Tài liệu Phát huy nhân tố con người lực lượng vũ trang quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc hiện nay

  • Số trang: 198 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 57 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

Lêi cam ®oan T«i cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i. C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc, cã nguån gèc xuÊt xø râ rµng. T¸c gi¶ luËn ¸n TrÇn Huúnh Hoµng Vò MỤC LỤC Trang TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 9 TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỒC 1.1. Nhân tố con người và thực chất phát huy nhân tố con người lực lượng vũ trang Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc 1.2. Một số vấn đề có tính quy luật phát huy nhân tố con người lực lượng vũ trang Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc 1 2 3 4 5 9 24 24 42 Chương 2 PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 9 TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU 2.1. Thực trạng phát huy nhân tố con người lực lượng vũ trang Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay 2.2. Yêu cầu phát huy nhân tố con người lực lượng vũ trang Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay 63 63 99 Chương 3 GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 9 TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY 3.1. Đổi mới công tác đào tạo, giáo dục chính trị và huấn luyện đội ngũ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 9 3.2. Kết hợp chặt chẽ dân chủ với kỷ luật ở các cơ quan, đơn vị Quân khu 9 tạo điều kiện phát huy tính tích cực, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc 3.3. Kết hợp sự lãnh đạo của các tổ chức đảng với thực hiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc KẾT LUẬN DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 114 114 130 139 158 160 161 177 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt Bảo vệ Tổ quốc BVTQ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH Chủ nghĩa xã hội CNXH Dân quân tự vệ DQTV Dự bị động viên DBĐV Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL Lực lượng vũ trang LLVT Nhân tố con người NTCN Xã hội chủ nghĩa XHCN 5 MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu khái quát về công trình nghiên cứu Luận án là một công trình nghiên cứu triết học ứng dụng đối với LLVT Quân khu 9. Quá trình tiếp cận, nghiên cứu và triển khai luận án, tác giả đã tham khảo kết quả nghiên cứu thành công của các công trình khoa học trong và ngoài quân đội. Đặc biệt, do tình hình thực tiễn của các cơ quan, đơn vị, xuất phát từ tính chất địa bàn, yêu cầu và nhiệm vụ, đòi hỏi luận án phải được nghiên cứu mang tính hệ thống đối với việc phát huy NTCN LLVT Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ hiện nay. Kết cấu của luận án gồm: phần mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Đây là công trình khoa học độc lập, mang tính đặc thù đối với LLVT Quân khu 9, không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học nào đã công bố từ trước đến nay. 2. Lý do lựa chọn đề tài Trong bối cảnh tình hình chính trị thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, tiềm ẩn nhiều nhân tố phức tạp, khó lường, để “ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời” [35, tr.233], đòi hỏi khách quan là toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phải thực sự quan tâm tới xây dựng và phát huy NTCN trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ Việt Nam XHCN hiện nay. Con người là chủ thể xã hội. NTCN là nhân tố quyết định nhất của các quá trình kinh tế - xã hội. Ph. Ăngghen cho rằng, con người và vũ khí là hai chất liệu nền tảng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Theo đó, để tăng cường sức mạnh BVTQ trong giai đoạn hiện nay, cần đặc biệt coi trọng xây dựng và phát huy NTCN; đặc biệt là, phát huy NTCN LLVT Quân khu 9. Quân khu 9 là địa bàn chiến lược phía Tây Nam của Tổ quốc, trong tiến hành chiến tranh giải phóng, quân và dân các tỉnh, thành phố thuộc Quân khu 9 6 đã phát huy cao độ tinh thần cách mạng, ý chí tiến công, tự lực tự cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và