Tài liệu Phát triển làng nghề ở huyện thạch thất thành phố hà nội

  • Số trang: 112 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 876 |
  • Lượt tải: 1
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ  KIỀU MAI HƯƠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở HUYỆN THẠCH THẤT THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI - 2011 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ  KIỀU MAI HƯƠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở HUYỆN THẠCH THẤT THÀNH PHỐ HÀ NỘI Chuyên ngành: Kinh tế chính trị Mã số: 60 31 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐINH QUANG TY HÀ NỘI - 2011 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1 Chƣơng 1. LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ....................................................................... 8 1.1. Các khái niệm cơ bản, tiêu chí và cách phân loại làng nghề ......................... 8 1.1.1. Các khái niệm và đặc điểm sản xuất - kinh doanh của làng nghề ............. 8 1.1.2. Những nhân tố chủ yếu tác động đến sự phát triển của làng nghề ....... 18 1.2. Vai trò của hệ thống làng nghề Việt Nam nói chung đối với sự phát triển kinh tế - xã hội .......................................................................... 24 1.2.1. Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế .................................. 24 1.2.2. Vai trò của làng nghề trong phát triển văn hóa - xã hội.................... 28 1.2.3. Góp phần hình thành phát triển những giá trị kinh tế mới................ 29 1.3. Kinh nghiệm của một số địa phương trong phát triển làng nghề và một số bài học rút ra cho huyện Thạch Thất ............................................ 31 1.3.1. Về kinh nghiệm của một số địa phương trong nước ......................... 31 1.3.2. Những vấn đề rút ra có thể tham khảo cho huyện Thạch Thất trong phát triển làng nghề ................................................................. 43 Chƣơng 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN THẠCH THẤT TRONG NHỮNG NĂM ĐỔI MỚI VỪA QUA ............................ 46 2.1. Khái niệm về làng nghề huyện Thạch Thất ................................................. 46 2.1.1. Khái lược về lịch sử huyện Thạch Thất ............................................ 46 2.1.2. Thế mạnh của các làng nghề huyện Thạch Thất ............................... 47 2.2. Thực trạng phát triển các làng nghề của huyện Thạch Thất nhìn trên một số “lát cắt” chính ........................................................................ 53 2.2.1. Thực trạng sản xuất kinh doanh ........................................................ 53 2.2.2. Thực trạng các yếu tố đầu vào của làng nghề ................................... 59 2.2.3. Thực trạng về đầu ra của sản phẩm................................................... 71 2.3. Đánh giá tổng quát thực trạng phát triển làng nghề của huyện Thạch Thất ................................................................................................... 74 2.3.1. Những thành tựu chủ yếu và nguyên nhân ....................................... 74 2.3.2. Những mặt hạn chế, yếu kém chính và nguyên nhân ....................... 82 Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÀNG NGHỀ HUYỆN THẠCH THẤT GIAI ĐOẠN 20112020 .................................................................................................... 89 3.1. Cơ sở để đề xuất quan điểm và phương hướng phát triển các làng nghề .... 89 3.1.1. Về cơ sở để đề xuất phương hướng .................................................. 89 3.1.2. Kiến nghị về quan điểm và phương hướng phát triển kinh tế làng nghề trên địa bàn huyện Thạch Thất ......................................... 90 3.2. Các giải pháp chủ yếu .................................................................................. 93 3.2.1. Mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm ........................................................................................... 