Tài liệu Phát triển con người trong bối cảnh tòan cầu hóa ở việt nam hiện nay

  • Số trang: 105 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 107 |
  • Lượt tải: 1
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ==================== PHAN THỊ MAI THÚY PHÁT TRIỂN CON NGƢỜI TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Chuyên ngành: Triết học Hà Nội - 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ==================== PHAN THỊ MAI THÚY PHÁT TRIỂN CON NGƢỜI TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triế t học Mã số: 60220301 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền Hà Nội - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền. Tôi xin cam đoan đề tài này không trùng với những đề tài luận văn thạc sỹ đã được công bố ở Việt Nam. Tôi hoàn toàn chịu tráchn nhiệm về nội dung của đề tài. Người cam đoan Phan Thị Mai Thúy MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................3 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƢỜI VÀ TOÀN CẦU HÓA .............................................................................................15 1.1. Một số quan niệm về phát triển con ngƣời .................................................15 1.2. Toàn cầu hóa, thời cơ và thách thức của toàn cầu hóa đối với phát triển con ngƣời ở Việt Nam ..........................................................................................27 1.2.1. Toàn cầu hóa và các đặc điểm của toàn cầu hóa ....................................27 1.2.2. Những thời cơ và thách thức của toàn cầu hóa đối với phát triển con người Việt Nam hiện nay ....................................................................................31 TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 .........................................................................................40 CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƢỜI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY.................................43 2.1. Thực trạng phát triển con ngƣời Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay .................................................................................................................43 2.1.1. Thực trạng phát triển năng lực sinh thể con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay ................................................................................43 2.1.2. Thực trạng phát triển trí tuệ con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay .......................................................................................................57 2.1.3. Thực trạng phát triển tâm lực con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.................................................................................................65 2.2. Những giải pháp cơ bản để phát triển con ngƣời Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay .................................................................................76 2.2.1. Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội, nâng cao chất lượng con người ............................................................................................................77 2.2.2. Giải quyết việc làm cho người lao động ..................................................80 2.2.3. Đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo gắn với phát triển kinh tế và công tác an sinh xã hội .......................................................................................85 TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 .........................................................................................90 KẾT LUẬN CHUNG ..............................................................................................91 TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................94 1 DANH MỤC VIẾT TẮT UNDP Humam Developmnt reports Chương trình phát triển Liên hợp quốc HDI Human Developman Index Chỉ số phát triển con người 2 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong lịch sử tư tưởng triết học, với bản chất cách mạng và khoa học, học thuyết Mác đã đặt ra cơ sở lý luận về bước chuyển của nhân loại sang một kỉ nguyên mới - kỉ nguyên mà ở đó: “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”[37 tr. 628]. Chính vì lẽ đó mà học thuyết Mác đã được cả cộng đồng nhân loại tiến bộ thừa nhận là học