đã lập được nhiều thành tích to lớn, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Là một địa bàn chiến lược, giàu tiềm năng về phát triển kinh tế - xã hội và là khu vực trọng điểm hiện nay mà các thế lực thù địch, phản động tập trung chống phá bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Chúng dùng chiêu bài thực hiện dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để kích động quần chúng khiếu kiện, đình công, biểu tình chống phá, gây mất ổn định chính trị, tiến tới bạo loạn lật đổ. Khi chiến tranh xảy ra, chiến tranh BVTQ hiện nay là chiến tranh hiện đại, “chắc chắn chúng ta phải đối mặt với cuộc chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao của địch” [7, tr.598], mang tính tổng hợp cao, không gian tác chiến trên một diện rộng, thời gian tác chiến ngắn, tình huống tác chiến hết sức khẩn trương, chớp nhoáng, tính chất của chiến tranh rất ác liệt… Để đánh trả thắng lợi chiến tranh xảy ra, cần phải đầu tư vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, nhưng con người phải biết sử dụng vũ khí, trang bị thật hiệu quả. Và trong mối quan hệ với vũ khí trang bị, con người đóng vai trò quyết định. Suy cho cùng, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao, nhiều vấn đề đặt ra đối với LLVT Quân khu 9, nhưng trong đó nhân tố quyết định là con người, NTCN. Do vậy, phát huy NTCN LLVT Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ không những có ý nghĩa quyết định đối với nhiệm vụ trước mắt, mà còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với nhiệm vụ BVTQ Việt Nam XHCN. Từ đó, việc phát huy NTCN LLVT Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ đang đặt ra một cách cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, đòi hỏi phải được nghiên cứu sâu sắc, có hệ thống; đồng thời, đề xuất những giải pháp cơ bản, đồng bộ, phù hợp và có tính khả thi để LLVT Quân khu 9 không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới. Cho nên, tác giả chọn đề tài “Phát huy nhân tố con người lực 7 lượng vũ trang Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ triết học. 3. Mục đích nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu đề tài phát huy NTCN LLVT Quân khu 9 nhằm góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài - Đối tượng: Nghiên cứu phát huy NTCN LLVT Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ hiện nay. - Phạm vi: Nghiên cứu những chủ thể cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng thường trực ở các cơ quan, đơn vị của LLVT Quân khu 9, bao gồm: bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương đang thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và BVTQ trên địa bàn Quân khu 9. Các tư liệu, số liệu phục vụ nghiên cứu luận án chủ yếu từ năm 2005 đến nay. Phạm vi điều tra, khảo sát, nắm tình hình thực tế ở một số cơ quan, đơn vị và địa phương trong LLVT Quân khu 9. 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài * Đóng góp mới của đề tài: - Khái quát phạm trù trung tâm phát huy NTCN LLVT Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ; đồng thời, chỉ rõ những đặc trưng bản chất NTCN LLVT Quân khu 9 và thực chất của việc phát huy NTCN LLVT Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ hiện nay. - Đánh giá một cách khách quan, khoa học và nhận định chính xác về thực trạng phát huy NTCN LLVT Quân khu 9. Từ đó, khái quát những vấn đề đặt ra cần giải quyết đối với phát huy NTCN LLVT Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ hiện nay. - Đề xuất các giải pháp cơ bản một cách có hệ thống, đồng bộ, phù hợp và mang tính khả thi, nhằm hiện thực hóa tính tích cực, chủ động, sáng tạo 8 của cán bộ, chiến sĩ để phát huy tối đa NTCN LLVT Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ hiện nay. * Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần phân tích, làm rõ đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; đồng thời, khẳng định tính đúng đắn, khoa học các quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, NTCN, phát huy NTCN nói chung, NTCN và phát huy NTCN LLVT Quân khu 9 nói riêng, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và tổ chức thực tiễn quân