Tài liệu Phát triển kinh tế du lịch ở ba vì - hà nội ( luận văn ths. kinh tế )

  • Số trang: 131 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 401 |
  • Lượt tải: 1
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ CHU THANH NGÂN PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH Ở BA VÌ - HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI - 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ CHU THANH NGÂN PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH Ở BA VÌ - HÀ NỘI Chuyên ngành: Kinh tế chính trị Mã số : 60 31 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ THỊ DẬU HÀ NỘI - 2013 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nào. Hà Nội, ngày tháng năm 2013 TÁC GIẢ Chu Thanh Ngân MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .....................................................9 1.1. Kinh tế du lịch ..................................................................................................9 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm ..............................................................................9 1.1.2. Các loại hình du lịch................................................................................22 1.1.3. Vai trò của kinh tế du lịch........................................................................26 1.2. Phát triển kinh tế du lịch .................................................................................33 1.2.1. Khái niệm và nội dung phát triển kinh tế du lịch ....................................33 1.2.3. Tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế du lịch .............................................50 1.3. Kinh nghiệm của một số địa phương trên địa bàn Hà Nội về phát triển kinh tế du lịch ....................................................................................................................54 1.3.1. Kinh nghiệm của thành phố Sơn Tây - Hà Nội........................................54 1.3.2. Kinh nghiệm của huyện Mỹ Đức - Hà Nội ..............................................57 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH........................ 60 2.1. Tiềm năng và quan điểm phát triển kinh tế du lịch của huyện Ba Vì ............60 2.1.1. Tiềm năng phát triển kinh tế du lịch huyện Ba Vì ...................................60 2.1.2. Quan điểm phát triển kinh tế du lịch Ba Vì...............................................66 2.2. Thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì giai đoạn 2008 - nay ...............67 2.2.1 Hệ thống tổ chức kinh doanh du lịch .......................................................67 2.2.2 Công tác thăm dò, nghiên cứu, phát hiện sản phẩm du lịch ....................72 2.2.4. Các loại hình du lịch................................................................................77 2.3. Đánh giá chung về phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì - Hà Nội .....................83 2.3.1. Những kết quả đạt được...........................................................................83 2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân..........................................................................90 Chƣơng 3 PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH HUYỆN BA VÌ ..................................................................101 3.1. Bối cảnh mới và phương hướng đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch của Ba Vì - Hà Nội ..........................................................................................................101 3.1.1. Bối cảnh mới ảnh hưởng đến phát triển du lịch ....................................101 3.1.2. Mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế du lịch huyện Ba Vì .......106 3.2. Giải pháp và tổ chức thực hiện nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch huyện Ba Vì, Hà Nội ...........................................................................................111 3.2.1. Giải pháp phát triển kinh tế du lịch đối với Ba Vì ................................111 3.2.2. Tổ chức thực hiện ..................................................................................118 KẾT LUẬN ............................................................................................................121 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................123 DANH MỤC BẢNG STT Số hiệu