Tài liệu Phát triển ngành chè ở tỉnh thái nguyên luận văn ths. kinh tế

  • Số trang: 91 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 320 |
  • Lượt tải: 1
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ _________________________ NGUYỄN THI ̣HUYỀN PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI, 2010 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ................................................................................................................................... 1 Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ ..................... 5 1.1. Một số vấn đề lý luận chung .......................................................................... 5 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm ngành chè .............................................................. 5 1.1.2. Vai trò của ngành chè .................................................................................. 9 1.1.3. Điều kiện và nội dung phát triển ngành chè ............................................. 12 1.2. Một số kinh nghiệm phát triển ngành chè trên thế giới và ở Việt Nam ..... 23 1.2.1. Kinh nghiệm của một số nước .................................................................. 23 1.2.2. Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố trong nước................................ 26 1.2.3. Bài học kinh nghiệm đối với Thái Nguyên ............................................... 31 Chƣơng 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN ..................................................................................................................... 35 2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên.......... 35 2.1.1. Điều kiện tự nhiên ..................................................................................... 35 2.1.2. Công nghệ sản xuất ................................................................................... 37 2.1.3. Hệ thống chính sách hỗ trợ ....................................................................... 38 2.1.4. Các nhân tố khác ....................................................................................... 39 2.2. Lịch sử hình thành và phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên ................. 40 2.2.1. Thời kỳ trước năm 1882 ............................................................................ 40 2.2.2. Thời kỳ Pháp thuộc (từ năm 1882-1945) .................................................. 41 2.2.3. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 ...................................................... 41 2.2.4. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay ................................................................ 41 2.3. Tình hình phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay ..................... 42 2.3.1. Trồng và chăm sóc cây chè nguyên liệu ................................................... 42 2.3.2. Chế biến chè .............................................................................................. 47 2.3.3. Mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ.................................................. 51 2.4. Đánh giá chung và vấn đề đặt ra ................................................................. 54 2.4.1. Những thành tựu và nguyên nhân ............................................................. 54 2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân ........................................................................... 55 2.4.3. Vấn đề đặt ra ............................................................................................. 56 Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY ..................................................................................... 58 3.1. Quan điểm, định hướng phát triển ngành chè ở Thái Nguyên ..................... 58 3.1.1. Bối cảnh..................................................................................................... 58 3.1.2. Quan điểm, định hướng phát triển ngành chè tỉnh Thái Nguyên .............. 60 3.2. Những giải pháp chủ yếu phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên ........... 63 3.2.1. Giải pháp về mở rộng và nâng cao chất lượng chè nguyên liệu ............... 63 3.2.2. Giải pháp cho khâu chế biến chè .............................................................. 67 3.2.3. Giải pháp nâng cao hoạt động tiêu thụ chè ............................................... 71 3.2.4. Giải pháp về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phát triển ngành chè tỉnh Thái Nguyên ..................................................................... 