93 3.2.2. Đảm bảo về nguyên liệu cho các làng nghề...................................... 95 3.2.3. Đẩy mạnh đào tạo lực lượng lao động cho các làng nghề ................ 95 3.2.4. Huy động nguồn vốn và chính sách đầu tư ....................................... 98 3.2.5. Đảm bảo về môi trường để phát triển bền vững ............................... 99 3.2.6. Tăng cường áp dụng kỹ thuật, công nghệ mới ............................... 100 3.2.7. Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, thiết chế văn hóa, quy hoạch chi tiết .............................................................................................. 101 KẾT LUẬN ........................................................................................................ 104 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................ 106 QUY ƢỚC VIẾT TẮT CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ĐCN: Điểm công nghiệp IMF: Quỹ Tiền tệ Thế giới HTX: Hợp tác xã TTCN: Tiểu thủ công nghiệp UBND: Ủy ban nhân dân VCCI: Phòng Thường mại và Công nghiệp Việt Nam XDCB: Xây dựng cơ bản WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là một trong những nước ở châu Á có bề dày lịch sử về các làng nghề. Từ hàng trăm năm trước đây, trong xã hội phong kiến, các làng nghề Việt Nam đã có vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất, cung ứng các sản phẩm đa dạng, phục vụ trực tiếp cho các hoạt động của nền sản xuất nông nghiệp, cho bản thân các nghề thủ công nghiệp và cho nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của đông đảo cư dân nông thôn và các đô thị trong nước; thậm chí nhiều sản phẩm độc đáo về tơ lụa, đồ gốm, hàng thủ công chạm khắc tinh xảo,… của các làng nghề Việt Nam đã được các nhà buôn lớn Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước phương Tây thu gom với số lượng khá lớn nhằm mục đích sinh lợi. Tuy nhiên, trong thời kỳ Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các hoạt động sản xuất và lưu thông theo phương thức thị trường tự do bị ngăn trở, cấm đoán, và mặt khác do tác động bất lợi của chiến tranh, nhiều làng nghề đã mai một, thậm chí mất hẳn. Sự thụt lùi của các làng nghề Việt Nam ở thời kỳ này đã kéo theo nhiều hậu quả bất lợi về cả kinh tế, văn hóa và xã hội. Trong 25 năm đổi mới vừa qua (1986-2010), với chủ trương nhất quán chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng khuyến khích các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh phát triển. Trong bối cảnh đó, các làng nghề có cơ hội phục hồi và đã có những bước phát triển mang tính đột phá. Những sản phẩm mới của các làng nghề Việt Nam không chỉ xuất hiện ngày càng nhiều ở thị trường trong nước, mà còn xâm nhập vào thị trường của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều thách thức cũng đang đặt ra đối với các làng nghề Việt Nam, đặc biệt là về chiến lược phát triển dài hạn, về nguồn vốn đầu tư, về lực lượng lao động chuyên sâu, về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới trong sản xuất, về khả năng cạnh tranh với các sản phẩm tương ứng của các nước,… 1 Thạch Thất vốn là một huyện thuộc xứ Đoài - Sơn Tây, sau đó thuộc tỉnh Hà Tây và nay thuộc thành phố Hà Nội. Đây là một vùng đất có những làng nghề nổi tiếng, với bề dày lịch sử hàng trăm năm. Động thái phát triển của các làng nghề của địa phương này qua thời kỳ trước và trong đổi mới đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu. Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Phát triển làng nghề ở huyện Thạch Thất Thành phố Hà Nội” để thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị. 2. Tình hình nghiên cứu Phát triển kinh tế làng nghề là một trong những vấn đề quan trọng đối với đời sống kinh tế, xã hội của Việt Nam trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, vì thế chủ đề này đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Đến nay đã có nhiều công trình khoa học được công bố. Dưới đây, chúng tôi xin điểm qua một số công trình ít nhiều có liên quan đến định hướng nghiên cứu của đề tài luận văn: - “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng ven thủ đô Hà Nội”, TS. Mai Thế Hởn, Hà Nội, 2002. Trong công trình này, tác giả đã làm rõ vai trò của làng đối với sự phát triển của đất nước; đi sâu phân tích thực trạng làng nghề về lao động, tổ chức sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm và kỹ thuật công nghệ, và đề xuất bốn phương hướng, bảy giải pháp thúc đẩy làng nghề phát triển theo hướng CNH, HĐH. Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập tới mối quan hệ phát triển làng nghề với việc xây dựng và củng cố mối quan hệ công - nông - trí thức, và quan hệ giữa “bốn nhà”; sự ảnh hưởng của phát triển làng nghề tới việc giữ gìn, phát triển một số giá trị văn hóa truyền thống; sự tác động của trực tiếp của làng nghề tới việc làm thu nhập, mức sống, trình độ học vấn, ổn định chính trị, quyền làm chủ của nhân dân. Trong các chính sách và giải pháp đưa ra, tác giả chưa đề cập đến phát triển làng nghề như một giải pháp quan trọng góp phần giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện có hiệu quả một số vấn đề xã hội, qua đó thúc đẩy tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. 2 - Luận án Tiến sĩ: “Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Trần Minh Yến, Nxb Khoa học Xã hội, năm 2004. Trong luận án, tác giả đã phân tích rõ vai trò của làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam, đồng thời tác giả còn đưa ra những kinh nghiệm phát triển làng nghề của các nước trong khu vực châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, và một số nước trong khu vực ASEAN,… Đề tài còn nêu rõ thực trạng hiện nay của các làng nghề truyền thống ở Việt Nam từ đó chỉ ra xu hướng vận động và 8 nhóm giải pháp của làng nghề truyền thống dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, trong đề tài nghiên cứu tác giả còn chưa nêu ra được nguyên nhân dẫn đến những yếu kém, khó khăn của làng nghề truyền thống hiện nay đó là công tác truyền nghề và năng lực quản lý của doanh nghiệp làng nghề trong quá trình tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, là một trong những khâu quan trọng trong việc phát triển kinh tế trong làng nghề truyền thống. - “Bảo tồn và phát triển làng nghề trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Hà Nội, năm 2009. Công trình nghiên cứu khoa học này trước hết đã chỉ ra được vai trò có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Làng nghề góp phần tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu, làm tăng kim ngạch xuất khẩu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu còn chỉ ra vai trò của làng nghề trong việc bảo tồn, chấn hưng và phát triển làng nghề không chỉ phát triển kinh tế theo ý nghĩa thông thường, mà còn là phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc trong tăng trưởng kinh tế. Với mục tiêu đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề, đề tài đã chỉ ra thực trạng phát triển của các làng nghề Việt Nam hiện nay; cơ hội lớn với các làng nghề hiện nay là việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), từ đó tạo ra nhiều thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề, doanh nghiệp làng nghề cũng không bị phân biệt đối xử trong các vụ tranh chấp thương mại nhờ có cơ chế giải quyết tranh chấp chung; tuy nghiên đề tài cũng chỉ ra những khó khăn và yếu kém đang gặp phải: Về nguồn nhân lực, vốn sản xuất, mặt bằng sản xuất, nguồn 3 nguyên liệu đầu vào, máy móc thiết bị sản xuất còn chậm cải tiến, năng lực quản lý của các doanh nghiệp làng nghề cũng như cơ chế chính sách và lãnh đạo địa phương, đặc biệt là tình hình ô nhiễm hiện nay ở các làng nghề,... Qua phân tích những cơ hội và thách thức đối với làng nghề Việt Nam công trình nghiên cứu chỉ ra những hướng bảo tồn và những giải pháp nhằm thực hiện. - Hội thảo quốc tế: “Bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công truyền thống”, 8/1996 tại Hà Nội. - “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam”, tác giả Bùi Văn