung cấp các yếu tố cần thiết được huy động cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước. Đó là những nguồn lực vật chất như nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực tài chính và nguồn lực con người. Nguồn nhân lực được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau phụ thuộc vào các giác độ nghiên cứu. Theo khái niệm rộng nguồn nhân lực chỉ con người với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường, không bị khiếm khuyết và dị tật bẩm sinh. Theo khái niệm hẹp thì nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng hợp các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu như vậy nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động và những người ngoài độ tuổi lao động, thực tế có tham gia lao động . Có một cách hiểu hẹp hơn nữa về nguồn nhân lực là yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động cuả xã hội bao gồm nhóm dân cư 9 trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Cách nhìn này cho thấy nguồn nhân lực chính là nguồn lao động và nguồn lao động sẽ bao gồm dân số trong độ tuổi lao động. Theo tổ chức lao động quốc tế: Lực lượng lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp. Các cách hiểu trên về nguồn nhân lực, nguồn lao động, lực lượng lao động chỉ khác nhau về xác định quy mô nguồn lực con người, nhưng có một điểm chung là đều nói lên khả năng lao động của xã hội. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó. Số lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào quy mô dân số, tốc độ tăng, tỷ lệ giảm dân số của một quốc gia, tỷ lệ những người trong độ tuổi lao động, . Quy mô nguồn nhân lực ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực: thể lực, trí lực và tâm lực. Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trình độ phát triển kinh tế, phản ánh sự phát triển về mặt đời sống xã hội, chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là nguồn lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định. • Phát triển nguồn nhân lực Cho đến nay chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm phát triển nguồn nhân lực. Tuỳ theo mục tiêu cụ thể mà có thể có những nhận thức khác nhau để đưa ra khái niệm về phát triển nguồn nhân lực. Cụ thể như: Tổ chức UNESCO cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực được đặc trưng bởi toàn bộ sự lành nghề của dân cư trong mối quan hệ với sự phát triển của đất 10 nước. Nhưng tổ chức lao động quốc tế (ILO) lại đưa ra khái niệm phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh ngành nghề hoặc ngay cả việc đào tạo nói chung. Quan niệm này dựa trên cơ sở nhận thức cho rằng con người có nhu cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả cũng như sự thoả mãn về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung nâng cao kiến thức trong quá trình sống và làm việc nhằm đáp ứng những kỳ vọng của con người. Định nghĩa trong Báo cáo phát triển con người toàn cầu của chương trình phát triển Liên hiệp Quốc (UNDP) cho rằng: phát triển con người là “quá trình mở rộng sự lựa chọn cho con người. Điều quan trọng nhất của phạm vi lựa chọn rộng lớn đó là để con người sống một cuộc sống lâu dài và khoẻ mạnh, được giáo dục và được tiếp cận đến các nguồn lực cần thiết cho một mức sống cao” [17, tr.1]. Với các quan niệm như vậy, phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực. Như vậy, dù có diễn đạt khác nhau, song các khái niệm trên đều đưa ra được phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia hiệu quả vào quá trình phát triển một quốc gia. Hay nói một cách khác phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ kinh tế, xã hội và sự hoàn thiện của bản thân con người. Điều đó có nghĩa là phát triển nguồn nhân lực xã hội là khái niệm được hiểu ở góc độ hoàn thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và điều chỉnh hợp lý số lượng nguồn nhân lực. Để có thể phát triển nguồn nhân lực, xét từ góc độ vĩ mô của nền kinh tế, phải có các cơ chế, chính sách tác động vào nguồn nhân lực. Có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực xã hội là tổng thể các cơ chế chính sách và biện pháp hoàn 11 thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xã hội (trí tuệ, thể chất, phẩm chất tâm lý - xã hội) và điều chỉnh hợp lý về số lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Chính vì vậy, phát triển nguồn nhân lực luôn luôn là động lực thúc đẩy sự phát triển và tác động đến toàn bộ đời sống xã hội. Kinh nghiệm của nhiều nước công nghiệp hoá trước đây đã chỉ ra phần lớn thành quả phát triển không phải nhờ nguồn tài chính kếch xù mà nhờ những hoàn thiện trong năng lực của con người, sự tinh thông, bí quyết nghề nghiệp và quản lý. Đầu tư cho phát triển con người là vấn đề liên ngành, đa lĩnh vực và tác động đến đời sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng của họ và đến toàn bộ xã hội nói chung. 1.1.1.2. Thước đo đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà còn phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, nguồn nhân lực của một quốc gia có chất lượng cao chứng tỏ quốc gia đó phát triển và thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định. Để có cơ sở phân tích sự phát triển nguồn nhân lực cần hiểu rõ một số chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực sau đây: - Chỉ tiêu phản ánh tình hình sức khoẻ của dân cư: Sức khoẻ là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài cơ thể con người, giữa thể chất và tinh thần. Có rất nhiều chỉ tiêu biểu hiện trạng thái về sức khoẻ, Bộ y tế nước ta quy định có 3 loại như sau: Loại A: thể lực tốt, không có bệnh tật gì 12 Loại B: thể lực trung bình Loại C: thể lực yếu không có khả năng lao động (Các loại A, B, C sẽ được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn về thể lực như: chiều cao, cân nặng, vòng ngực; mắt, tai, mũi, họng; răng hàm mặt; ngoại khoa; thần kinh; da liễu.) Bên cạnh việc đánh giá trạng thái sức khoẻ của người lao động, người ta còn nêu ra các chỉ tiêu đánh giá sức khoẻ của quốc gia thông qua: Tỷ lệ sinh thô, chết thô, tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ sinh thấp cân của trẻ em... - Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hoá của người lao động: số người biết chữ, không biết chữ; số người có trình độ học tiểu học, phổ thông cơ sở và phổ thông trung học. - Chỉ tiêu người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật: Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó, nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. Do đó trình độ chuyên môn nguồn nhân lực đo bằng: + Tỷ lệ cán bộ trung cấp; + Tỷ lệ cán bộ cao đẳng, đại học; + Tỷ lệ cán bộ trên đại học. Trong mỗi chuyên môn có thể phân chia thành những chuyên môn nhỏ hơn như: kỹ thuật, kinh tế, ngoại ngữ... thậm chí trong từng chuyên môn lại chia thành những chuyên môn nhỏ hơn. Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng để chỉ trình độ của người đã được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhất định, kỹ năng thực hành về công việc nhất định. Trình độ kỹ thuật được thể hiện thông qua các chỉ tiêu: 13 + Số lao động được đào tạo và lao động phổ thông; + Số người có bằng kỹ thuật và không có bằng; + Trình độ tay nghề theo bậc thợ. Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường được kết hợp chặt chẽ với nhau, thông qua chỉ tiêu số lao động được đào tạo và không đào tạo trong từng tập thể nguồn nhân lực. - Chỉ số tổng hợp phát triển con người - HDI (Human Development Index): Chỉ số này xác định bởi các chỉ tiêu: + Tuổi thọ bình quân + Thu nhập bình quân trên đầu người (GDP/người) + Trình độ học vấn (tỷ lệ biết chữ và số năm đi học trung bình của dân cư) Chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặt kinh tế mà còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống và sự công bằng, tiến bộ xã hội. - Chỉ tiêu thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với giáo dục và đào tạo: tỷ lệ % ngân sách giành cho giáo dục và đào tạo so với tổng ngân sách, tỷ lệ % ngân sách giành cho giáo dục và đào tạo so với GDP. 1.1.1.3. Những nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực Xuất phát từ khái niệm phát triển nguồn nhân lực mang tính chất tổng hợp nên các yếu tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực như: biến đổi