75 KẾT LUẬN ............................................................................................................................. 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 82 PHỤ LỤC.............................................................................................................. 87 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thái Nguyên là một tỉnh miền núi nằm ở vùng trung du Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên là 3.541,1km2, chiếm 1,08% diện tích và 1,34% dân số cả nước. Thái Nguyên là đầu mối giao lưu kinh tế giữa thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc có do đó vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của đất nước. Đặc biệt Thái Nguyên có vị trí và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc trồng và phát triển cây chè. Chè là loại cây công nghiệp dài ngày được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung Tây Nguyên, đặc biệt là ở tỉnh Thái Nguyên. Sản xuất chè trong nhiều năm qua đã đáp ứng được nhu cầu về chè uống cho nhân dân, đồng thời còn xuất khẩu đạt kim ngạch hàng chục triệu USD mỗi năm. Tuy có những thời điểm giá chè xuống thấp làm cho đời sống người dân trồng chè gặp nhiều khó khăn, nhưng nhìn tổng thể cây chè vẫn là cây giữ vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân nói chung và sự phát triển kinh tế ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng, góp phần tạo việc làm và bảo vệ môi sinh. Vì vậy, phát triển ngành chè là vấn đề đang được coi trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên. Trước yêu cầu phát triển kinh tế, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, để tồn tại và phát triển vững chắc ngành chè phải có những giải pháp mới phù hợp. Việc phân tích đánh giá thực trạng nhằm làm rõ những thành tựu và hạn chế của ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên cũng như đề xuất một số định hướng và giải pháp phát triển ngành chè là hết sức cần thiết. Vì vậy, với vai trò là giảng viên của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tác giả mong muốn bằng sự nghiên cứu của mình góp phần nhỏ vào việc phát triển ngành chè bằng việc chọn đề tài “Phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên” làm luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị. 1 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong những năm gần đây đã có nhiều bài viết, nhiều đề tài nghiên cứu về cây chè và ngành sản xuất chè được công bố trên các sách báo, tạp chí. Đề tài nghiên cứu khoa học: “ Định hướng - giải pháp phát triển sản xuất chè đến năm 2010” của TS. Nguyễn Kim Phong - Tổng Giám đốc công ty chè Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trong công trình nghiên cứu của mình tác giả đã đưa ra kiến nghị đối với Nhà nước về tổ chức, quản lý và chính sách khuyến khích sản xuất chè ở nước ta. Tuy nhiên do đề tài nghiên cứu vấn đề thuộc vĩ mô, nên tác giả chưa đề cập sâu những giải pháp nhằm phát triển ngành chè ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đề tài khoa học cấp bộ: “Sản xuất và xuất khẩu chè - Thực trạng và giải pháp” của PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc. Tác giả đưa ra việc triển khai đồng bộ nhằm thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu chè. Công trình đã hoàn thành từ năm 2001. Từ đó đến nay, cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nền kinh tế nước ta cả lực lượng sản xuất và thể chế kinh tế đã có rất nhiều chuyển biến. Do vậy những giải pháp tác giả đưa ra đến nay phần nào không còn phù hợp. “Thực trạng và giải pháp phát triển ngành chè”, kỷ yếu hội thảo do Hiệp hội chè Việt Nam tổ chức vào ngày 7/9/2005. Trong cuộc hội thảo này nhiều bất cập của ngành chè đã được bàn kỹ. Tuy nhiên, giải pháp cụ thể để giải quyết việc phát triển ngành chè như thế nào thì chưa được đề cập nhiều. Trong Luận văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị “Phát triển ngành chè Việt Nam trong quá trình hội nhập Kinh tế quốc tế”, tác giả Nguyễn Thị Thu Nga đã phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của ngành chè Việt Nam trong những năm qua, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phát triển ngành chè tốt hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhưng tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát triển ngành chè Việt Nam nói chung. 