Vượng, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1998. - “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa”, TS. Dương Bá Phượng, Nxb Khoa học Xã hội, năm 2001. - Hội thảo: “Phát triển bền vững làng nghề Hà Tây: Thực trạng và giải pháp”, Hà Đông, 11/2006. - “Diễn đàn làng nghề năm 2007”, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổ chức 17/11/2007, tại số 2 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội. - Hội thảo “Bảo tồn và phát triển làng nghề Hà Nội”, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức ngày 17/9/2010, tại Hà Nội. - Luận văn thạc sĩ: “Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam”, Vũ Thị Thu, Hà Nội, 1998. - Luận văn thạc sĩ: “Phát triển làng nghề ở huyện Từ Liêm trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”, Nguyễn Thị Thọ, Hà Nội, 2005. - Luận văn thạc sĩ: “Phát triển làng nghề Hà Tây trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Nguyễn Thị Nghĩa, Hà Nội, năm 2008. - Đề tài nghiên cứu: “Phát triển bền vững các làng nghề huyện Thạch Thất - Thành phố Hà Nội”, Đỗ Thị Lan, Hà Nội, năm 2009. … Những công trình nói trên và còn nhiều công trình khác đã nghiên cứu, đề cập đến nhiều vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn phát triển của các làng nghề Việt Nam nói chung và ở một số địa phương nói riêng. Đây là nguồn tư liệu tham khảo rất có ý nghĩa đối với chúng tôi trong việc thực hiện đề tài 4 luận văn. Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu sâu, hệ thống về phát triển kinh tế làng nghề ở huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn * Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về làng nghề, làng nghề truyền thống, làng có nghề, làng nghề mới, luận văn tập trung phân tích một cách khách quan thực trạng của các làng nghề ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, làm rõ những thành tựu đã đạt được và những tồn tại đang mắc phải; từ đó tìm ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế làng nghề của địa phương này một cách có hiệu quả và theo hướng phát triển bền vững. * Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau: Hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về làng nghề, những tiêu chí xác định làng nghề, vị trí, vai trò, đặc điểm sản xuất kinh doanh của làng nghề trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế làng nghề huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, chỉ ra nguyên nhân của các thành tựu và hạn chế. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần thúc đẩy các làng nghề của huyện Thạch Thất phát triển có hiệu quả và bền vững hơn trong giai đoạn 2011-2020. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu: Dưới góc độ kinh tế chính trị, luận văn tập trung nghiên cứu sự phát triển kinh tế làng nghề tại huyện Thạch Thất trong thời kỳ chuyển đổi sang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. * Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu nghiên cứu thực trạng phát triển của các làng nghề huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội trong những năm đổi mới vừa qua; từ 5 đó đề xuất những giải pháp góp phần thúc đẩy các làng nghề của địa phương phát triển theo hướng hiệu quả và bền vững trong giai đoạn 2011-2020. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn áp dụng một số phương pháp cụ thể thích hợp với đối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định, trong đó sẽ chú trọng điều tra khảo sát thực tế; phân tích, tổng hợp các dữ liệu và số liệu có liên quan; đối chiếu - so sánh; khái quát hóa… Luận văn cũng sẽ khai thác, kế thừa một cách thích hợp kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước. 6. Một số đóng góp mới của luận văn - Góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về phát triển làng nghề trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. - Phân tích, phản ánh một cách khách quan thực trạng phát triển làng nghề của huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội trong những năm đổi mới vừa qua; chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến thành tựu và hạn chế. - Đề xuất, luận chứng những giải pháp mới, thiết thực góp phần thúc đẩy phát triển làng nghề của huyện Thạch Thất theo hướng hiệu quả, bền vững trong giai đoạn 2011-2020. 7. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương, 8 tiết: Chƣơng1: Làng nghề và phát triển làng nghề trong điều kiện kinh tế thị trường. Chƣơng 2: Thực trạng phát trỉển làng nghề huyện Thạch Thất trong những năm đổi mới vừa qua. Chƣơng 3: Phương hướng và các giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế làng nghề huyện Thạch Thất giai đoạn 2011 - 2020. 6 7 Chƣơng 1 LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1.1. Các khái niệm cơ bản, tiêu chí và cách phân loại làng nghề 1.1.1. Các khái niệm và đặc điểm sản xuất - kinh doanh của làng nghề 1.1.1.1. Khái niệm về làng nghề * Làng nghề: Có nhiều quan niệm khác nhau về làng nghề. Trong cuốn “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa”, TS. Mai Thế Hởn có đưa ra quan niệm về làng nghề như sau: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên môn làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất bán, sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ và có cùng tổ nghề [14, tr.111]. Tác giả Bùi Văn Vượng đã định nghĩa về làng nghề: Làng nghề là làng ấy tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ cũng có một số nghề phụ khác song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp có phường, có ông trùm, ông phó cả,… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” sống chủ yếu được bằng nghề đó và có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với thị trường xung quanh và với thị trường đô thị, thủ đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài. Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu” [44, tr.110]. Cũng có quan niệm khác được trình bày trong cuốn “Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa”, TS Trần Minh Yến đưa ra quan niệm như sau: Làng nghề là một thiết chế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ 8 công là chính và giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa [46, tr.110]. Những quan niệm nói trên là rất đáng được tham khảo; tuy nhiên, xét trong điều kiện ngày nay thì hầu hết vẫn chưa làm nổi bật tính chất của làng nghề, ở chỗ nó không chỉ tồn tại và phát triển như một thực thể sản xuất kinh doanh một cách lâu đời trong lịch sử mà còn có tác dụng to lớn đối với đời sống văn hóa tinh thần đối với người dân như vốn nó đã từng có. Khi khoa học kỹ thuật và công nghệ cùng với sự phân công lao động đã phát triển ở mức độ cao hơn thì khái niệm làng nghề cũng được mở rộng hơn. Tựu trung lại, hiện nay đa phần mọi người nhất trí với khái niệm làng nghề do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đưa ra như sau: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phun, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên một xã, thị trấn (được gọi là chung là làng), có hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. * Làng nghề truyền thống: Là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời. Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống. Làng nghề truyền thống còn là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề. Trong làng nghề truyền thống còn có các hộ gia đình chuyên làm nghề và được truyền từ đời này sang đời khác, giữa các hộ có sự liên kết, hỗ trợ trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những chế ước xã hội và gia tộc. Từ khái niệm làng nghề truyền thống, chúng ta có thể hiểu nghề truyền thống là gì. Nghề truyền thống là những nghề thủ công nghiệp được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được sản xuất tập trung tại một vùng hay một làng nào đó. Đặc trưng cơ bản nhất của mỗi nghề truyền thống là phải có kỹ thuật và công nghệ truyền thống, có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề. Mỗi nghề bao giờ cũng phải có ông tổ của nghề được dân làng ghi công ơn và thờ phụng từ đời này sang đời