thuyết về con người, về sự nghiệp giải phóng con người. Nhưng đến cuối thế kỷ XX, việc thừa nhận con người là nguồn lực vô tận, là nhân tố quyết định, là mục tiêu tối thượng của sự tiến bộ xã hội mới được các chuyên gia của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) quán triệt, lượng hóa và thiết kế một thước đo chung, nhằm đánh giá trình độ phát triển con người ở các quốc gia thuộc Liên hợp quốc. Tuy nhiên, việc coi con người là trung tâm của sự phát triển không phải quốc gia nào cũng làm được điều này. Việc phát triển con người có thực hiện được hay không, đạt tới mức độ nào, ngoài việc dựa trên sự phát triển về kinh tế, còn tùy thuộc vào quan điểm, chính sách và chương trình hành động của từng quốc gia. Lấy chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến sự nghiệp xây dựng và phát triển con người Việt Nam trong tất cả các thời kỳ cách mạng. Đặc biệt, từ khi đổi mới đến nay, bằng việc thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện chính sách mở cửa hội nhập với khu vực và thế giới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đã mở rộng không gian phát triển đầy triển vọng cho con người Việt Nam. Các cơ hội và điều kiện cho việc phát triển toàn diện con người Việt Nam ngày càng được xác lập, bảo đảm và mở rộng. Sự nghiệp xây dựng, phát triển con người Việt Nam thời gian qua đã gặt hái được nhiều thành tựu 3 nổi bật được bạn bè thế giới ghi nhận. Nhưng bên cạnh những thành tựu đã đạt được, sự nghiệp phát triển con người Việt Nam cũng còn nhiều mặt hạn chế, đặc biệt, trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay. Toàn cầu hóa đang đặt ra những cơ hội và thách thức lớn đối với sự phát triển của các quốc gia. Trong đó, việc phát triển con người của các nước là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các nước đang phát triển, để có thể khẳng định mình trong “sân chơi” thế giới. Toàn cầu hóa tạo thuận lợi cho các nước đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, trao đổi và tiếp nhận những tiến bộ mới nhất về khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Nhưng đồng thời nó cũng mang lại những khó khăn, thử thách không nhỏ, như: Sự phân hóa giàu nghèo diễn ra ngày một nhanh hơn, gây ô nhiễm môi trường, lu mờ bản sắc văn hóa truyền thống... Phát triển con người như thế nào trong bối cảnh toàn cầu hóa trở thành một vấn đề mang tính thời sự vì các quốc gia muốn tăng trưởng một cách vượt trội và bền vững thì không thể không dành sự quan tâm đặc biệt đến con người và phát triển con người. Thực tiễn trên đây đang đặt ra những vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn để tìm ra những giải pháp hữu hiệu đẩy mạnh sự nghiệp phát triển con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa. Vì những lý do trên đây, tôi chọn đề tài “Phát triển con ngƣời Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Liên quan đến đề tài này, ở nước ta, trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn cao học… Trong số những công trình nghiên cứu tiêu biểu đó, có thể kể đến các công trình sau: “Tư tưởng triết học về con người” của Vũ Minh Tâm [64]. Đây là cuốn sách thể hiện công trình nghiên cứu công phu, có hệ thống về vấn đề con 4 người trong lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại. Trên cơ sở luận giải các quan điểm về con người của những nhà triết học tiêu biểu của các trường phái, các nền triết học trong lịch sử, tác giả khẳng định triết học Mác Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung có mục đích cao nhất là khắc phục sự tha hóa con người, giải phóng và phát triển con người. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người thể hiện tính nhân văn, nhân đạo, khoa học và cách mạng triệt để. “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của Phạm Minh Hạc chủ biên [28]. Đây là một công trình khoa học thể hiện sự nghiên cứu công phu của các tác giả về vấn đề phát triển con người Việt Nam theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Cuốn sách được chia làm hai phần với mười hai chương nội dung. Ở phần thứ nhất của cuốn sách, các tác giả đã trình bày những cơ sở khoa học của chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ sở lý luận cho chiến lược phát triển con người toàn diện ở Việt Nam chính là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, kinh nghiệm của nước ngoài về phát triển con người cũng là cơ sở quan trọng