2 Đáng chú ý là tác phẩm “Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp chế biến chè ở nước ta” của tác giả Ngô Lê Dũng đã đưa ra khái niệm và một số những vấn đề của công nghiệp chế biến chè. Trong tác phẩm này, tác giả đã đặc phân tích những giải pháp nhằm phát triển công nghiệp chế biến chè trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. Ngoài các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên còn có nhiều bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tạp chí Người làm chè… Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến một số giải pháp của ngành chè ở Việt Nam ở những khía cạnh và những mức độ khác nhau. Những tài liệu đó giúp tác giả tham khảo để thực hiện luận văn. Vì vậy, đề tài “Phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên” là một vấn đề không không có sự trùng với các công trình đã được công bố và có tính ứng dụng thực tiễn cao. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục đích Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên trong trong giai đoạn hiện nay, đề tài xác định những phương hướng phát triển và các giải pháp phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên trong những năm tới. * Nhiệm vụ Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau: - Làm rõ khái niệm, đặc điểm của ngành chè, qua đó xác định vai trò của sự phát triển ngành chè. - Phân tích thực trạng phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay, những thành tựu và những vấn đề đặt ra. - Xác định phương hướng và những giải pháp phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên trong những năm tới. 3 4. Đối tƣợng nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động của ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay. Đề tài lấy việc đưa ra và luận giải phương hướng và các giải pháp chủ yếu phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên trong những năm tới làm đối tượng nghiên cứu. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện luận văn tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là phương pháp biện chứng duy vật, trừu tượng hoá khoa học, logic - lịch sử. Ngoài ra, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của kinh tế học, như phương pháp phân tích, tổng hợp, mô hình hoá, hệ thống, phương pháp so sánh,… trong quá trình nghiên cứu nhằm thực hiện tốt mục tiêu đề ra. 6. Đóng góp của luận văn Đưa ra sự phân tích toàn diện thực trạng của ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên. Đưa ra một số kiến nghị, đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên trong những năm tới. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về phát triển ngành chè. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên. Chƣơng 3: Phương hướng, giải pháp phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay. 4 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ 1.1. Một số vấn đề lý luận chung 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm ngành chè 1.1.1.1. Khái niệm - Khái niệm chè: Theo từ điển bách khoa Việt Nam, chè (Camellia sinensis) là cây công nghiệp nhiệt đới và cận nhiệt đới, lá dùng để pha nước uống (gọi là trà hay chè). Nguồn gốc cây chè ở rừng mưa nhiệt đới Tây Tạng và Bắc Việt Nam (ở tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang có rừng chè cổ thụ cao tới 15-20m, đường kính thân tới 1m, tán rộng 8m). Hiện nay, chè được trồng rộng rãi ở Trung Quốc, Đông Nam Á, Ấn Độ, Srilanca, Châu Phi, Đông và Nam Âu (Gruzia), vùng Kraxnôđa (Liên bang Nga), Nam Mĩ, Ôxtrâylia và đã trở thành nước uống phổ biến trên thế giới. Chè là thức uống được dùng từ 4700 năm trước đây. Trong lá và búp chè có đường, pectin, tinh dầu, ancaloit (chủ yếu là caferin), protein và axit amin. Chè kích thích tiêu hoá và bài tiết, lợi tim mạch và hô hấp, cung cấp vitamin, phòng sâu răng, kích thích khả năng lao động. Cây chè thường được trồng thành cây nhỡ (để dễ hái), lá mọc cách, có răng cưa. Hoa đều, lưỡng tính, màu trắng, mọc 1-3 hoa ở kẽ lá, đài và tràng xoắn ốc, có 5-7 cánh, nhị đực rất nhiều, nhị cái ba tâm bì hợp thành bầu trên với ba ô, ba vòi. Quả nang có ba ngăn, mỗi ngăn có một hạt không nội nhũ. Cây chè ưa nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 13-230C (chè Shan vùng núi cao: 15-200C, chè trung du và các chủng tương tự: 20-250C), nhiệt độ tối thấp tuyệt đối: -50C (chè Shan), 00C (chè Trung Du). Độ ẩm không khí 85-90%, không dưới 70%. Lượng mưa 1500-2400mm/năm, 100mm/tháng, có 1-2 tháng khô hanh. Cây chè cần bóng mát nhẹ ở giai đoạn đầu. Đất trồng chè hơi chua (pH 4-6, tốt nhất 5-5,5); tầng đất dày trên 60cm, nước ngầm dưới 1m vào mùa mưa, mùn 1-2%. 