khác. Nghề truyền thống của nước ta rất đa dạng và phong phú, có những nghề hình thành và tồn tại hàng trăm năm, nhiều sản phẩm đã từng nổi tiếng trong nước và cả trên thế 9 giới: Làng nghề gốm sứ Bát Tràng, nghề dệt tơ lụa Vạn Phúc, làng nghề đúc đồng ở Sài Gòn xưa,… * Làng nghề mới: Là làng nghề được hình thành cùng sự phát triển của nền kinh tế, chủ yếu do sự lan tỏa của làng nghề truyền thống, có những điều kiện nhất định để hình thành và phát triển [41, tr.109]. * Làng có nghề: Là làng được hình thành cùng với sự phát triển nền kinh tế chủ yếu là do sự lan tỏa của làng nghề truyền thống, có những điều kiện nhất định để hình thành và phát triển. Trong đó làng có số hộ, số lao động sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp ít nhất từ 10% trở lên [41, tr.109]. * Phân loại làng nghề: Nếu như xưa kia, các làng là nơi sản xuất nông nghiệp, song do yêu cầu của cuộc sống đòi hỏi nhiều sản phẩm phục vụ đời sống sinh hoạt, hoặc các hộ tách khỏi nông nghiệp chuyên môn làm nghề; và từ đó một số nghề phi nông nghiệp dần dần chiếm ưu thế, phần lớn các nghề thuộc tiểu thủ công nghiệp. Ngày nay, do sự phát triển của kinh tế hàng hóa, nghề nghiệp được mở rộng, đã xuất hiện các làng nghề buôn bán. Nếu xét ở góc độ rộng, làng nghề là những làng tạo thu nhập, tạo việc làm có thao tác riêng biệt nói chung. Xem xét ở góc độ này thì ở Việt Nam có thể chia ra làm 4 loại như sau: + Làng nông nghiệp: Là làng thuần nông + Làng buôn: Là làng nông nghiệp có thêm nghề buôn + Làng chài: Là làng của vạn chài, kẻ chài ven sông, ven biển + Làng nghề: Là làng nông nghiệp và có thêm nghề thủ công. Phân loại theo góc độ số lượng làng nghề thì làng nghề lại được chia thành: Làng một nghề, làng nhiều nghề, làng có nghề [46, tr.110]. Phân loại theo thời gian hình thành, thì có làng nghề truyền thống, làng nghề mới. * Tiêu chí công nhận và cách phân loại làng nghề Không phải bất kỳ làng nào có hoạt động ngành nghề cũng được gọi là làng nghề, cho dù làng nào, nghề nào cũng mang bản sắc, mang nét tinh túy 10 riêng. Về mặt lý thuyết cũng như trên thực tế, chỉ có những nghề có khả năng đem lại cuộc sống ấm no, thu hút được đông đảo người dân tham gia sản xuất, lâu dần tụ thành các làng cùng sản xuất, cùng kinh doanh mới được coi là làng nghề. Hiện nay, Chính phủ cũng như các địa phương đã quy định các tiêu chuẩn công nhận làng nghề để tiện cho việc quản lý và phát triển. Các quy định này đã cụ thể hóa các tiêu chuẩn xây dựng, phát triển ngành nghề, làng nghề, nghề cổ truyền và nghề mới trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động tại địa phương; mặt khác góp phần khuyến khích, động viên thợ thủ công có công trình có trình độ cao về kỹ thuật, tay nghề và kinh nghiệm trong việc nghiên cứu, sáng tác, tập trung trí tuệ sản xuất ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, mang bản sắc văn hóa dân tộc, có tính nghệ thuật cao, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Theo Thông tư số 116/2006 THÔNG TIN-BNN, ngày 18 tháng 12 năm 2006 Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, và làng nghề truyền thống được quy định như sau: Tiêu chí công nhận nghề truyền thống: Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau: - Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc. - Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. Tiêu chí công nhận làng nghề: Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau đây: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận - Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước 11 Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống: Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống [1, tr.112]. Năm 2009, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã có Quyết định số 85/2009 QĐ - UBND ban hành ngày 2/7/2009 về Quy chế xét công nhận danh hiệu “Làng nghề truyền thống Hà Nội”. Quy chế này được xây dựng dựa trên những căn cứ: Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn; Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn. Về