trong việc phát triển con người Việt Nam. Đồng thời, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện hóa đất nước đã trở thành cơ sở thực tiễn của chiến lược phát triển con người toàn diện ở Việt Nam. Các tác giả cũng đã đưa ra mô hình nhân cách con người Việt Nam, đó là mô hình gắn bó chặt chẽ giữa đức và tài trong con người. Trong phần thứ hai, các tác giả đã đưa ra định hướng chiến lược và luận giải những giải pháp cụ thể cho việc phát triển con người Việt Nam trên bốn phương diện cơ bản là đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất. Đồng thời luận giải những giải pháp thiết thực, hiệu quả về việc phát triển con người Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa. Vì vậy, cuốn sách là tài liệu quan trọng trong việc nghiên cứu định hướng và giải pháp phát triển con người toàn diện ở Việt Nam. 5 “Triết học Mác - Lênin về con người và việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Vũ Thiện Vương [75], cuốn sách gồm ba chương. Ở chương 1: Những quan điểm cơ bản của triết học Mác - Lênin về con người, trên cơ sở phê phán những hạn chế và sai lầm của một số quan niệm trước Mác về con người, tác giả đã khẳng định sự ra đời của chủ nghĩa Mác là bước ngoặt cách mạng trong quan niệm về con người. Trong chương 2 (Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và một số vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng con người Việt Nam theo quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người), tác giả đã nhấn mạnh yêu cầu khách quan của việc xây dựng con người Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Thực trạng xây dựng con người Việt Nam được tác giả phân tích qua ba giai đoạn cơ bản: Con người Việt Nam truyền thống (giai đoạn trước khi Đảng ra đời), con người Việt Nam trước đổi mới và sau đổi mới, những thành quả đạt được, tác giả cũng đã trình bày những hạn chế của việc xây dựng con người Việt Nam. Trong chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tác giả đã đưa ra và phân tích ba phương hướng và bốn nhóm giải pháp chủ yếu. “Mấy vấn đề triết học về xã hội và phát triển con người” [31], cuốn sách của tác giả Nguyễn Văn Huyên, gồm hai phần, ở phần thứ nhất, trên cơ sở cho rằng chủ nghĩa xã hội là xu hướng phát triển tất yếu của xã hội loài người, tác giả đã khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là môi trường, điều kiện để tiến tới phát triển con người Việt Nam. Phần thứ hai của cuốn sách tác giả cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở lý luận quan trọng cho sự nghiệp phát triển con người Việt Nam. Từ đó tác giả cho rằng, con người hiện đại là con người phải có trí tuệ, có kỹ năng nghề nghiệp, có trình độ khoa học, kỹ thuật. Đặc biệt là phải biết sáng tạo, biết thưởng ngoạn - hưởng thụ văn hóa. Rằng văn hóa, các giá trị nhân văn 6 và kinh tế thị trường, môi trường đô thị, văn hóa thẩm mỹ, nghệ thuật và giáo dục là những nhân tố cho sự hình thành và phát triển các phẩm chất đó của con người hiện đại. “Con người và phát triển con người trong quan niệm của Mác và Ăngghen” [53] do Hồ Sĩ Quý chủ biên. Cuốn sách gồm 2 phần. Phần thứ nhất: Di sản kinh điển - những tư tưởng cơ bản về con người và phát triển con người. Phần này trình bày những luận điểm về con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen, tương ứng với các quan điểm đó là các trích dẫn tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về chủ đề con người, về bản chất con người, về vấn đề giải phóng con người. Phần thứ hai: Di sản kinh điển nhìn từ thời đại ngày nay - ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận đối với nhận thức và phát triển con người. Phần này gồm những bài viết của các tác giả, trong đó phân tích, làm sáng tỏ quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề con người và phát triển con người. Cuốn tiếp theo của ông phải kể đến đó là cuốn: “Con người và phát triển con người” [54]. Trong đó tác giả luận giải quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về việc nghiên cứu con người là một khoa học. Tiếp đến làm rõ vấn đề khái niệm con người, bản chất con người, con người trong quan hệ với giới tự nhiên và vấn đề phát triển con người. Đồng thời khẳng định: “Nghiên cứu con người nói chung và con người Việt Nam nói riêng, hiện đang đứng trước những nhu cầu đặc biệt cấp thiết đặt ra từ sự phát triển của bản thân khoa học và từ sự phát triển của