5 Các giống (chủng) chè ở Việt Nam: chè Shan (chè núi, chè tuyết) trồng ở núi cao trên 600m ở Bắc Bộ, trên 1000m ở Nam Tây Nguyên. Từ chè Shan người ta chế thành chè mạn, chè xanh, chè đen chất lượng cao. Chè Trung Du trồng phổ biến ở các tỉnh: Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ An, Hà Tĩnh… Ngoài ra, còn có các chủng: Assam, Manipur… và các chủng được chọn lọc như PH1 (của trại Phú Hộ), TB 11,14 (gốc từ Trấn Ninh, chọn lọc ở Bảo Lộc Lâm Đồng), có thể trồng bằng hạt, ươm cây con hoặc giâm cành. Năng suất chè trưởng thành (6 năm sau khi trồng) là 1000-1200kg chè khô/1ha. Sản lượng chè thế giới khoảng 2 triệu tấn/năm. Lá cây chè được dùng tươi hoặc sau khi chế biến để pha chế thành thức uống (nước chè). Chè tươi là lá chè được dùng nguyên hay vò cho gãy lá, rửa kỹ, nấu nước uống (nước chè tươi có màu xanh, vàng, nhiều vitamin). Chè búp khô (còn gọi là trà) được chế biến theo nhiều dạng: chè xanh, búp chè để héo, vò, sao trên chảo nóng, phơi khô (khi pha cho màu xanh, nhiều vitamin C); chè Tàu - loại chè xanh được chế biến ở Trung Quốc; Chè đen - búp chè để héo, vò, ủ lên men và sấy khô (khi pha nước có màu nâu hồng), được ưa chuộng ở Âu - Mĩ, dùng nóng với đường và chanh. Chè hoà tan là dạng phổ biến mới, chiết chè đen hoặc chè xanh bằng nước nóng 80-880C, xúc tác bằng KMnO4 0,05%, lọc rồi cô trong chân không. Ở một số địa phương Việt Nam có chè mạn chế bằng búp chè kèm theo nhiều lá già, qua ủ men (Ví dụ: chè mạn Hà Giang). Chè hương - chè ướp hương hoa sen, nhài, mộc, ngâu… Chè nụ chế từ nụ phơi khô (nước có màu nâu). - Khái niệm ngành chè: Ngành chè là tổng thể các đơn vị kinh tế sản xuất chè, nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội, không phân biệt nằm trên địa bàn lãnh thổ và thuộc cấp chính quyền quản lý. Ngành chè được đặc trưng bởi đặc tính và công dụng của sản phẩm chè tạo ra, tính chất và đặc điểm của quá trình công nghệ, chức năng và vị trí của nó trong quá trình tái sản xuất. 6 Ngành chè bao gồm ba khâu: trồng và chăm sóc cây chè nguyên liệu, chế biến chè và tiêu thụ chè. Ba khâu trên có quan hệ nhân quả, hợp thành một hệ thống hữu cơ, hoàn chỉnh không được chia cắt đối lập nhau. Trồng và chăm sóc cây chè nguyên liệu là khâu đầu tiên và cũng là khâu quan trọng nhất trong việc phát triển ngành chè. Để khâu này đạt hiệu quả cao thì phải chọn giống chè tốt, phù hợp và áp dụng đúng kỹ thuật trồng. Giống chè tốt là giống chè có khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng cao, thích ứng mạnh với điều kiện đất trồng của địa phương. Khi có giống chè tốt thì khâu kỹ thuật phải đúng tùy thuộc vào mỗi chủng loại chè, mỗi vùng, mỗi địa phương. Chế biến chè là khâu thứ hai. Đây là khâu quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng chè, đến hương và vị chè. Mục đích của chế biến chè là duy trì và phát huy chất lượng vốn có của lá chè, hạn chế tối đa sự tiêu hao. Nếu chế biến không tốt làm chè sản phẩm mắc khuyết tật sẽ làm giảm giá trị ban đầu của búp chè đã có; sản phẩm làm ra khó được thị trường, khách hàng chấp nhận. Chè sản phẩm và chè nguyên liệu có nhiều tính chất khác nhau. Chế biến chè là khâu dễ gây ra khuyết tật nhất cho sản phẩm chè. Ngoài các yếu tố về đặc tính của giống chè ra, sự khác nhau này là do sự chuyển hóa các chất trong thành phần hóa học của chè trong các quá trình chế biến bằng các biện pháp công nghệ. Có nhiều yếu tố tạo ra sự chuyển hóa các chất có trong chè, nhưng hai yếu tố giữ vai trò chủ yếu là: (1) Hệ enzim có sẵn trong lá chè tươi, (2) Nhiệt và ẩm được sử dụng trong quá trình chế biến chè. Khâu cuối cùng là khâu tiêu thụ chè. Thị trường tiêu thụ chè có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của ngành chè. Vì thế, ngành chè luôn cố gắng chăm lo cho công tác thị trường, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, củng cố mối quan hệ bạn hàng có sẵn và ra sức tìm kiếm thị trường mới. Thị trường chè được phân ra thành ba loại: Thứ nhất, loại thị trường tiêu thụ (consumption market), phần lớn trà nhập khẩu tiêu thụ tại chỗ; việc tái xuất hay tái chế biến chỉ có hạn. Thứ hai, loại thị trường kinh tiêu 7 (distribution market), chuyên kinh doanh tiêu thụ. Thứ ba loại thị trường điều khiển (managed market), chè nhập khẩu và kinh doanh tiêu thụ đều nằm trong tay điều hành của Chính phủ hay người đại lý. 1.1.1.2. Đặc điểm ngành chè Thứ nhất: Ngành chè có liên quan nhiều đền truyền thống và văn hoá, trở thành đặc trưng riêng là văn hóa chè. Uống trà trở thành truyền thống và lối sống văn hoá ở Trung Quốc hay Nhật Bản. Uống trà không chỉ hưởng thụ hương thơm, vị ngọt hay nhằm mục đích cho tỉnh táo, thải độc, chống phóng xạ như nhiều nhà khoa học đã đề cập đến, mà còn mang cả bản sắc của một dân tộc. Ở Việt Nam, uống trà đã trở thành một loại hình nghệ thuật trong nghệ thuật ẩm thực - văn hoá trà đạo. Ở Việt Nam, trà để uống lúc sáng sớm trước khi đi làm, uống sau bữa