cơ bản, tiêu chuẩn công nhận làng nghề mà UBND thành phố Hà nội đưa ra là nhất quán với Thông tư mà Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đưa ra, nhưng thành phố có đưa thêm các quy định khác trong tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống: (1) Về thời gian: Là làng có nghề đã được hình thành trên 50 năm tính đến ngày làng được đề nghị xét danh hiệu làng nghề truyền thống. (2) Về kinh tế: Có giá trị sản xuất từ ngành nghề nông thôn của làng chiếm tỷ trọng từ 50% trở lên so với tổng giá trị sản xuất của làng. (3) Về sử dụng lao động: Có tối thiểu 30% số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn. (4) Đảm bảo vệ sinh môi trường và an toàn lao động theo các quy định hiện hành. (5) Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Thành phố và địa phương. (6) Sản phẩm làm ra phải mang bản sắc văn hóa dân tộc, phải gắn với tên tuổi của làng. (7) Đối với những làng nghề chưa đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường theo quy định tại Điểm 4 vẫn được xem xét công nhận danh hiệu làng nghề truyền thống khi đã có các đề án, dự án nghiên cứu đánh giá tác động môi trường và đề ra các biện pháp xử lý khắc phục ô nhiễm môi trường [39, tr.111]. 1.1.1.2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của làng nghề 12 - Đặc điểm về sản phẩm: Phần lớn sản phẩm đều mang tính đơn chiếc, riêng lẻ. Đặc điểm này hình thành là do hầu như toàn bộ các thao tác của người thợ đều phải dựa vào những công cụ thủ công và công nghệ truyền thống. Sản phẩm được sản xuất ra do từng cá nhân thực hiện bằng công cụ thủ công nên không thể sản xuất hàng loạt. Chính điều này tạo nên cho sản phẩm một sắc thái riêng và sự hấp dẫn riêng. Tuy nhiên, cũng chính từ đặc điểm này mà sản phẩm truyền thống thường có giá thành cao, mẫu mã hàng có tính tương đối ổn định (tính bảo thủ). Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong cạnh tranh, mở rộng thị trường, đồng thời nó cũng ảnh hưởng tới tuổi thọ làng nghề. Sản phẩm làng nghề rất đa dạng và phong phú về chủng loại do việc đáp ứng nhu cầu của đời sống kinh tế và văn hóa của người dân. Sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu, các mặt hàng được xuất khẩu như hàng thủ công mỹ nghệ, gốm sứ, chạm trổ, thêu ren, dệt tơ tằm,... Những mặt hàng này đã và đang được ưa chuộng trên thế giới, đây cũng là điều kiện tốt để các làng nghề phát triển sản xuất. Đặc biệt, sản phẩm làng nghề thường mang tính nghệ thuật cao, sử dụng nhiều sức lao động và thể hiện tinh hoa của người thợ làng nghề. Sản phẩm của mỗi làng, mỗi vùng, mỗi dòng họ, đều mang trình độ kỹ thuật riêng và đặc trưng riêng mà các nơi khác không thể có, hoặc nếu có nhưng không phổ biến. Như vậy, có thể nói sản phẩm làng nghề là kết quả của hoạt động vừa mang tính giản đơn vừa mang tính phức tạp của lao động thủ công, đồng thời lại là sản phẩm của hoạt động kinh tế mang tính nghệ thuật cao. Sản phẩm làng nghề luôn phản ánh sâu sắc tu tưởng tình cảm và quan niệm thẩm mỹ của dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam. - Đặc điểm về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh: Ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới, với cơ chế kế hoạch hóa tập trung, đại bộ phận các gia đình nông dân đều vào hợp tác xã thì nghề thủ công lại được coi như là nghề phụ, bổ sung cho sản xuất nông nghiệp. Trong mỗi hợp tác xã nông nghiệp thường có một ngành nghề tập hợp những người dân làm các nghề khác nhau, kể cả kiêm nhiệm cũng như chuyên nghiệp. Lao động trong các làng nghề thủ công được tính công điểm và hưởng theo chế độ công 13 điểm trong hợp tác xã nông nghiệp, trong các làng nghề lác đác cũng có xí nghiệp quốc doanh. Từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đa số các hợp tác xã đều bộc lộ rõ hơn những yếu kém trong việc tổ chức sản xuất và quản lý, điều đó dẫn đến năng suất lao động thấp, năng lực kinh doanh không linh hoạt, sức cạnh tranh của sản phẩm kém. Trước tình trạng ấy, các hợp tác xã và các xí nghiệp