đất nước trong tương quan chung với sự phát triển của khu vực, của thế giới và của nhân loại” [54, tr.127]. Tiếp nữa là tác giả trình bày một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu con người. Trong phần này, nhiều hướng nghiên cứu con người đã được tác giả đưa ra, như: nghiên cứu phát triển con người, nguồn lực con người, con người trong quan hệ với văn hóa, với môi sinh, nhân cách con người, tiềm năng con 7 người, tài năng, danh nhân. Bộ giáo dục và Đào tạo, “Từ chiến lược phát triển giáo dục, đến chính sách phát triển nguồn nhân lực” [5]. Đây là Tuyển tập các công trình nghiên cứu và bài báo khoa học của nhiều tác giả, cuốn sách góp phần phổ biến những thông tin về chiến lược, chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Cuốn sách được chia thành 3 phần: Phần I: Các vấn đề phương pháp luận về chiến lược và chính sách phát triển nguồn nhân lực. Phần II: Thực tiễn về chiến lược và chính sách phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam. Phần III: Kinh nghiệm quốc tế - chiến lược và chính sách phát triển nguồn nhân lực. Cuốn sách là tài liệu quan trọng trong nghiên cứu chiến lược, chính sách phát triển nguồn nhân lực và phát triển con người ở nước ta hiện nay. Đoàn Văn Khái, “ Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam [33]. Tác giả đã làm rõ vai trò của nguồn lực con người, coi đó là yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ thực trạng nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tác giả đã đưa ra những phương hướng, quan điểm chỉ đạo và những nhóm giải pháp cơ bản. Đó là nhóm giải pháp về khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn lực con người; nhóm giải pháp về phát triển nguồn lực con người; nhóm giải pháp về xây dựng môi trường xã hội thuận lợi nhằm khai thác và phát triển hiệu quả nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Cuốn “Quan niệm của C.Mác về tha hóa và ý nghĩa của nó đối với phát triển con người Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Thanh Huyền [30]. Ở đây, tác giả phân tích quan niệm của C. Mác về tha hoá và những biểu hiện của tha hoá, con đường khắc phục tha hoá để phát triển con người. Vận dụng quan niệm của C.Mác, bước đầu tìm hiểu vấn đề tha hoá trong xã hội Việt Nam và khuyến nghị một số giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục tha hoá để 8 phát triển con người Việt Nam, tập trung vào hai nhóm giải pháp khắc phục sự tha hóa kinh tế và tha hóa về chính trị, đẩy mạnh cuộc vận động chỉnh đốn Đảng; xóa bỏ cơ chế xin-cho trong lĩnh vực ngân sách, tài chính và tổ chức, kiểm tra; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy Nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trong sạch về phẩm chất, đạo đức, tận tụy với công việc; thực hiện dân chủ hóa trên thực tế và nhóm giải pháp ngăn ngừa nguy cơ tha hóa trong lĩnh vực đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay. Luận án,“ Quan điểm của C.Mác về phát triển con người và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Văn Sơn [57]. Ở đây, luận án luận giải quan điểm của C.Mác về phát triển con người và sự vận dụng quan điểm này ở Việt Nam trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn để trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm góp phần phát triển con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Phạm Thành Nghị: “Phát triển con người bền vững và những thách thức về quản lý”, [49]. Mở đầu bài viết, tác giải khẳng định: “Cơ may tạo ra sự phát triển con người bền vững gắn liền với sự quản lý của các chính phủ, các chính sách và cơ hội tham gia của người dân”[49, tr. 21]. Điều đó được tác giả luận giải trong bài viết, trước tiên, tác giả đi vào làm rõ khái niệm phát triển con người bền vững, sau đó tác giả khẳng định cái cơ sở của phát triển con người bền vững không chỉ ở nâng cao đời sống vật chất mà chính yếu là ở nâng cao các chuẩn mực văn hóa của con người, giúp họ hoàn thiện hơn, phát huy tài năng và tăng cường năng lực, để giúp con người nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, phát huy tài năng và năng lực thì Nhà nước có vai trò quan trọng, Nhà nước tài trợ tạo cơ hội cho mọi người tiếp thu những kiến thức cơ bản để có cơ hội phát triển lâu dài, đấy là trong giáo dục đào tạo, trong kinh tế 9 cũng vậy, Nhà nước bảo đảm sự công bằng về cơ hội tiếp cận các nguồn lực như khoa học kỹ thuật, xây