sự, quốc phòng của NTCN LLVT Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ hiện nay. * Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học, trong giảng dạy ở Trường Quân sự các tỉnh, thành phố và Trường Quân sự Quân khu 9. Mặt khác, luận án sẽ góp phần quan trọng để lãnh đạo, chỉ huy các cấp tích cực xây dựng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng và phát huy tối đa NTCN LLVT Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ hiện nay. 9 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Vấn đề con người, NTCN, phát huy NTCN nói chung và trong lĩnh vực quân sự nói riêng đã và đang có sự quan tâm, thu hút nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước. Là người trực tiếp tham gia nghiên cứu vấn đề này, tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài với những khía cạnh sau đây: 1.1. Những công trình tiêu biểu nghiên cứu về con người, về nhân tố con người Đây là hướng tiếp cận nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và đạt nhiều thành công nhất. Tiêu biểu có các công trình nghiên cứu con người, NTCN của các tác giả: T.I. Daslápxkaija, N.M. Berezhnoj, V.P. Zinchenko, E.F. Xulimov, O.N. Krutova, L.V. Nicolaeva, N.E. Zelinskij... nhấn mạnh vào mặt hoạt động của NTCN, ở những phẩm chất, nội dung và đặc trưng bản chất của con người [148, tr.320], được thể hiện trong hoạt động định hướng và cải tạo, biến đổi các quá trình xã hội, cụ thể được hiểu theo những khía cạnh như sau: - Với tính cách là hoạt động của những con người riêng biệt, đặc trưng của NTCN bao gồm những năng lực, khả năng của con người do các nhu cầu và lợi ích, tiềm năng trí lực và thể lực của mỗi người quyết định hoạt động định hướng và cải tạo của họ. - Với tính cách là một cơ cấu hoạt động nhất định, NTCN như là đặc trưng liên kết của mối liên hệ giữa con người và máy móc (hệ thống Người Máy), bảo đảm cho sự vận hành có hiệu quả của hệ thống cấu trúc nói chung [144, tr.53-54]. - Với tính cách là chủ thể hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, NTCN là sự thống nhất hoàn chỉnh, liên kết và không ngừng phát triển giữa hoạt động sản xuất của con người và đặc trưng cá 10 nhân của nó. Sự thống nhất đó là động lực phát triển của các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội [145, tr.23-27]. Các tác giả trên nhấn mạnh đến mặt hoạt động NTCN, coi hoạt động như là một phương thức quan hệ đặc thù của con người với thế giới. Bằng hoạt động vật chất, con người mới tạo ra của cải vật chất và tinh thần, là cơ sở thiết yếu nhất của quá trình xã hội; cũng chính từ hoạt động đó, những đặc trưng cá nhân, bản chất, nhân cách của NTCN được biểu hiện và hình thành. Tuy nhiên, có một số quan điểm chưa thống nhất và cho rằng, NTCN như quan điểm trên có nhấn mạnh đến mặt hoạt động của con người, nhưng chỉ nói rõ con người thực hiện chức năng nhất định trong một thời điểm nhất định (nổi lên). Từ đó, dễ nhìn nhận phiến diện coi con người như một chủ thể của hoạt động, mà không thấy được tiềm năng tích cực, chủ động, sáng tạo của con người. Cho nên, hướng tiếp cận về mặt hoạt động đối với NTCN của các tác giả trên, cần phải xem xét hoạt động của con người trong mối quan hệ với phẩm chất tinh thần của nó (bao gồm: nhu cầu, lợi ích, trí tuệ, niềm tin, động cơ, mục đích hoạt động...), nhất là cần phải bổ sung tính chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo về hoạt động của NTCN. Các công trình nghiên cứu về NTCN của các tác giả: A.K. Uledov, R.G. Janovskij, N. Mberezhnoj, Iu.Đ. Gradin... nhìn nhận theo những khía cạnh sau: - Nhân tố con người là những phẩm chất đa dạng biểu hiện trong những hoạt động khác nhau của con người, trong quan hệ của nó với người khác, với thế giới chung quanh đều bao hàm trong khái niệm “nhân tố con người“, khái niệm đó thể hiện tính tích cực xã hội của cá nhân. - Nhân tố con người là tổng hòa những khả năng, thuộc tính, tri thức, thói quen, kinh nghiệm đang phát triển của con người và qua đó ảnh hưởng đến các quá trình xã hội. 11 - Nhân tố con người là tiềm năng xã hội, tự nhiên, thể lực và trí tuệ của mọi người đang tham gia vào quá trình cải tạo các mối quan hệ xã hội, trong