quốc doanh cần phải đổi mới và cũng có những doanh nghiệp không trụ vững trước những tác động và đòi hỏi của cơ chế thị trường. Hiện nay, khi cơ chế thị trường mở rộng, chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và tự do thương mại được Chính phủ khuyến khích, thì các các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh ngày càng được đa dạng hóa, và được phát triển theo mức độ của lực lượng sản xuất. Tựu trung lại, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề tồn tại theo các dạng sau đây: + Hộ gia đình: Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay, nó phù hợp với quy mổ sản xuất nhỏ và vừa. Hộ gia đình vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị kinh tế, vừa là một đơn vị sinh hoạt. Các thành viên trong gia đình đều có chung một cơ sở kinh tế, cùng sở hữu đối với tài sản dung cho sinh hoạt và đối với tư liệu sản xuất [19, tr.109]. Lao động làm việc trong phạm vi gia đình với mục đích không phải là lấy tiền công mà là để đóng góp phần mình vào sản lượng và thu nhập chung của gia đình. Người chủ hộ đồng thời là người thợ giỏi, nắm quyền quản lý, quyết định và điều hành mọi công việc từ đầu tư vốn, phân công lao động cho đến tổ chức tiêu thụ sản phẩm và phân phối thu nhập. Với những đặc điểm đó, hình thức sản xuất hộ gia đình không giống với bất kỳ một hình thức tổ chức sản xuất nào. Tuy nó có một số ưu thế nhất định như: huy động và sử dụng mọi thành viên trong gia đình tham gia kinh doanh, tận dụng được thời gian lao động và mặt bằng sản xuất kinh doanh; nhưng ngược lại nó cũng bộc lộ những nhược điểm cơ bản. Do đặc trưng của sản xuất gia đình là quy mô nhỏ, vốn ít, lao động ít, kiến thức tay nghề thông qua do cha truyền con nối, nên hạn chế khả năng cải tiến, và đổi mới kỹ thuật công nghệ, hạn chế việc đào tạo và nâng cao trình độ quản lý, trình độ và tay nghề, không có khả năng sản xuất lớn để đáp ứng nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, trong điều kiện ngày nay, gắn liền với những đặc tính kinh 14 tế - kỹ thuật của các sản phẩm thủ công truyền thống vẫn đang có mức cầu lớn trên thị trường, hình thức hộ gia đình vẫn tỏ ra là hình thức phù hợp với sự phát triển của sản xuất làng nghề nhất là các làng nghề với quy mô sản xuất nhỏ, quá trình sản xuất không yêu cầu cao về phân công, hiệp tác lao động, nhu cầu và khả năng đổi mới công nghệ không lớn. + Tổ sản xuất: Là hình thức hợp tác, liên kết tự nguyện một số hộ gia đình để cùng sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó. + Hợp tác xã: Hợp tác xã kiểu mới ra đời dựa trên cơ sở tự nguyện hợp tác của các chủ thể kinh tế tự chủ. Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát hút sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động của sản xuất kinh doanh, dịch vụ, và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đất nước. + Hình thức tổ chức tiểu chủ: Đây là hình thức đang được phát triển ở các làng nghề có trình độ tập trung sản xuất tương đối cao. Ngoài nguồn lao động tập trung trong gia đình, họ còn thuê lao động làm thêm bên ngoài. + Hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn: Đây là những loại hình tổ chức kinh doanh có thẻ phát triển ở những làng nghề có trình độ tập trung hóa cao, có quan hệ rộng với các thị trường, có khả năng đổi mới công nghệ để mở rộng quy mô sản xuất. Một số tư nhân có vốn, có kinh nghiệm về tổ chức sản xuất kinh doanh, có kiến thức và chuyên môn đứng lên thành lập doanh nghiệp do họ đảm nhiệm. Doanh nghiệp này có thể trực tiếp tổ chức sản xuất, kinh doanh hoặc làm khâu cung ứng dịch vụ cho làng nghề. 1.1.1.3. Nhận định tổng quát về làng nghề - Về bản chất kinh tế - xã hội của làng nghề: Xuất phát từ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người nông dân trong một nền kinh tế tự cấp tự túc, nghề thủ công đã xuất hiện từ hàng tram năm trước đây, với vai trò là các nghề phụ, việc phụ trong các gia đình nông dân trong lúc thời gian nông nhàn giữa các mùa vụ. Chính tính thời vụ trong sản 15
- Xem thêm -