dựng và thực thi các chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Cuối cùng, tác giả đưa những thách thức và giải pháp đối với phát triển con người bền vững, giám sát thực thi các giải pháp đó đảm bảo cho các chính sách phát triển con người bền vững được thực thi vì lợi ích của chính người dân. Lê Thi: “Nâng cao chỉ số phát triển con người Việt Nam và công cuộc xóa đói, giảm nghèo”[74, tr. 33-38]. Bài viết đi vào luận giải chỉ số phát triển con người Việt Nam và khẳng định chỉ số phát triển con người phản ánh chất lượng sống còn thấp, và mức sống dân cư là yếu tố tác động mạnh đến chất lượng sống của con người, chính vậy muốn tăng mức sống của dân cư thì phải tiến hành công cuộc xóa đói giảm nghèo, đó là hướng cơ bản để nâng cao chất lượng sống và tăng chỉ số HDI. Trong bài tác giả luận giải việc xóa đói giảm nghèo trên cả hai mặt đó là: Đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Đối với đời sống vật chất thì cần phải đảm bảo người dân đủ cơn ăn, áo mặc, có thể lực cao và được hưởng các phúc lợi của y tế, giáo dục, văn hóa. Đối với đời sống tinh thần thì cá nhân được hưởng quyền tự do dân chủ, bình đẳng, công bằng…có cơ hội, điều kiện được thưởng thức các thành tựu văn hóa, nghệ thuật, phương tiện thông tin…Từ đó tác giả đưa ra một số giải pháp cơ bản để xóa đói giảm nghèo, tăng chất lượng sống cho con người. Phạm Thành Nghị, “Công bằng xã hội và phát triển bền vững con người”,[50, tr.21-26]. “ Phát triển con người bền vững luôn đi liền với công bằng xã hội và bình đẳng về cơ hội phát triển” [50, tr. 21]. Ở đây, bài viết chủ yếu chỉ ra mối quan hệ giữa công bằng, bình đẳng với phát triển con người bền vững thông qua việc làm sáng tỏ khái niệm công bằng xã hội và phát triển bền vững, từ đó cho chúng ta thấy được nền tảng của phát triển con người bền vững là tạo ra sự bình đẳng trong cơ hội tiếp cận nguồn lực và trong cơ hội phát triển năng lực. 10 Phạm Thành Nghị ,“Phát triển nguồn nhân lực cho nền kinh tế tri thức” [48, tr. 20 – 25]. Là một quốc gia kém phát triển, Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, nhưng xét theo trình độ đào tạo thì chất lượng còn thấp. Bài viết cho rằng trước những thách thức của toàn cầu hóa và yêu cầu hội nhập quốc tế, cần phải xem xét những vấn đề trọng tâm trong phát triển nguồn nhân lực hiện đại, để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong quá trình phát triển. Phùng Danh Cường, “Phát triển con người ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và giải pháp” [11]. Tác giả đã đi luận giải thực trạng phát triển con người Việt Nam trong những năm gần đây. Bên cạnh những thành tựu đạt được, còn một số hạn chế nhất định trên các bình diện: Chỉ số HDI, giáo dục và đào tạo, công tác phát triển y tế - chăm sóc sức khỏe nhân dân và thành tích trong xóa đói giảm nghèo và từ đó đưa ra giải pháp để phát triển con người Việt Nam. UNDP, Báo cáo Quốc gia về phát triển con người năm 2011: Dịch vụ xã hội vì sự phát triển con người [13]. Từ những kết quả phân tích về phát triển con người Việt Nam trong thập kỷ qua, Báo cáo đưa ra và phân tích bốn thông điệp chính: Thứ nhất, tiến bộ trong chỉ số HDI của Việt Nam trong những năm gần đây chủ yếu do tăng trưởng kinh tế mang lại; thứ hai, tăng trưởng kinh tế đơn thuần không phải lúc nào cũng mang lại mức độ phát triển con người cao hơn; thứ ba, mặc dù có nhiều tiến bộ song tốc độ tăng chậm lại của chỉ số HDI thể hiện rõ ở cấp địa phương; thứ tư, việc chi trả và cung cấp các dịch vụ xã hội hiện nay là thách thức đối với khát vọng và mục tiêu phát triển con người của Việt Nam. Đồng thời, báo cáo còn đề xuất và luận giải mười định hướng chính sách phát triển con người Việt Nam: 1/ Coi trọng con người hơn mục tiêu phát triển kinh tế; 2/ Các dịch vụ xã hội có vai trò trong kìm chế bất bình đẳng ngày càng gia tăng; 3/ Cần một cách tiếp cận mới về an sinh xã hội; 4/ Có một hệ thống lợi ích nhất quán hơn nhằm hỗ trợ tiếp cận toàn dân; 5/ Đánh giá lại chính sách xã hội hóa; 6/ Gánh 11 nặng tài chính được chia sẻ công bằng hơn; 7/ Giải quyết tình trạng hai cấp trong cung cấp dịch vụ; 8/ Tăng cường quản trị và nâng cao chất lượng dịch vụ; 9/ Quản lý khu vực công và khối tư nhân hiệu quả hơn; 10/ Lập kế hoạch cho tương lai. Quan điểm của UNDP về phát triển con người cùng những nghiên cứu thực chứng của tổ chức này là cơ sở khoa học quan trọng cho nghiên cứu con