số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực khá đa dạng và phân theo những nhóm cơ bản như sau: - Chăm sóc sức khoẻ: Trong lao động sản xuất, con người vận dụng kết hợp cả thể lực và trí lực. Thể lực là sức mạnh cơ thể, cơ bắp đảm bảo về mặt sinh học cho sự tiêu hao sức lao động của con người trong lao động sản xuất. Trí lực là sức mạnh tư duy, trí tuệ là cái có ý nghĩa quyết định nhất chất lượng của yếu 14 tố con người trong quá trình tạo ra sản phẩm vật chất. Tuy thể lực không phải là yếu tố chủ chốt quyết định chất lượng lao động của con người nhưng rõ ràng không có thể lực tốt thì con người cũng khó phát triển năng lực sáng tạo trong sản xuất, vì thế vấn đề chăm sóc sức khoẻ nói chung, đảm bảo dinh dưỡng và phát triển y tế nói riêng có tác động hết sức quan trọng đối với phát triển nguồn nhân lực. - Giáo dục và đào tạo: Giáo dục và đào tạo là nền tảng của sự phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của cả một thế hệ hiện tại và mai sau. Đào tạo và bồi dưỡng nhân tài đạt chất lượng cao là thể hiện sự thành công của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình đổi mới. - Văn hoá truyền thống dân tộc, mối quan hệ xã hội và gia đình: Mỗi quốc gia nói chung hay mỗi một địa phương nói riêng đều có nét văn hoá đặc trưng và có các mối quan hệ xã hội rất khác nhau, điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển nguồn nhân lực của địa phương hay quốc gia đó. Để phát triển nguồn nhân lực một cách đồng bộ và có hệ thống Chính phủ phải định hướng phát triển một xã hội hài hoà, tạo được khối đoàn kết đa văn hoá, đa sắc tộc, đưa quyền lợi của người lao động lên hàng đầu, giảm sự phân biệt giàu nghèo, màu sắc dân tộc. Đồng thời phát huy bản sắc dân tộc của quốc gia hay thế mạnh văn hoá của từng địa phương để người lao động nhận thức được quyền lợi, nghĩa vụ của chính mình góp sức vào quá trình phát triển của xã hội. - Việc làm, trả công lao động, thu nhập và mức sống: Hiện nay, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm còn cao nên chúng ta đang tập trung giải quyết việc làm đầy đủ cho toàn dân, nhưng về lâu dài vẫn phải tính đến giải quyết “việc làm hợp lý” để đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội ngày càng cao hơn. Do sự tác động của cung - cầu về lao động, đặc biệt là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hiện 15 tượng thất nghiệp và thiếu việc làm là không tránh khỏi, nó phản ánh một thực tế của quá trình sắp xếp lại của một cấu trúc kinh tế xã hội mới. Thực tế đòi hỏi phải có chính sách, giải pháp đồng bộ để hạn chế thất nghiệp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, chênh lệch thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội đang có xu hướng tăng lên trên bình diện cả nước. Điều này cũng cho thấy khi nền kinh tế thị trường phát triển thì kéo theo là sự phân tầng về thu nhập mức sống của người dân. Sự phân hoá giàu nghèo ở mức độ cao sẽ có những tác động tiêu cực đến phát triển nguồn nhân lực. Bởi lẽ một bộ phạn dân cư rơi vào tình trạng nghèo tuyệt đối sẽ không có điều kiện để duy trì thể lực cần thiết, không có khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục, theo đó là sự nảy sinh của tệ nạn xã hội. Điều đó tác động xấu đến phát triển nguồn nhân lực trong cả ngắn hạn và dài hạn. Sự nghèo đói tuyệt đối và tương đối ở mức cao sẽ dẫn tới những bất ổn về xã hội, vì vậy tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế xã hội nói chung, phát triển nguồn nhân lực nói riêng. Sự gia tăng của mức thu nhập cũng kéo theo sự thay đổi trong cơ cấu chi tiêu của hộ gia đình, tỷ lệ chi tiêu cho nhu cầu như: ăn uống, may mặc giảm đi để thay vào đó là tỷ lệ chi cho việc mua sắm xây dựng nhà cửa và văn hoá giáo dục tăng nhanh. Mức thu nhập được cải thiện cũng tác động làm giảm đi tình trạng nghèo đói của các hộ gia đình. Cứ tính được thu nhập bình quân đầu người của một quốc gia thì xét trên góc độ nào đó đã đo lường được kết quả và đánh giá các thành tựu phát triển kinh tế gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng dân số. Mức sống được đo bằng giá trị GDP đầu người, GDP đầu người được tính dựa trên hai