ăn, uống khi có khách và uống vào buổi tối, ban đêm. Từ gia đình nông thôn đến thành thị, trà chiếm một vị trí trang trọng trong giao tiếp, giáo dục, lễ nghi, cưới xin, ma chay, hội hè, đình đám, thờ cúng phật giáo và tổ tiên. Trà đã đi vào văn học, nghệ thuật, là nguồn cảm hứng trong sáng tác văn thơ, hội họa, ca múa nhạc, điêu khắc, nhiếp ảnh, điện ảnh, truyền hình. Điều đáng tiếc là đến nay, văn hóa trà Việt đang bị phôi phai trong ký ức người Việt cũ và dường như không đọng lại trong ý thức nhiều người trẻ tuổi. Trên thị trường cả ở trong và ngoài nước, những người kinh doanh chè đều chưa phản ánh được tính chất đặc sắc này. Một trong những lý do quan trọng là năng lực cạnh tranh của ngành chè Việt Nam chưa cao, các doanh nghiệp xuất khẩu còn đang mải mê giữ chỗ đứng của mình trên thị trường. Những năm gần đây tại thị trường trong nước đã xuất hiện nhiều quán trà như: Hồng trà, Dilma, trà Lipton nhưng cơ bản mang thương hiệu của nước ngoài. Uống những loại trà này chủ yếu nhằm mục đích sử dụng nhanh, phù hợp với tác phong công nghiệp, chưa mang được nét văn hóa Việt. Điều đó có ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành chè cả trên thị trường trong nước và xuất khẩu. 8 Thứ hai: Ngành chè có thời gian đầu tư kinh doanh dài hơn các ngành khác, bởi chè là cây công nghiệp dài ngày, chu trình sinh trưởng khá lâu, chu kỳ hoạt động kinh tế kéo dài. Thông thường đầu tư cho ngành chè phải trải qua các giai đoạn phát triển sinh học, từ khi trồng đến khi bắt đầu được thu hái phải mất thời gian 3 năm. Thời gian kinh doanh có thể từ 30 đến 50 năm. Cho nên, vốn đầu tư phải phân bổ trong khoảng thời gian kéo dài và theo thời vụ của cây chè. Thêm vào đó, hiệu quả thu hoạch cây chè trong những năm đầu kinh doanh là rất thấp, chỉ được tăng dần trong thời gian sau. Thời gian để hoàn đủ vốn đầu tư xây dựng là khá lâu. Thứ ba: Chịu nhiều rủi ro. Ngành chè phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thiên nhiên và khí hậu. Hơn thế nữa phát triển ngành chè trong các lĩnh vực trồng trọt, cây giống, chăm sóc, cải tạo… diễn ra trong một địa bàn không gian rộng lớn, trên các vùng đồi trung du, miền núi. Điều này làm tăng tính phức tạp trong quản lý và điều hành các công việc. Phát triển ngành chè đòi hỏi phải có hệ thống hạ tầng cơ sở tối thiểu như các viện nghiên cứu, các trung tâm khảo nghiệm, hệ thống thủy lợi, mạng lưới giao thông, hệ thống điện tương thích, các phương tiện thiết bị phù hợp… Các khu công nghiệp chế biến có điều kiện hạ tầng phát triển hơn thường ở xa vùng nguyên liệu, gây tốn kém về chuyên chở và làm giảm chất lượng chè thành phẩm; do chè búp tươi hái về phải chế biến ngay, nếu chậm sẽ làm giảm mạnh chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm. 1.1.2. Vai trò của ngành chè 1.1.2.1. Về phương diện kinh tế - Ngành chè đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Ở nước ta, ngành chè đã góp phần không nhỏ vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cả nước. Thu nhập từ ngành chè hàng năm chiếm 0,2% tổng thu nhập quốc dân và chiếm trung bình khoảng 1,51% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam hàng năm [49]. 9 Bên cạnh đó, thông qua hoạt động xuất khẩu chè trong những năm qua chúng ta không ngừng mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với nhiều bạn hàng quốc tế. Hiện nay, sản phẩm chè Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó thương hiệu “Cheviet” đã được đăng ký và bảo hộ tại 73 thị trường quốc gia và khu vực [49]. Việt Nam hiện đang là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng và xuất khẩu chè chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanca, Kenya. Ngành chè đã góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với nhiều bạn hàng quốc tế. Đặc biệt với một số vùng kinh tế có điều kiện thuận lợi cho phát triển cây chè như Thái Nguyên, Lâm Đồng, Hà Giang... ngành chè chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập quốc dân trên địa bàn. - Ngành chè thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Phát triển ngành chè trực tiếp góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, một trong những nội dung quan trọng của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta hiện nay. Khi ngành chè phát triển, đời sống của đồng bào dân tộc được nâng lên, giúp ổn định cuộc sống, định canh, định cư, hạn chế đi đến xoá bỏ hiện tượng du canh, du cư. Các nhà máy, xí nghiệp chế biến chè được xây dựng đã hình thành các khu dân cư có điện, đường, trường, trạm... trực tiếp thúc đẩy kinh tế cả khu vực cùng phát triển. Mặt khác, trong quá trình phát triển ngành chè, các doanh nghiệp tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại vào các khâu chế biến và tiêu thụ, qua đó giúp đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước ta. 1.1.2.2. Về phương diện văn hoá - xã hội - Phát triển ngành chè góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Chè là loại cây đã đi vào đời sống con người. Uống trà đã trở thành một phong tục tập quán, là sở thích từ lâu đời của nhiều dân tộc trên thế giới. Cũng giống như nhiều nước Châu Á và Đông Nam Á khác, người Việt Nam 10 biết đến trà từ khá sớm. Ấm trà đã trở nên rất quen thuộc, thân thương đối với người Việt Nam từ già tới trẻ, từ thành thị tới nông thôn. Uống trà đã trở thành biểu hiện của văn hóa uống, thành nghệ thuật thưởng thức trà. Trà dù được chế biến, được uống theo cách nào vẫn biểu thị một nét văn hóa độc đáo như trà đạo. Trà còn là phương tiện để giao tiếp. Văn hoá mời trà đã là một ứng xử văn hóa lịch sự, lễ độ và lòng mến khách của chủ nhà. Phong tục đó đã tạo nên một vẻ đẹp đặc trưng với những nét rất riêng mang đậm chất Á Đông. Với “trà tam, rượu tứ” của cổ nhân đã làm cho con người giải tỏa được những lo toan thường nhật, làm phong phú thêm đời sống tinh thần và làm tăng ý nghĩa cho sinh hoạt đời thường, giúp con người xích lại gần nhau, ấm áp thắm đượm tình làng, nghĩa xóm. Nền "văn hóa trà Việt Nam" đã hình thành thật đậm đà bản sắc, tồn tại và tỏa hương trong lịch sử và hiện tại. - Phát triển ngành chè góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Sản xuất chè tập trung ở vùng trung du, miền núi, nơi bà con người dân tộc còn nghèo. Xây dựng các khu sản xuất chè, gồm nông - công nghiệp dịch vụ, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân thiểu số ở các vùng miền núi phía Bắc, trung du Bắc Bộ vùng sâu các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Phát triển của ngành chè đã tạo cơ sở thu hút thêm lao động. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2008, hiện Việt Nam có 6 triệu lao động sống trong vùng chè có thu nhập từ trồng, chế biến và kinh doanh chè. Trong đó đội ngũ làm chè lên tới 3 triệu lao động, chiếm 50% tổng số lao động trong vùng chè. 1.1.1.3. Về phương diện môi trường Sự phát triển của ngành chè giúp phủ xanh đất trống, đồi trọc và bảo vệ môi trường, chống xói mòn. Trồng chè đúng kỹ thuật sẽ tạo ra một thảm thực vật có tác dụng phủ xanh đất dốc đồi núi trọc, xây dựng và bảo vệ môi trường 11 sinh thái [38, tr.23]. Theo quy hoạch đã xác định được 16 tỉnh có khả năng thích hợp nhất để trồng chè, tập trung chủ yếu ở trung du miền Bắc và Tây Nguyên. Hiện nay, trên cả nước có 35/63 tỉnh, thành phố có diện tích trồng chè chủ yếu tập trung ở vùng trung du và miền núi với diện tích trên 131.500 ha [49]. 1.1.3. Điều kiện và nội dung phát triển ngành chè 1.1.3.1. Điều kiện phát triển ngành chè - Về mặt tự nhiên - xã hội: Cây chè là cây trồng nhiệt đới, thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều với hệ số dao động nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm lớn (8-120C). Ngoài ra, độ cao và địa hình cũng ảnh hưởng đến chất lượng của chè. Kinh nghiệm sản xuất chè lâu đời của thế giới cho thấy các loại danh trà chủ yếu được trồng trên miền núi cao, biên độ ngày và đêm, độ ẩm, ánh sáng tán xạ cao. Vì vậy, chỉ có những vùng có điều kiện thiên nhiên ưu đãi mới có thể trồng và phát triển cây chè có chất lượng tốt. Trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu về khí hậu, đất đai, địa hình, nguồn nước của từng vùng ở nước ta cho thấy khả năng thích nghi như sau: Vùng Trung du miền núi Bắc Bộ: Đây là vùng có địa hình phức tạp, được chia cắt bởi những cánh đồng hoặc thung lũng xen giữa những đồi núi. Núi ở đây thường cao và dốc. Vùng này có mùa đông lạnh và khô, nhiệt độ trung bình từ 18 - 230C. Đất đai vùng này chủ yếu là đỏ nâu trên đá vôi, đỏ vàng trên đá đất sét... Đất canh tác phần lớn có bề dày trên 100cm, hàm lượng dinh dưỡng trung bình. Nhìn chung vùng này rất thích hợp với phát triển cây chè. Hạn chế chính của vùng này chính là mùa đông có sương muối, mùa hè chịu ảnh hưởng của gió Lào. Có thể khắc phục hiện tượng này bằng cách tác động vào các biện pháp kỹ thuật như ủ gốc, trồng cây che mát... Vùng Duyên hải miền Trung: 12 Đất đai có thể trồng chè là nhóm vàng đỏ trên đất bazan có nhiều tầng mỏng, độ dốc lớn. Vùng Duyên hải miền Trung là vùng có khí hậu không thuận lợi, đất đai nghèo dinh dưỡng và không có độ dốc phù hợp với sản xuất chè nên năng suất và chất lượng thấp. Đây là vùng không có nhiệt độ thấp, bình quân từ 25-270C, không có mùa đông lạnh. Lượng mưa ảnh hưởng theo đất đai và vĩ tuyến. Chế độ mưa của vùng