quá trình xây dựng những giá trị tinh thần và vật chất” [142, tr.47-55]. - Nhân tố con người là hạt nhân cơ bản của tính tích cực hóa được biểu hiện “ở đặc trưng các cấp độ thể lực, tâm lý, xã hội trong con người, ở mức độ hiện thực hóa tác động của con người đến tất cả các mặt hoạt động của đời sống xã hội” [143, tr.145-148]. Các tác giả trên cho rằng, NTCN là tổng hòa các phẩm chất, thuộc tính, đặc trưng cho đến năng lực đa dạng và tiềm năng của con người mà chúng thường được biểu hiện dưới các dạng thức hoạt động khác nhau. Các tác giả đề cập đến vị trí, vai trò của con người với tư cách là chủ thể có ý thức, có mục đích đối với sự phát triển của xã hội; nhấn mạnh đến các phẩm chất, năng lực, đặc trưng nhân cách con người được thực hiện trong quá trình đối tượng hóa các lực lượng bản chất của con người (quá trình xuất tâm) và đồng thời thực hiện quá trình nhân cách hóa các thuộc tính của đối tượng (quá trình nhập tâm). Từ cấu trúc của hoạt động chuyển vào đầu thành cấu trúc tâm lý của hoạt động có chủ thể, có công cụ tâm lý (sức mạnh (động cơ) tâm lý, sức mạnh (động cơ) tinh thần), dưới các dạng hoạt động có tính định hướng tích cực và nhân đạo. Theo cách tiếp cận trên một số nhà nhiên cứu cho rằng, sẽ không làm nổi bật cơ sở quyết định sự hình thành, phát triển và sự biểu hiện các phẩm chất, thuộc tính đặc trưng và năng lực của con người là hoạt động; dễ lầm tưởng NTCN là một khái niệm chỉ giới hạn thuần túy trong lĩnh vực tinh thần. Một số nhà nghiên cứu còn theo hướng tiếp cận phức hợp - hệ thống về vấn đề bản chất của NTCN. Họ cho rằng, con người là yếu tố cơ bản và chủ yếu hợp thành của hệ thống xã hội. Con người hình thành nên bản chất xã hội là chính do thông qua hệ thống xã hội, và qua đó mới tự biểu hiện 12 được mình, mới khẳng định được bản chất của mình. Điều này, khi xem xét sức mạnh bản chất của con người, C. Mác không phải căn cứ vào sức mạnh của từng cá nhân, mà căn cứ vào sức mạnh của toàn xã hội. Bản chất con người theo tư tưởng của C. Mác trong “Luận cương về L. Phoiơbắc”: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [96, tr.11]. Xét cho cùng, “Trên thực tế, con người có hai mặt đan xen phức tạp và thống nhất với nhau: mặt sinh học và mặt xã hội. Trong từng mô của tế bào cấu thành con người, trong từng hành vi cụ thể của con người hình như cũng đã có hai mặt như thế” [115, tr.33]. Do đó, khi nghiên cứu theo hướng phức hợp - hệ thống, trước hết phải xem xét NTCN trong cấu trúc của hệ thống xã hội. Nhà nghiên cứu của Liên Xô (cũ), A.N. Leontiev đã phát triển và xây dựng nên lý thuyết hoạt động của con người trong tâm lý học. Theo ông, hoạt động của con người, nhất là hoạt động lao động mang tính định hướng, có mục đích, có đối tượng; là quá trình quan hệ tác động qua lại biện chứng lẫn nhau giữa chủ thể và khách thể. Hoạt động của con người tồn tại khi và chỉ khi được thiết lập trong các mối quan hệ giữa con người với con người và con người với xã hội. Theo A.N. Leontiev, cấu trúc của hoạt động con người cơ bản có sáu thành tố cấu thành, bao gồm: Hoạt động - Động cơ - Hành động - Mục đích Thao tác - Điều kiện, phương tiện. Nghĩa là, hoạt động nào cũng được con người định hướng và thúc đẩy vì một động cơ nhất định (cái ham muốn cần đạt tới). Song, mỗi hoạt động của con người được thể hiện bằng nhiều hành động để nhằm vào một mục đích nhất định (mục đích chính là động cơ gần, là cái biểu hiện ra bên ngoài của động cơ). Trong mỗi hành động là những chuỗi thao tác do phẩm chất, năng lực sẵn có và cùng với những điều kiện, phương tiện làm động cơ thúc đẩy, để con người vươn tới đạt được mục đích phía trước. Xét đến cùng, “Các thành tố hoạt động, hành động, thao tác tạo thành mặt đơn vị cơ bản của hoạt động; còn các thành tố động cơ, mục đích, điều kiện, phương tiện tạo thành mặt nội dung bên trong của hoạt động” [95, tr.189]. 