Tên bảng Trang 1 2.1 Các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn 67 huyện Ba Vì – Hà Nội 2 2.2 Cơ sở vật chất các đơn vị du lịch huyện Ba Vì 69 3 2.3 Hiện trạng sử dụng đất du lịch huyện Ba Vì 73 4 2.4 Số vốn đầu tư của các công ty hoạt động kinh 75 doanh du lịch trên địa bàn huyện Ba Vì 5 2.5 Số lượng khách sử dụng loại hình du lịch nghỉ 76 ngơi, giải trí tại Ba Vì 6 2.6 Số lượng khách tham gia các loại hình du lịch 77 thể thao tại các khu du lịch ở Ba Vì 7 2.7 Số lượng khách tắm khoáng nóng, tắm bùn tại 78 các khu du lịch Ba Vì 8 2.8 Số lượng khách sử dụng các loại hình du lịch 81 công vụ tại Ba Vì 9 2.9. Tổng hợp khách đến thăm quan du lịch Ba Vì 82 từ 2006-2012 10 2.10 Doanh thu của du lịch Ba Vì từ 2009-2012 83 11 2.11 Nộp ngân sách Nhà nước của du lịch Ba Vì từ 86 2006-2012 DANH MỤC HÌNH STT Số hiệu Tên hình Trang 1 1.1 Mối quan hệ giữa các nhân tố trong hoạt động 11 du lịch 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con người. Ngày nay, du lịch đóng vai trò như sứ giả của hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, các dân tộc. Trên thế giới, du lịch hiện được xem là một trong những ngành kinh tế dịch vụ hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều quốc gia tham gia vì những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội mà lĩnh vực này mang lại. Trong cơ cấu ngành kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ thì dịch vụ ngày càng đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế. Việt Nam là một quốc gia có nhiều di tích lịch sử, thiên nhiên ưu đãi, nhiều danh lam thắng cảnh… rất phù hợp để phát triển kinh tế du lịch. Trong những năm qua, Việt Nam coi phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời xác định phát triển du lịch thực sự là một ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở “đa dạng hóa sản phẩm du lịch và các loại hình du lịch, nâng cao chất lượng để đạt tiêu chuẩn quốc tế” [5, tr57] Nằm trong xu thế chung của cả nước, Ba Vì - Hà Nội đã có nhiều giải pháp phát triển kinh tế du lịch, thu hút ngày càng nhiều du khách trong và ngoài nước đến địa phương tham quan các danh lam thắng cảnh, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí… Các khu du lịch, khu sinh thái Ba Vì từ lâu đã là điểm đến của nhiều du khách, không chỉ khách trong nước mà còn cả khách quốc tế. Vì vậy, kinh tế du lịch Ba Vì đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận lớn lực lượng lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá; đóng góp tỉ trọng ngày càng lớn trong GDP. Kinh tế du lịch Ba Vì không chỉ có những đóng góp đối 2 với sự phát triển của Ba Vì, mà còn là sự đóng góp đối với sự phát triển của thành phố Hà Nội và của đất nước. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-HU của Huyện ủy Ba Vì về phát triển du lịch giai đoạn 2006 - 2011, du lịch Ba Vì đã có những bước phát triển tích cực: Doanh thu hàng năm tăng bình quân 33,6%, lượt khách tăng bình quân 20%/năm, đời sống của cán bộ, nhân viên các khu du lịch ngày càng được nâng lên, thu hút hàng ngàn lao động hàng năm, giúp tiêu thụ các mặt hàng nông sản, đồ thủ công mỹ nghệ, giúp phục hồi và phát triển các nghề truyền thống, góp phần làm giảm đáng kể các tệ nạn xã hội, nâng cao dân trí và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân địa phương. Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Ba Vì lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2010 - 2015 và Nghị số 09/NQ-HU, ngày 31/3/2011 của Huyện ủy Ba Vì đã xác định rõ mục tiêu: Phát triển dịch vụ du lịch Ba Vì trở thành ngành kinh tế trọng điểm của huyện, đến năm 2015 đạt 2,5 - 2,6 triệu lượt khách du lịch, doanh thu đạt 200 tỷ đồng, tạo việc làm ổn định tại chỗ cho 3.500 lao động, thu hút trên 10.000 lao động ở các địa phương lận cận đến kinh doanh trong mùa du lịch tại các khu du lịch của huyện. Để thực hiện mục tiêu trên, cần có những đánh giá cụ thể về tiềm năng, hiện trạng phát triển kinh tế du lịch tại địa phương, từ đó xác định hướng phát triển và giải pháp cho sự phát triển ngành kinh tế này. Vậy, thực trạng kinh tế du lịch ở Ba Vì ra sao? Giải pháp nào để phát huy tiềm năng thế mạnh của địa phương cho việc phát triển kinh tế du lịch ở ba Vì, Hà Nội là câu hỏi cần được quan tâm giải đáp. Chính vì lẽ đó, tác giả lựa chọn đề tài “Phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì - Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình và nhằm giải đáp câu hỏi trên. 3 2. Tình hình nghiên cứu Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về kinh tế du lịch, những lý luận chung về kinh tế du lịch đã được công bố. Đây là nguồn tài liệu quý giá và hữu ích cho tác giả trong quá trình nghiên cứu. Một số công trình điển hình như: * Nhóm công trình nghiên cứu lý luận - Đổng Ngọc Minh - Vương Lôi Đình: Kinh tế du lịch và du lịch học - Nhà xuất bản Trẻ, năm 2000. - Công trình: Kinh tế du lịch của Trường Đại học Kinh tế quốc dân. - Công trình: Kinh tế du lịch của Khoa Du lịch và Khách sạn - Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội - Robert Lanquar (2005) có công trình: Kinh tế Du lịch - Nhà xuất bản Thế giới, năm 2005 Ngoài ra, còn có Pháp lệnh du lịch Việt Nam do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2006 Những công trình này nghiên cứu và xây dựng khung lýluận về kinh tế du lịch như: khái niệm, các loại hình du lịch, những nhân tố ảnh hưởng tới kinh tế du lịch…Đây là nguồn tài liệu cho tác giả tiếp cận, kế thừa những khái niệm về du lịch, về kinh tế du lịch nói chung. * Nhóm công trình nghiên cứu thực tiễn ở các địa phương - Hoàng Đức Cường: “Phát triển kinh tế du lịch ở Nghệ An”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, 1999. - Trần Ngọc Tư: “Phát triển kinh tế du lịch ở Vĩnh Phúc - tiềm năng và giải pháp”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, 2008. - Nguyễn Thị Hồng Nhung: “Phát triển kinh tế du lịch Hải Phòng thời kì hội nhập và phát triển”, Luận văn thạc sĩ, 2007. 4 - Nguyễn Thị Lan: “Phát triển kinh tế tư nhân ngành du lịch tỉnh Thanh Hoá”, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, 2008. - Đỗ Thị Bích Huệ: “Phát triển du lịch thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế chính trị, 2008. - Nguyễn Thị Lan Phương: “Phát triển kinh tế du lịch tỉnh Lào Cai”, Luận văn thạc sĩ Kinh tế chính trị, 2010. - Nguyễn Tuấn Dũng: “Phát triển kinh tế du lịch bền vững ở thành phố Hà Nội hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, 2012. Các công trình trên đã nghiên cứu vấn đề phát triển kinh tế du lịch theo cách tiếp cận truyền thống - là những hoạt động và kết quả hoạt động du lịch, gắn với một địa phương cụ thể, trong những giai đoạn cụ thể. * Công trình nghiên cứu phát triển kinh tế du lịch Ba Vì Công trình của tác giả Hoàng Văn Hùng:“Thực trạng phát triển kinh doanh du lịch huyện Ba Vì những vấn đề nổi cộm - Phương hướng và giải pháp thực hiện”, Đề tài nghiên cứu tại lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý du lịch, ngành Du lịch Hà Tây, 2004. Công trình nghiên cứu này đã đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản, những vấn đề thực tiễn của quá trình phát triển kinh tế du lịch nói chung cũng như ở một số địa phương nói riêng. Đây là nguồn tư liệu tham khảo rất có ý nghĩa trong việc thực hiện đề tài luận văn. Các công trình nghiên cứu đã công bố trên đã làm rõ ở những khía cạnh khác nhau về kinh tế du lịch và vấn đề phát triển kinh tế du lịch trên phương diện lý thuyết và thực tiễn. Tuy nhiên, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu sâu và có hệ thống về phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì, Hà Nội, theo cách tiếp cận kinh tế chính trị, gắn với nội hàm phát triển và những tiêu chí đánh giá sự phát triển đó. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích 5 Vận dụng và hoàn thiện khung lý thuyết về phát triển kinh tế du lịch, luận phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế du lịch huyện Ba Vì - Hà Nội. Từ đó đưa ra những giải pháp phát triển kinh tế du lịch Ba Vì theo hướng phát triển bền vững. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây: - Khái quát và hệ thống hóa và hoàn thiện thêm cơ sở lý luận và tìm hiểu kinh nghiệm thực tiễn của vấn đề phát triển kinh tế du lịch ở một số địa phương. - Phân tích thực trạng phát triển kinh tế du lịch huyện Ba Vì - Hà Nội. Từ đó đánh giá những thành công, hạn chế và các nhân tố tác động đến trong quá trình phát triển kinh tế du lịch của địa phương trong thời gian qua. - Phân tích những ảnh hưởng trong bối cảnh kinh tế mới đến sự phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì - Hà Nội. Từ đó đề xuất các gợi ý chính sách để phát triển kinh tế du lịch của địa phương trong thời gian tới. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp chung Đề tài sử dụng những phương pháp chung như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế du lịch. Phương pháp thống kê mô tả: sử dụng tài liệu, báo cáo thống kê của địa phương để phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì Hà Nội. Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp cũng được sử dụng phổ biến trong luận văn. Luận văn có sử dụng các bảng biểu, biểu đồ, để phản ánh nội dung phân tích. 6 4.2. Phương pháp cụ thể - Kế thừa và phát triển lý luận về phát triển du lịch để hoàn thiện thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế du lịch. - Tập hợp, phân tích các tài liệu của UBND huyện, của các đơn vị kinh doanh du lịch; Các tài liệu, số liệu của Sở Du lịch Hà Nội, của Chi cục Thống kê Thành phố Hà Nội…Từ đó, đánh giá sự phát triển kinh tế du lịch theo khung lý thuyết ở chương 1 trên phương diện thành công, hạn chế và nguyên nhân của tình hình. - Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn ở địa phương, cũng như kinh nghiệm của các địa phương khác, luận văn đưa ra những định hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển hiệu quả kinh tế du lịch ở Ba Vì, Hà Nội. 5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 5.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phát triển kinh tế du lịch được nghiên cứu theo cách tiếp cận kinh tế chính trị. Vấn đề nghiên cứu gắn với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương, gắn với những biến động về môi trường kinh tế, xã hội, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế. 5.2. Phạm vi nghiên cứu * Phạm vi không gian: Nghiên cứu về sự phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn huyện Ba Vì - Hà Nội * Phạm vi thời gian: từ năm 2008 - nay. 6. Một số đóng góp mới của luận văn - Hoàn thiện khung lý thuyết về phát triển kinh tế du lịch: nội dung và những tiêu chí đánh giá sự phát triển kinh tế du lịch. 7 - Đánh giá một cách khách quan thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì, Hà Nội từ năm 2008, đến nay: những thành tựu, bất cập trong sự phát triển và nguyên nhân của tình hình. - Đề ra giải pháp có thể vận dụng vào phát triển kinh tế du lịch ở địa phương trong thời gian tới, gắn liền với quá trình đổi mới kinh tế và hội nhập kinh tế của địa phương và Việt Nam. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế du lịch Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì - Hà Nội Chương 3. Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch huyện Ba Vì 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH 1.1. Kinh tế du lịch 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm 1.1.1.1. Khái niệm * Du lịch Trong từ điển Oxford của Anh, du lịch có nghĩa là đi xa và du lãm. Nghĩa rằng đây là một hoạt động rời nhà đi xa rồi trở về và trong thời gian ấy thì tham quan du lãm ở một hoặc vài địa phương. Với ý nghĩa đó, du lịch đã xuất hiện vào cuối xã hội nguyên thuỷ, đầu xã hội chiếm hữu nô lệ.Vào thời kì này, do sự phân công lao động xã hội: phân chia giữa trồng trọt và chăn nuôi: giữa nông nghiệp, thương nghiệp và ngành thủ công làm cho kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, thị trường ngày càng được mở rộng, nhu cầu giao lưu kinh tế xã hội giữa các thành viên trong xã hội, giữa các vùng, miền trong một quốc gia tăng mạnh, kéo theo đó là nhu cầu du lịch tăng lên. Tuy nhiên, hoạt động du lịch thời kì này còn chưa rõ ràng, mục đích chính của việc đi đây đi đó của con người là trao đổi hàng hoá, việc tham quan du lịch chỉ là sự kết hợp ngẫu nhiên, chủ yếu mang tính tự phát, tự phục vụ là chính. Du lịch chưa trở thành một ngành kinh tế đặc thù của xã hội. Ở phương Tây, vào những năm cuối của thế kỉ XIV đã có nhiều quan niệm khác nhau về du lịch. Có quan niệm cho rằng du lịch là một ngành công nghiệp, đó là ngành “công nghiệp mẹ”, một ngành công nghiệp then chốt. Sự phát triển về du lịch có tác động to lớn tới tất cả các ngành kinh tế của một quốc gia. Nhưng cũng có quan niệm cho rằng du lịch là một hoạt động kinh tế nhằm phục vụ khách nước ngoài, là một ngành kinh doanh, kinh doanh các danh lam của đất nước, đối tượng tham quan là khách nước ngoài. 9 Đến đầu thế kỉ XX, du lịch vẫn còn là hoạt động dành riêng cho những người khá giả, họ đi du lịch là để hưởng ngoạn, giải trí. Và sau đó hoạt động này ngày càng thu hút được sự tham gia của hầu hết các tầng lớp xã hội khác nhau. Ngày nay du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu, gắn liền với cuộc sống hàng ngày của hàng triệu người. Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) thì năm 2000 số lượng khách du lịch toàn cầu là 698 triệu lượt người với doanh thu đạt được là 467 tỷ USD; năm 2002 lượng khách là 716,6 triệu lượt với doanh thu 474 tỷ USD; dự tính đến năm 2010 sẽ có khoảng 1006 triệu lượt khách du lịch với doanh thu khoảng 900 tỷ USD.[8, tr 50] Mặc dù vậy, hiện nay khi đề cập đến du lịch, không ít người lầm tưởng rằng: du lịch là những kì nghỉ hè với những bãi biển đầy người, các sân bay hay các đoàn xe du lịch vòng quanh các phố phường… Do đó, việc xây dựng quan niệm và hiểu biết đúng đắn về ngành kinh tế du lịch có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của du lịch nhằm đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của đời sống con người. Theo Hội liên hiệp các chuyên gia quốc tế về du lịch thì: “Du lịch là sự tổng hoà các hiện tượng và quan hệ do việc lữ hành và tạm thời cư trú của những người không định cư dẫn tới. Số người này không định cư lâu dài, và lại cũng không làm bất kì hoạt động nào để kiếm tiền”.[16,tr 241] Trong tuyên ngôn Manila (1980) của tổ chức du lịch Quốc tế thì du lịch được xem là: “Việc lữ hành của mọi người bắt đầu từ mục đích thực hiện sự phát triển các nhân về phương tiện kinh tế xã hội, văn hoá và tinh thần cùng với việc đẩy mạnh về hiểu biết và hợp tác giữa mọi người”. [16, tr 252]. Khái niệm này đã nhấn mạnh mục đích hoà bình của việc du lịch, đồng thời cũng bao quát việc du lịch để vui chơi, tiêu khiển với việc du lịch vì công 10 việc. Tuy nhiên khái niệm trên vẫn chưa phản ánh được đặc điểm tổng hợp khách quan của hoạt động du lịch, của người du lịch. Kế thừa các quan điểm trên các tác giả Trung Quốc trên cơ sở phân tích bản chất và thuộc tính của việc du lịch cũng đưa ra khái niệm khá toàn diện về du lịch:“Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội nảy sinh trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định, là sự tổng hoà tất cả các quan hệ và hiện tượng do lữ hành để thoả mãn mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hoá nhưng lưu động chứ không định cư mà tạm thời cư trú của tất cả mọi người dẫn tới”.[9, tr33]. Trường Đại học kinh tế Praha (Cộng hoà Séc) đưa ra định nghĩa về du lịch như sau:“Du lịch là tập hợp các hoạt động kĩ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề và viếng thăm có tổ chức thường kì”.[10, tr17] Định nghĩa của trường tổng hợp kinh tế thành phố Varna, Bulgarie như sau:“Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội được lặp đi lặp lại đều đặn chính là sản xuất và trao đổi dịch vụ, hàng hoá của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập - đó là các tổ chức, các xí nghiệp với cơ sở vật chất kĩ thuật chuyên môn nhằm đảm bảo sự đi lại, cư trú ăn uống nghỉ ngơi với mục đích thoả mãn các nhu cầu cá thể về vật chất và tinh thần của những người lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của họ để nghỉ ngơi, chữa bệnh, giải trí (thuộc các nhu cầu về văn hoá, chính trị, kinh tế…) mà không có mục đích lao động kiếm lời”. [10, tr17-18] Hai định nghĩa trên đã xem xét kĩ hiện tượng du lịch như là một phạm trù kinh tế với đầy đủ tính đặc trưng và vai trò của một bộ máy kinh tế, kĩ thuật điều hành. 11 Khác với các định nghĩa trên, định nghĩa về du lịch của Michael Coltman lại rất ngắn gọn như sau:“Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du lịch, bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, dân cư sở tại và chính quyền nơi tiếp đón du lịch”.[10, tr 18] Mối quan hệ đó có thể được thể hiện bằng sơ đồ sau: Nhà cung ứng dịch vụ Du khách Chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch Dân cư sở tại Hình 1.1. Mối quan hệ giữa các nhân tố trong hoạt động du lịch [6,tr 28] Tháng 6 năm 1991 tại Otawa, Canađa, Hội Nghị Quốc Tế về thống kê du lịch đã đưa ra định nghĩa sau: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn thời gian đã được các tổ chức du lịch quy điịnh trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”. [10, tr19] Định nghĩa trên đã quy định rõ các điểm sau: - Ngoài “môi trường thường xuyên”, nghĩa là loại trừ các chuyến đi trong phạm vi nơi ở thường xuyên, các chuyến đi có tổ chức thường xuyên hàng ngày, các chuyến đi thường xuyên có định kì tổ chức phường hội giữa nơi ở và nơi làm việc, và các chuyến đi phường hội khác có tổ chức thường xuyên hàng ngày. 12 - “Khoảng thời gian ít hơn thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước ” - sự quy định này nhằm loại trừ di cư trong một thời gian dài. - “Không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”- điều đó có nghĩa là loại trừ việc hành nghề tạm thời hoặc lâu dài. Tại Việt Nam, mặc dù du lịch là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm xét trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau. Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên hai khía cạnh: Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá nghệ thuật. Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch.[28, tr 284] Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ. Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế. [28, tr 284] Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam năm 1999 thì: “du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu câu tham quam, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân, và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội của đất nước”.[17, tr29] 13 Luật Du lịch Việt Nam (được quốc hội thông qua kì họp thứ 7, khoá XI năm 2005) đã nêu khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Khoa Du lịch và Khách sạn - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”. [8,tr 45] Tóm lại, cùng với sự phát triển, con người ngày càng có nhu cầu đươc nghỉ ngơi, hưởng thụ nhiều hơn các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội để hoàn thiện phát triển chính mình. Du lịch xuất hiện được coi là một trong những hình thức nghỉ ngơi tích cực phổ biến nhất và nó ngày càng trở thành một bộ phận không thể tách rời với đời sống con người, góp phần quan trọng làm cho con người khoẻ mạnh, nâng cao đời sống tinh thần, mở mang tầm hiểu biết. * Kinh tế du lịch Hoạt động du lịch ban đầu chỉ mang tính chất cá nhân lẻ tẻ, dần dần nó trở nên phổ biến hơn và đa dạng hơn về hình thức. Đi du lịch không chỉ dừng lại ở hình thức cá nhân riêng lẻ mà tiến đến nhóm người, tập thể người; không gian du lịch đồng thời được mở rộng ra trong phạm vi từng lãnh thổ và giữa các lãnh thổ với nhau. Yêu cầu đối với việc tổ chức các chuyến đi ngày càng phức tạp hơn, du khách cần có các tổ chức với tư cách là trung gian trong chuyến đi của mình để thực hiện các hoạt động như bố trí phương tiện đi lại, 14 chỗ ăn nghỉ, hướng dẫn tham quan…từ đó các tổ chức kinh tế du lịch đã ra đời. Lúc này hoạt động du lịch không còn là hiện tượng mang tính chất cá nhân, lẻ tẻ mà đã trở thành một hoạt động mang tính chất kinh doanh, hoạt động kinh tế. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội các nhu cầu về nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, giao lưu văn hoá và mở mang kiến thức của con người ngày càng tăng. Kinh tế càng phát triển, điều kiện vật chất của xã hội ngày càng được cải thiện và các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống dần được đáp ứng một cách đầy đủ hơn thì con người lại càng có điều kiện để thoả mãn những nhu cầu tinh thần đó của mình. Điều đó là động lực thúc đẩy ngành kinh tế du lịch phát triển. Ngày nay trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển của ngành du lịch không chỉ dừng ở biên giới quốc gia mà còn mở rộng ra với quy mô toàn cầu. Mặt khác, khi điều kiện về giao thông vận tải càng đạt trình độ cao và an toàn, đáp ứng nhu cầu thuận lợi cho du khách trong di chuyển từ nơi này đến nơi khác, sẽ là cơ hội tốt để ngành kinh tế du lịch phát triển. Về bản chất, “kinh tế du lịch là một hoạt động kinh tế, là tổng thể các hành vi phối hợp với nhau của hoạt động kinh tế nói chung với hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu về du lịch” [29,tr228] Song rất khó có thể định nghĩa lĩnh vực du lịch về mặt kinh tế. Trở ngại lớn nhất là ở chỗ khi định nghĩa một lĩnh vực kinh tế phải nói đến những sản phẩm thuần nhất; nhưng trái lại, du lịch gồm những sản phẩm rất hỗn tạp. Nó là sản phẩm đặc biệt, do nhiều yếu tố hợp thành, ngoài sản phẩm hữu hình về mặt dịch vụ ăn uống, thì tuyệt đại bộ phận là sản phẩm vô hình, biểu hiện bằng nhiều loại dịch vụ thoả mãn tinh thần của du khách. Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu tác giả nhận thấy định nghĩa kinh tế du lịch mà từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra là đáp ứng được yêu cầu của một khái niệm hoàn 15
- Xem thêm -