cũng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, phân bố không đều và trái với mùa sinh trưởng của chè. Mưa nhiều vào mùa xuân là thời điểm lá chè và búp chè hình thành lá non nên ảnh hưởng đến chất lượng chè. Tuy nhiên vẫn có một số tỉnh trồng chè như: Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Bình,... nhưng chất lượng chè không cao và số lượng cũng không nhiều. Vùng Tây Nguyên: Là vùng mang khí hậu nhiệt đới gió mùa. Độ cao từ 700m đến 1500m so với mặt nước biển. Nhiệt độ bình quân hàng năm 230C, lượng mưa trung bình hàng năm là 2000mm. Đất đai có thể trồng chè là đất bazan, đặc biệt là đất nâu vàng trên đá bazan ở Bảo Lộc, Di Linh khá tốt. Hàm lượng mưa phùn và độ ẩm cao. Đất đai và khí hậu ở vùng này rất thích hợp cho việc trồng chè. - Điều kiện về khoa học - kỹ thuật: Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về chất lượng chè ngày càng cao. Vì vậy, nhân tố khoa học - kỹ thuật là rất quan trọng, để đảm bảo được tính ổn định hoàn toàn của các thành phần cũng như loại trừ các vi sinh vật, vi khuẩn và nấm mốc tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trên thế giới. Phát triển ngành chè đòi hỏi một lượng vốn lớn để đầu tư cho các lĩnh vực sản xuất, thiết kế sản phẩm, nghiên cứu triển khai và đổi mới công nghệ, một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao. Trên thực tế cho thấy các sản phẩm có chất lượng cao trên thế giới đều thuộc về các nhà sản xuất có tiềm lực đặc biệt mạnh về vốn, nhân lực và công nghệ. Chẳng hạn như chè 13 Leros, chè Lipton… Các hãng này luôn chiếm một thị phần lớn trên thế giới và được người tiêu dùng ưa chuộng. - Chính sách của Nhà nước trong việc phát triển ngành chè: Chính sách của Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển ngành chè. Thực tế cho thấy ở những nước có trình độ phát triển thấp, Chính phủ chỉ chú trọng đến việc trồng và chế biến chè mà không có chính sách thúc đẩy thị trường tiêu thụ. Sau một thời gian sẽ không tìm được đầu ra cho sản phẩm, ngành chè gặp nhiều khó khăn. Với những nước phát triển, Nhà nước rất quan tâm trồng, chế biến, kinh doanh chè, bảo hộ sản phẩm trong nước và kích thích xuất khẩu, đề ra và thực hiện những chính sách phù hợp để phát triển toàn diện ngành chè. Ngoài ra, trong quá trình toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, các nhà sản xuất trong nước phải đối mặt với sự cạnh tranh thì Chính phủ phải có cơ chế chung để tái phân phối lợi nhuận từ những người được lợi, nhằm tạo sự thống nhất nâng cao sự cạnh tranh và hạn chế sự khó khăn đối với ngành chè. 1.1.3.2. Nội dung phát triển ngành chè - Đối với khâu trồng và chăm sóc cây chè nguyên liệu Công tác trồng mới: Bước quan trọng trước tiên là phải lựa chọn được vùng đất thích hợp, nằm trong quy hoạch đầu tư, có các điều kiện tự nhiên phù hợp với cây chè. Việc lựa chọn vùng đất sản xuất chè nguyên liệu còn tạo điều kiện cơ hội hợp tác - liên kết trong sản xuất, phát triển thành vùng chuyên canh hàng hoá lớn. Đồng thời, tạo sự liên kết sản xuất của các nông hộ trồng chè thành những vùng sản xuất liên hoàn, để công tác cung ứng vốn, vật tư kỹ thuật, máy móc thiết bị... tiến hành thuận lợi. Do đặc điểm của cây chè là chu kỳ sinh trưởng dài từ 30 - 50 năm, có cây trên 100 năm và thời gian kiến thiết cơ bản của cây chè trồng bằng hạt là 3 năm, bằng giâm cành là 2 năm, nên khó thay đổi thường xuyên giống chè, khi thấy không phù hợp. Để hạn chế nhược điểm này, cần chú trọng ngay từ 14 đầu tư vào khâu chọn giống, nghiên cứu kết quả trên các giống phù hợp, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, khâu làm đất, diệt cỏ, trừ hại... Có như vậy, cây chè mới có tiền đề tăng trưởng vững chắc, cho búp to, búp khoẻ. Công tác chăm sóc - thu hái chè: Giai đoạn chăm sóc - thu hái chè là giai đoạn bắt đầu cho sản phẩm. Trong 2 năm đầu, chủ yếu tập trung vào các công đoạn: bón phân, phun thuốc trừ sâu, đốn chè tạo hình, ủ rác giữ ẩm cho chè, phòng trừ sâu bệnh; trồng cây phân xanh, cây bóng mát trên những đồi chè. Giai đoạn này đòi hỏi qui trình canh tác, thu hái phải được đảm bảo, để thu được búp chè có chất lượng tốt cho chế biến. Đối với khâu thu hái chè, tuỳ theo yêu cầu, chất lượng sản phẩm mà có các hình thức hái búp như sau: hái nguyên tôm, hái một tôm + một lá, hái một tôm + một đến hai lá, hái một tôm + hai lá, hái một tôm + 2, 3 lá, hái một tôm + ba lá. Thâm canh, cải tạo diện tích chè xuống cấp: Diện tích chè xuống cấp là khu vực chè đã bị thoái hoá, biến chất, năng suất chè thấp, chất lượng chè không đảm bảo (hàm lượng Tanin, Cafein giảm rõ rệt). Nguyên nhân gây ra có thể là: canh tác không đúng qui trình kỹ thuật, khai thác quá