13 Động cơ là động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động của con người. Động cơ chỉ xuất hiện khi nhu cầu của con người bắt gặp khách thể và có khả năng thỏa mãn các nhu cầu đó. Động cơ là cơ sở, nguồn gốc, là “lực hấp dẫn” có tính định hướng rõ ràng để con người tự điều chỉnh khả năng và hành vi hoạt động của mình. Song, nhu cầu chịu sự chi phối và quy định trực tiếp của môi trường xã hội, là điều kiện khách quan cho hoạt động của con người. Chính trong nhu cầu, khách thể (vật thể vật chất và cái vật chất đã được “nhân tính hóa”) sẽ trực tiếp xuất hiện và thông qua hoạt động của chủ thể là để thỏa mãn nhu cầu. “Thuộc về khách thể còn có cả những sản phẩm vốn có của tự nhiên nhưng đã chịu sự tác động của con người, đã được con người cải tạo, là những lượng vật chất do hoạt động của con người sáng tạo ra, chúng là cái vật chất đã được “nhân tính hóa” cho phù hợp với lợi ích, nhu cầu của chủ thể” [108, tr.9]. Như vậy, sự thỏa mãn nhu cầu thực chất là mối quan hệ giữa con người - chủ thể hoạt động với đối tượng - khách thể bị tác động. Nghiên cứu NTCN ở góc độ hoạt động trong tâm lý, sẽ thấy rõ nguồn gốc tích cực hoạt động của con người. Trong môi trường xã hội, hoạt động của con người không ngừng bị thôi thúc bởi động cơ, mà động cơ được xác định khi nhu cầu của con người bắt gặp đối tượng. NTCN và tính tích cực của con người là biểu hiện của mối quan hệ thực thể - thuộc tính. Nghiên cứu NTCN ở góc độ trên cho thấy rõ vai trò và chức năng của NTCN đối với sự phát triển xã hội, của đời sống tinh thần, tâm lý của chính con người. Nói cách khác, “nhân tố con người khi xem xét nó như là một trong những hệ thống động lực làm gia tăng sự phát triển kinh tế - xã hội, thì đó chính là con người với tất cả những đặc tính có tính bản chất của nó” [147, tr.3-9]. Tuy còn bộc lộ những chỉ số về mặt số lượng, nhưng cho thấy có những chỉ số phản ánh về mặt chất lượng thể hiện qua trình độ nhận thức, ý chí, năng lực, kỹ năng, kỹ xảo... của con người. 14 Nghiên cứu con người ở góc độ nhân cách - xã hội, cho thấy khi nhân cách con người được hình thành, phát triển (hoạt động và thông qua hệ thống giá trị, thang giá trị, thước đo giá trị, định hướng giá trị), thì NTCN sẽ thể hiện qua các chức năng và giá trị xã hội, qua mức độ hiện thực hóa phẩm chất và năng lực sáng tạo của nhân cách trong chuỗi hệ thống các mối quan hệ xã hội. Cho nên, để hiểu được bản chất NTCN phải áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, nghiên cứu từ nhiều khoa học khác nhau. Còn việc phân chia các cấp độ nghiên cứu chỉ mang tính tương đối khi nghiên cứu về con người, NTCN. Vì trong thực tiễn đời sống xã hội, con người chịu sự chi phối bởi các quan hệ xã hội, nên các cấp độ trên đan xen, tác động qua lại lẫn nhau và rất phức tạp. Việc sử dụng hướng nghiên cứu phức hợp - hệ thống, không những giúp nhận thức đầy đủ, đúng đắn về NTCN, mà còn có ý nghĩa quan trọng giúp những chủ thể tham gia vào các lĩnh vực hoạt động đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Nhìn chung, các tác giả trên đã tập trung làm sáng rõ bản chất xã hội, vai trò NTCN của xã hội và khẳng định ý nghĩa trực tiếp, quyết định của con người trong mọi tiến trình lịch sử, cũng như trong hoạt động, giao lưu, quan hệ của con người và nhiều vấn đề khác. Trong cuốn Vấn đề con người và chủ nghĩa “Lý luận không có con người” của Giáo sư Trần Đức Thảo, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 2000. Tác giả nhấn mạnh đến con người, về phương pháp luận nghiên cứu con người, mục đích để chứng minh con người có nhân tính là cái cơ bản chung của loài người. Từ đó, tác giả trình bày nguồn gốc ra đời “cái cơ bản chung” đó, đồng thời khẳng định đó là cơ sở của con người xã hội, con người giai cấp. Tác giả chỉ rõ con người có nhân tính và sau mới đúc kết thành nhân cách bằng con đường thông qua các mối quan hệ xã hội, bắt đầu từ mối quan hệ nguyên thủy ở thời kỳ cộng sản nguyên thủy, đến mối quan hệ gia đình đối với đứa trẻ ở độ tuổi nhi đồng - mà tác giả gọi là “cộng đồng gia đình”. Về mặt phương 15 pháp luận nghiên cứu về con người, Giáo sư Trần Đức Thảo chỉ rõ, nói dân chủ hóa trước hết phải bảo đảm đầy đủ quyền dân chủ cho người công dân. Do vậy, “vấn đề dân chủ hóa phải gắn liền với vấn đề con người và quyền con người nói chung, đó là “công bằng, bình đẳng giữa người với người, vào những giá trị chân chính của con người theo nghĩa chung của loài người: chân, thiện, mỹ” [128, tr.44]. Đặc biệt, tác giả đã nhấn mạnh đến quan hệ trong con người về ý thức, quyền con người và nghĩa vụ con người. Như vậy, tác giả cho thấy, dân chủ - con người - xã hội - bình đẳng - quyền con người là những vấn đề rất quan trọng, là mục tiêu của sự tiến bộ xã hội, là động lực trực tiếp của sự phát triển kinh tế, xã hội. 1.2. Những công trình tiêu biểu nghiên cứu nhân tố con người, phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Từ sau đổi mới, ở Việt Nam có những công trình nghiên cứu khoa học của các tập thể và cá nhân thu được nhiều kết quả quan trọng, thể hiện trong một số công trình tiêu biểu đã được công bố như sau: Trong cuốn Bàn về chiến lược con người, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1989 của Viện Thông tin Khoa học kỹ thuật Trung ương [137], các tác giả chỉ rõ chiến lược con người bao hàm các quan điểm cơ bản về sử dụng con người và vì con người, thể hiện thông qua các đường lối, chính sách, biện pháp thực hiện trong các lĩnh vực: phát triển dân số, nguồn lao động và việc làm, giáo dục và đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức và nhân tài cho đất nước, thu hút đóng góp của kiều dân ở nước ngoài, vấn đề dân chủ hóa và tôn trọng quyền con người, nâng cao mức sống và các phúc lợi xã hội, nhằm phát huy tối đa tính tích cực và sáng tạo của mỗi thành viên trong xã hội. Từ đó, các tác giả đã đề xuất những biện pháp về phát triển nông thôn, đa dạng hóa các thành phần kinh tế, đổi mới giáo dục và đào tạo, trọng dụng nhân tài, dân chủ hóa và thông tin hóa xã hội, 16 pháp luật hóa và “mở cửa” ra thế giới, cải thiện các điều kiện y tế và các phúc lợi xã hội… Tuy nhiên, việc gắn chiến lược con người đối với tiềm năng và phát triển con người là một quá trình lâu dài, không những được giải quyết về mặt nhận thức phải quán triệt quan điểm, tư tưởng, mà quan trọng là về mặt thực tiễn, phải được tổ chức thực hiện từ khâu điều khiển sự phát triển dân số, đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo, xác lập tiêu chuẩn cán bộ, đến thiết kế thang giá trị đạo đức xã hội, dân chủ hóa xã hội và tôn trọng quyền con người. Về vấn đề NTCN, nguồn lực con người gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa có các công trình tiêu biểu như: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa (của tác giả Phạm Minh Hạc, Nhà xuất bản Chính trị quốc qia, Hà Nội, 2001) [67]; Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (của tác giả Phạm Minh Hạc - Nguyễn Khoa Điềm chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2003) [69]; Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt nam (của Tiến sĩ Đoàn Văn Khái, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, 2005) [86]… Trong đó, tiêu biểu cuốn Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 (của tác giả Phạm Minh Hạc chủ biên), các tác giả chỉ rõ vấn đề phát huy và sử dụng đúng đắn vai trò động lực của con người phải “tìm cho ra những khâu then chốt cùng những phương hướng” để khi tác động vào đó “có thể khơi dậy, nuôi dưỡng, phát huy được tính tích cực của con người” [65, tr.192], nhằm thúc đẩy quá trình vận động của xã hội theo hướng tiến bộ. Từ đó, các tác giả đặt ra những vấn đề cần quan tâm như: công bằng xã hội, dân chủ, môi trường tâm lý - xã hội, niềm tin và điều kiện, khoa học và văn hóa là động lực chính để phát huy, sử dụng đúng đắn NTCN. Tuy nhiên, để giải quyết nó cần phải vạch ra một hệ thống động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, chứ không phải chỉ có một động lực nhất định nào đó. Vì hệ thống động lực bao gồm rất nhiều hiện tượng, mỗi hiện 17 tượng được coi là động lực khi nó tác dụng kích thích, thúc đẩy hoạt động của con người trong một điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và tùy thuộc vào đó, mà hiện tượng này hay hiện tượng kia được coi là động lực. Một số luận án tiến sĩ như: Nhân tố con người và những biện pháp nhằm phát huy nhân tố con người trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay của tác giả Trần Thị Thủy, Luận án Tiến sĩ triết học, 2000 [130]; Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với việc phát huy nhân