người và định hướng phát triển con người Việt Nam. Các bài: “Phát huy nhân tố con người theo tinh thần đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI” của PGS.TS. Nguyễn Thị Nga. “Vấn đề phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS. Nguyễn Thế Kiệt. “Chiến lược phát triển con người trong văn kiện đại hội XI của Đảng” của Bùi Thị Phương Thùy trong “Một số vấn đề triết học trong các văn kiện đại hội XI của Đảng” do PGS.TS Trần Văn Phòng và GS.TS Nguyễn Hùng Hậu (2011) đồng chủ biên, Trong đó các nhà khoa học luận giải sâu sắc những phương hướng, chủ trương, chính sách của Đảng đề ra về vấn đề phát huy, phát triển nhân tố, nguồn lực con người. Tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề xây dựng và phát triển con người Việt Nam ở những cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi hiểu biết của tác giả luận văn thì nghiên cứu về phát triển con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trên đây, luận văn tiếp tục đi sâu nghiên cứu về vấn đề này. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Mục đích của luận văn: Trên cơ sở lý luận về phát triển con người và toàn cầu hóa, luận văn làm rõ thực trạng và những giải pháp đẩy mạnh phát triển con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Với mục đích như trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ như sau: 12 + Trình bày khái quát quan niệm về phát triển con người, về toàn cầu hóa, từ đó rút ra khái niệm “phát triển con người” và những thời cơ, thách thức của toàn cầu hóa với phát triển con người Việt Nam hiện nay. + Phân tích thực trạng phát triển con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa. + Đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh phát triển con người ở nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa. 4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, UNDP và quan điểm của Đảng ta về phát triển con người và xã hội. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê,… 5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Phát triển con người Việt Nam Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Luận văn nghiên cứu thực trạng phát triển con người Việt Nam từ sau đổi mới tới nay. 6. Đóng góp của luận văn Về lý luận: - Luận văn trình bày khái quát quan niệm về phát triển con người. - Luận văn khái quát chung về thực trạng phát triển con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay trên ba lĩnh vực cơ bản đó là: thể lực, trí lực và tâm lực. Về thực tiễn: Luận văn có thể được dùng làm tài liệu phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập về những vấn đề liên quan. Đồng thời, luận văn có thể dùng 13 làm tài liệu tham khảo trong việc đề ra một số chính sách phát triển con người Việt Nam hiện nay. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương, 4 tiết. 14 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƢỜI VÀ TOÀN CẦU HÓA 1.1. Một số quan niệm về phát triển con ngƣời Thuật ngữ “phát triển” (Devolopment) có nhiều cách định nghĩa tùy theo cấp độ xem xét khác nhau. Ở cấp độ chung nhất, theo quan niệm của triết học Mác - Lênin, phát triển được hiểu là quá trình vận động từ thấp (đơn giản) đến cao (phức tạp), mà nét đặc trưng chủ yếu là sự ra đời của chất mới thay thế cho chất cũ. Trong lĩnh vực xã hội, có thể coi phát triển là một dạng vận động đa chiều và người ta coi chiều cạnh nào đang diễn ra những thay đổi sâu sắc, quan trọng nhất là phát triển. Trong lịch sử, lúc đầu người ta đồng nhất phát triển với tiến bộ, văn minh xã hội. Vào thế kỷ XIX, phát triển được đồng nghĩa với tiến hóa xã hội. Từ giữa thế kỷ XIX, quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ ở các nước châu Âu, đem đến sự phát triển vượt bậc về kinh tế, khái niệm phát triển chuyển dịch sang lĩnh vực kinh tế. Nhiều học giả xem phát triển chính là quá trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa diễn ra ở thành thị. Những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc cho thấy sự bế tắc của quan niệm phát triển thuần túy cơ giới. Trên cơ sở kế thừa quan niệm của các nhà tư tưởng đi trước và dựa vào thành tựu khoa học ở thời đại mình, C. Mác đã tìm ra quy luật phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội dựa trên phương thức sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một giới hạn nhất định dẫn đến quan hệ sản xuất cũ trở nên lỗi thời, đòi hỏi phải