yếu tố: tổng sản phẩm trong nước và dân số trung bình. - Tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là điều kiện tiền đề để nâng cao thu nhập và mức sống dân cư, và vì vậy là tiền đề để phát triển nguồn nhân lực. Tăng trưởng kinh tế cao là cơ sở để tăng tích luỹ, đầu tư, thúc đẩy tái sản xuất theo chiều rộng và theo chiều sâu. Đẩy mạnh tái sản xuất sẽ thúc 16 đẩy phát triển nguồn nhân lực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế quyết định tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động. Bởi lẽ, khi tốc độ tăng trưởng cao về kinh tế, yêu cầu tốc độ chuyển dịch lao động cũng phải tăng cao để đảm bảo cung cấp lao động cho các ngành nhằm đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đồng thời, khi tăng trưởng kinh tế cao, sẽ tạo điều kiện thuận lợi để chuyển dịch cơ cấu lao động theo trình độ, theo ngành, vùng kinh tế nhanh hơn do chuyển dịch cơ cấu kinh tế và do tốc độ phát triển kinh tế đòi hỏi và quyết định. Phát triển nguồn nhân lực chủ yếu là những tiến bộ về chất lượng nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ hoặc mỗi tổ chức. Ngoài yếu tố chất lượng sức lao động của mỗi cá nhân đang sống và làm việc, chất lượng nguồn nhân lực còn phụ thuộc vào cơ cấu của đội ngũ lao động về ngành nghề, trình độ kỹ thuật, năng lực tổ chức, quản lý và khả năng phối hợp hành động để đạt mục tiêu đề ra. Một cơ cấu nhân lực hợp lý và tổ chức hoạt động tốt sẽ có tác động cộng hưởng làm tăng sức mạnh của tổ chức và cá nhân để thực hiện mục tiêu đề ra. Ngược lại, nếu cơ cấu không hợp lý, không đồng bộ và tổ chức quản lý hoạt động không tốt sẽ không phát huy được tác dụng cộng hưởng mà đôi khi còn làm giảm sức mạnh của tổ chức đó và triệt tiêu hoạt động của từng cá nhân. Do đó, phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ và mỗi tổ chức phải chú ý lựa chọn một cơ cấu hợp lý và phù hợp với yêu cầu và trình độ phát triển của mỗi giai đoạn. - Điều tiết sự gia tăng dân số: Tỷ lệ sinh đẻ gây ảnh hưởng lớn đến nguồn nhân lực, trên thế giới có rất nhiều quốc gia thuộc nhóm nước có dân số già do xu thế phụ nữ không muốn sinh con, nếu sinh thì số lượng chỉ là 01. Trong khi đó đa số các nước đang phát triển thì thuộc nhóm nước có dân số trẻ do tỷ lệ sinh quá cao, ví dụ như Trung Quốc, Việt Nam… Các quốc gia này buộc phải đưa ra biện pháp bắt buộc mỗi gia đình sinh đẻ trong tiêu chuẩn. Vì vậy, vấn đề điều 17 tiết sinh đẻ và chăm sóc sức khoẻ sinh sản là một trong những chiến dịch của các quốc gia nhằm cân đối cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động để phát triển kinh tế xã hội. 1.1.1.4. Vai trò của phát triển nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế xã hội của đất nước Vai trò của phát triển nguồn nhân lực được thể ở một số nội dung chủ yếu sau: - Thứ nhất, đảm bảo cơ cấu lao động hợp lý để nâng cao năng suất lao động Để đảm bảo cho nền kinh tế ổn định và tăng trưởng nhanh thì cơ cấu lao động phải hợp lý. Mục tiêu của phát triển nguồn nhân lực là tạo ra cơ cấu lao động hợp lý, đảm bảo tăng lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ lên tuyệt đối và tương đối, giảm lao động trong ngành nông nghiệp xuống tuyệt đối và tương đối. Sự biến đổi về cơ cấu lao động theo cơ chế thị trường là tăng lao động khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tăng lao động xuất khẩu giảm tỷ lệ thất nghiệp, khuyến khích sự phát triển trong khu vực kinh tế tư nhân. Như vậy, việc phát triển nguồn nhân lực là một cuộc cải cách mạnh mẽ về cơ cấu lao động của một quốc gia đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Năng suất lao động là sức mạnh của cạnh tranh trong xu thế hội nhập, quyết định sự tiến bộ xã hội của mọi thời đại. Phát triển nguồn nhân lực sẽ hình thành cơ cấu lao động hợp lý có trình độ chuyên môn cao để nâng cao năng suất lao động trong các lĩnh vực của nền kinh ế quốc dân. - Thứ hai, đảm bảo số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển nguồn nhân lực sẽ tạo ra đội ngũ những người lao động có chuyên môn kỹ thuật đủ về số lượng và cao về chất lượng phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. 18
- Xem thêm -