tố con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay của tác giả Lê Quang Hoan, Luận án tiến sĩ Triết học, 2001 [75]; Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với vấn đề đào tạo người lao động trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay (từ thực tiễn Đồng bằng sông Cửu Long) của tác giả Trần Thanh Đức, Luận án tiến sĩ Triết học, 2002 [41],... Trong đó, dưới góc độ triết học, tác giả Trần Thanh Đức nghiên cứu NTCN trong lực lượng sản xuất quan niệm rằng, NTCN là một nhân tố xã hội, nói lên sức mạnh tổng hợp của chủ thể trong quan hệ với khách thể, mà hoạt động thực tiễn là quan trọng nhất, đem lại sự phát triển cho xã hội và cho chính bản thân con người. Theo tác giả, nội dung cấu thành NTCN bao gồm những tiêu chí về số lượng và chất lượng của dân số và lao động; những tiêu chí về nhân cách, về chức năng xã hội của con người, nói lên khả năng sáng tạo của con người trong hệ thống các quan hệ xã hội, nói lên giá trị và trình độ phát triển của con người bao gồm cả năng lực chuyên môn, thái độ lao động, ý thức xã hội chính trị, những giá trị và chuẩn mực đạo đức. Ưu điểm của tác giả khi xem xét NTCN trong lực lượng sản xuất, là đã có sự khái quát cao, đặt nhân tố này trong các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, trong sự tác động, kết hợp của các yếu tố đó. Tuy nhiên, tác giả chỉ đi sâu phân tích, tìm hiểu NTCN trong lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, điều đó không có nghĩa là NTCN trong lực lượng sản xuất có thể quyết định khi nó hoàn toàn biệt lập với nguồn lực tự 18 nhiên và với các nguồn lực khác, mà cho đến hiện nay, các nguồn lực khác đều cần thiết và rất quan trọng, nhiều khi trong sự tương quan nó còn giữ vai trò quyết định. 1.3. Những công trình tiêu biểu nghiên cứu nhân tố con người, phát huy nhân tố con người trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh Trong lĩnh vực này có rất nhiều công trình khoa học, luận án tiêu biểu đã tiếp cận nghiên cứu thành công như: Quan hệ giữa vũ khí và con người trong chiến tranh hiện đại của tác giả Vũ Quang Tạo, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2007 [124]; Mối quan hệ biện chứng giữa con người và vũ khí trong sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam của tác giả Phạm Thanh Sơn, Luận án PTS triết học, 1994 [119]; Nâng cao chất lượng của nhân tố con người trong sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay của tác giả Hoàng Quang Đạt, Luận án PTS triết học, 1995 [38]; Tích cực hóa nhân tố con người của đội ngũ sĩ quan trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Văn Tài, Luận án PTS triết học, 1998 [120]; Phát huy nhân tố con người bộ đội pháo binh Việt Nam trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay của tác giả Nguyễn Đức Khang, Luận án tiến sĩ triết học, 2002 [87]; Phát huy nguồn lực cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự trẻ trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Minh Thắng, Luận án tiến sĩ triết học, 2006 [129]; Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ giảng viên trong các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Hòa, Luận án tiến sĩ triết học, 2007 [77];... Các tác giả đi sâu nghiên cứu NTCN, tích cực hóa NTCN ở góc độ hoạt động - giá trị - nhân cách và đưa ra quan niệm rằng, NTCN là hệ thống các yếu tố, các đặc trưng quy định vai trò chủ thể tích cực, sáng tạo của con người, bao gồm một chỉnh thể thống nhất giữa mặt hoạt động với tổng hòa các đặc trưng về phẩm chất, năng lực của con người trong một quá trình biến đổi và phát triển xã hội nhất định. Tiêu biểu là tác giả Nguyễn 19 Văn Tài, nhấn mạnh đến hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, chỉ ra cấu trúc NTCN cấu thành hai mặt cơ bản: Mặt thứ nhất, chỉ khả năng hoạt động của con người được thể hiện trong hoạt động thực tiễn và hoạt động lý luận; hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Thông qua hoạt động, hoạt động thực tiễn, con người sẽ bộc lộ ra bản chất, nhân cách, ý thức... mới đóng vai trò là lực lượng vật chất quyết định tới sự vận động, phát triển xã hội. Mặt thứ hai, chỉ tổng hòa những đặc trưng