được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp hơn. Sự thay đổi quan hệ sản xuất đưa đến sự thay thế của kiến trúc thượng tầng tương ứng. Sự tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng tạo thành các quy luật khách quan chi phối sự vận động, phát triển của xã 15 hội loài người từ thấp đến cao. Mác nói về sự phát triển của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, ông không dành khái niệm phát triển cho riêng lịch sử con người. “Cái gọi là sự phát triển lịch sử nói chung, dựa trên tình trạng là hình thái cuối cùng coi các hình thái đã qua là những giai đoạn để đi tới bản thân nó” [39, tr.884]. Tuy nhiên, sự luận giải của học thuyết Mác về sự phát triển xã hội nhằm mục đích cao nhất là “sự phát triển phong phú của bản chất con người, coi như là mục đích tự thân” [41, tr.168]. Sự phát triển con người đã được các ông đặt ra trực tiếp trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [38, tr. 628]. Theo quan niệm của các nhà kinh điển mácxít, đến chủ nghĩa cộng sản trong xã hội không còn đối kháng giai cấp, ở đó sự phát triển của con người là tự do. Theo đó, sự phát triển của một cá nhân được tạo điều kiện do sự phát triển của tất cả các cá nhân khác mà nó có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp. Tự do cá nhân theo nghĩa đầy đủ của từ này nghĩa là không có một sự tha hóa xã hội nào, điều đó chỉ có được trong chủ nghĩa cộng sản. Sự phát triển của mỗi cá nhân vì bản thân mình, là sự sử dụng “tự do” những khả năng của mình, là sự phát triển “tự do” những tiềm năng của mình. Theo Mác, mục đích của sự phát triển con người chỉ có thể là sự phát triển riêng những con người có thực, những cá nhân cụ thể, đơn nhất, như thế chủ nghĩa cộng sản chỉ là phương tiện thực hiện mục đích đó. Có thể khẳng định, tư tưởng cốt lõi trong toàn bộ học thuyết về con người của C.Mác và Ph. Ăngghen là tư tưởng về giải phóng, phát triển con người. Theo C. Mác khắc phục, xóa bỏ sự tha hóa của con người trong xã hội tư bản là điều kiện cho giải phóng con người; muốn giải phóng con người thì phải xóa bỏ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa và thay bằng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chỉ trong điều kiện đó, con người mới trở về với bản chất đích thực của mình, mới có đầy đủ các điều kiện để phát triển 16 toàn diện. Đến lượt nó, khi con người trở thành chủ thể xã hội, sự phát triển xã hội lại do chính con người thực hiện. Do đó, phát triển xă hội là cơ sở của phát triển con người. Phát triển tự do, toàn diện con người là mục tiêu của sự phát triển, là tiêu chuẩn tối cao của tiến bộ xã hội. Sang thế kỷ XX, tại các nước công nghiệp phát triển, người ta không còn xem phát triển đơn thuần là công nghiệp hóa. Nội hàm khái niệm được mở rộng, bao hàm toàn bộ quá trình hiện đại hóa mà cốt lõi là tăng trưởng kinh tế. Phát triển được đồng nhất với việc gia tăng vốn kinh tế hay của cải của toàn bộ hệ thống, không cần chú ý đến hậu quả mà quá trình này gây ra cho môi trường tự nhiên, xã hội và con người. Các quốc gia coi tăng trưởng kinh tế là chìa khóa duy nhất sẽ đem lại phồn vinh, hạnh phúc cho con người. Đến nửa sau thế kỷ XX, các nước châu Âu bắt đầu chú ý tới vấn đề tăng trưởng kinh tế có tính đến việc đáp ứng nhu cầu cơ bản của các tầng lớp, chú ý đến đòi hỏi nhiều mặt của con người. Nhưng thực tế, các Nhà nước mới chỉ chú trọng đến đáp ứng và cải thiện nhu cầu vật chất của con người. Con người vẫn chỉ được xem như phương tiện của nền sản xuất mà chưa thực sự quan tâm đến phát triển con người và tính ổn định bền vững cho xã hội. Nhiều nước trên thế giới lấy thước đo thu nhập quốc dân để đánh giá trình độ phát triển của kinh tế, xã hội. Công cụ GDP bình quân đầu người được coi như là công cụ hữu hiệu mà các quốc gia vẫn sử dụng. Tuy nhiên, công cụ này đã thể hiện nhiều hạn chế, nó mới chỉ chú ý đến góc độ của tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia, khía cạnh xã hội - nhân văn của phát triển xã hội như sự công bằng, bình đẳng xã hội, đến giáo dục, y tế, sức khỏe cộng đồng,.. Vì vậy, chưa đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, chưa hẳn đã nâng cao đời sống văn hóa cho con người. Chỉ riêng sự tăng trưởng kinh tế cũng không thể đảm bảo được yêu cầu cho sự phát triển công bằng, bình đẳng xã hội. Chạy theo mục tiêu đó, nhiều quốc gia đã phải trả giá cho sự phát triển 17
- Xem thêm -