mức, nên cây chè không phát triển bình thường được; đầu tư thâm canh kém; đất đai bị nghèo kiệt chất dinh dưỡng, trở nên chai cứng; nguồn nước ngầm bị giảm sút. Cải tạo diện tích chè giảm cấp, ngoài nguồn vốn đầu tư, cần chăm sóc chè theo đúng qui trình kỹ thuật. Để cải tạo chè xuống cấp, trước hết phải tìm được nguyên nhân chính xác để đề ra những giải pháp thích hợp. Chỉ nên cải tạo những nương chè ít tuổi, hoặc những nương chè có mật độ trồng tương đối cao; còn những nương chè quá cằn cỗi, mật độ cây trồng thưa, nên phá đi trồng lại. Biện pháp cải tạo chè xuống cấp là kết hợp biện pháp thâm canh và cải tạo, tăng lượng phân hữu cơ, đảm bảo chế độ tưới tiêu... nhằm cải thiện tính chất lý hoá của đất. Đối với các nương chè phá đi trồng lại, nên chú trọng ngay từ công tác giống, cây phân xanh, cây bóng mát, bón phân hữu cơ, áp 15 dụng qui trình canh tác hợp lý, khoa học... Đây là giải pháp vừa khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, quảng canh cho năng suất thấp; vừa tiến hành, ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật, đầu tư theo chiều sâu vào sản xuất cho năng suất cao và ổn định. Dịch vụ khác có liên quan: Công tác cung cấp giống chè: Giống cây trồng có vai trò quyết định đến chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm. Đối với giống nhập nội: mua giống mới, nghiên cứu và trồng thử trong các vườn ươm để khảo nghiệm, lựa chọn các giống tốt thích hợp, đầu tư nhân rộng các giống này và cung cấp các giống cho các nương chè thích hợp. Đối với giống thuần chủng: xây dựng các trung tâm nghiên cứu các giống chè trong nước, lựa chọn các giống chè tốt, cải tạo các giống chè này với các điều kiện tương thích, đầu tư nhân rộng với từng vùng sinh thái hợp lý. Công tác nghiên cứu, ứng dụng các tiến bô khoa học kỹ thuật: Thông thường, công việc này do Nhà nước tiến hành đầu tư gián tiếp cho ngành chè, thông qua việc đầu tư xây dựng các viện nghiên cứu, các trung tâm khảo nghiệm, các vườn ươm giống thí điểm... hoặc do các công ty tiến hành trong phạm vi hẹp, nhằm có được các giống tốt, qui trình canh tác tiên tiến phù hợp với chu trình sản xuất. - Đối với khâu chế biến chè Chè nguyên liệu tươi được hái về phải chế biến ngay để giữ được phẩm cấp các thành phần vật chất khô có trong chè. Nếu chậm xử lý, lá chè tươi sẽ bị ôi, các thành phần vật chất trong lá chè sẽ bị phân huỷ, làm chất lượng chè nguyên liệu bị giảm, dẫn tới chất lượng chè thành phẩm kém. Chế biến chè có 2 hình thức là: thủ công và công nghiệp. Hình thức thủ công thường được áp dụng ở các hộ nông dân trồng chè với qui trình chế biến đơn giản: Chè nguyên liệu được vò, sao khô bằng chảo trên lửa trở thành chè thành phẩm. Với kỹ thuật này, chất lượng chè thường 16 thấp, chỉ đạt tiêu chuẩn chè bán thành phẩm (gọi là chè mộc). Cho nên muốn có chất lượng cao hơn phải tinh chế lại tại các nhà máy chế biến chè. Hình thức công nghiệp được thực hiện trên các dây chuyền thiết bị máy móc với các qui trình phức tạp hơn tại các nhà máy chế biến, để sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao. Để sản xuất chè xanh, qui trình sản xuất gồm các công đoạn: Chè nguyên liệu tươi được làm héo bằng hơi nước  vò  sấy khô  sàng phân loại  hương liệu  đóng gói  thành phẩm. Để sản xuất chè đen có thêm khâu lên men cho chè. Qui trình công nghệ bao gồm các công đoạn : Chè nguyên liệu tươi  làm héo  nghiền  xé  vò  lên men  sấy khô  sàng phân loại  đóng gói  thành phẩm. Công nghệ chế biến chè hiện nay ngày càng hiện đại và có vai trò quyết định đến chất lượng và giá cả của chè. Công nghệ hiện đại giúp chế biến ra nhiều loại sản phẩm, nhiều mặt hàng mới, có tỷ lệ thu hồi cao, giảm thứ phẩm; chất lượng bao bì và kỹ thuật đóng gói đạt tiêu chuẩn bảo quản sản phẩm, hợp thị hiếu người tiêu dùng và có giá cả hợp lý để cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường thế giới. Do đó, phát triển công nghiệp chế biến chè đòi hỏi giải quyết các vấn đề sau: Xây dựng các cơ sở chế biến chè: Xây dựng các cơ sở chế biến chè phải nằm trong qui hoạch nông nghiệp và gắn với vùng cung cấp nguyên liệu chè, để khép kín chu trình nguyên liệu - chế biến, và có tác dụng qua lại với nhau, thực hiện chương trình phát triển ngành chè và hình thành các vùng chè tập trung. Việc xây dựng cơ sở chế biến chè phải có qui mô phù hợp với sản lượng vùng nguyên liệu. Nếu qui mô cơ sở quá lớn sẽ gây lãng phí về việc sử dụng công suất thiết bị; tốn nhiếu chi phí gián tiếp, chi phí khấu hao tài sản thiết bị và làm giá thành sản phẩm tăng cao. Nếu qui mô cơ sở quá nhỏ, công nghệ lạc hậu, thì sẽ lãng phí nguyên liệu và hiệu quả kinh doanh thấp. Đồng 17
- Xem thêm -