về phẩm chất và năng lực của con người được thể hiện trong phẩm chất chính trị - đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn. Xét đến cùng, hai mặt của NTCN quan hệ biện chứng với nhau, cấu thành một chỉnh thể thống nhất, luôn luôn vận động biến đổi, phát triển. Trong đó, nhân tố hoạt động giữ vị trí tính thứ nhất, phẩm chất và năng lực giữ vị trí tính thứ hai. Chính trong một chỉnh thể thống nhất và quan hệ biện chứng, nên nó vừa là tiền đề, điều kiện cho nhau, vừa là hợp lực tạo nên động lực bên trong của sự phát triển NTCN. Từ đó bản chất, chức năng xã hội và vai trò chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo của NTCN được biểu hiện, trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội. Cách phân chia cấu trúc NTCN của tác giả Nguyễn Văn Tài mang tính khái quát cao, nêu bật được nội hàm của khái niệm NTCN. Tuy nhiên, phân chia cấu trúc NTCN không chỉ giới hạn ở phạm vi nội hàm của khái niệm, mà còn được phản ánh trong toàn bộ nội dung khái niệm NTCN, thể hiện ở những quan hệ bên trong, giữa các thành phần cấu thành một chỉnh thể thống nhất, quan hệ biện chứng của NTCN. Vì rằng, NTCN là một khái niệm “động”, có tính nhiều mặt nên là chỗ “hội tụ” của nhiều mặt, nhiều phương diện khác nhau. Các mặt hoạt động (hoạt động thực tiễn), các phương diện khác nhau (phẩm chất, năng lực…) quan hệ chặt chẽ, gắn bó và không tách rời nhau trong NTCN, mang những dấu hiệu đặc trưng cơ bản, riêng biệt về vai trò chủ thể của NTCN. Trong quá trình biến đổi, phát triển lịch sử - xã hội, NTCN không những đóng vai trò là chủ thể, mà còn là kết quả, mục tiêu, động lực 20 của quá trình biến đổi và phát triển đó. Điều này cho thấy, sức mạnh của NTCN chính là sức mạnh của tập thể, cộng đồng và được bắt nguồn trong từng con người, trong từng cá nhân. Tất nhiên, phải đặt nó trong mối quan hệ giữa phương diện cá nhân, cá thể và phương diện nhóm xã hội, cộng đồng xã hội của NTCN; là mối quan hệ biện chứng giữa cái cái riêng và cái chung, giữa cái bộ phận vá cái tổng thể. Vì lẽ, những đặc trưng, bản chất mặt xã hội của NTCN được hình thành và phát triển gắn liền với mặt sinh học, sinh thể của con người. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về NTCN đã được các tác giả làm rõ về đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, cũng như nội dung của khái niệm trong mối quan hệ chặt chẽ với những giải pháp nhằm phát huy NTCN trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và BVTQ. Mặc dù, mang tính khái quát cao, nhưng hướng tiếp cận những vấn đề của các tác giả trên chỉ nghiên cứu chuyên biệt, đi sâu nghiên cứu trong từng lĩnh vực ngành, nghề theo góc độ chuyên môn, hoặc chỉ nhấn mạnh đến những khía cạnh thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài. Do vậy, vấn đề NTCN, phát huy NTCN vẫn còn tồn tại những mâu thuẫn nhất định trong quan niệm, cũng như hướng tiếp cận nghiên cứu để giải quyết những vấn đề khác có liên quan. Song, sự tồn tại những mâu thuẫn, những hướng nghiên cứu đó là một tất yếu khách quan. Đó cũng là động lực giúp tác giả bước đầu nghiên cứu để làm sáng rõ vấn đề “Phát huy nhân tố con người lực lượng vũ trang Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay”. 2. Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết Các tác giả trên đã tiếp cận nghiên cứu NTCN từ nhiều hướng khác nhau, từ nhiều góc độ khác nhau và đưa ra những quan niệm khác nhau về NTCN, phát huy NTCN. Họ tìm kiếm con đường, giải pháp để phát huy tính tích cực chính trị - xã hội của con người trong hoạt động và trong đời sống thực tiễn. Điều đó cho thấy, “Tính độc đáo, tính bí ẩn và tính phong phú của con người, một thực thể vừa tự nhiên, vừa xã hội, vừa tinh thần” [116, tr.56], là 21 điều kiện lý tưởng cho các nhà khoa học nghiên cứu và triển khai tư tưởng của mình về cách tiếp cận phức hợp - liên ngành. Có thể nói, các công trình khoa học đã được công bố của các tác giả trên tập trung thể hiện rõ khái niệm NTCN và vấn đề phát huy NTCN, làm rõ quan điểm nhất quán của Đảng ta coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, cũng như trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và BVTQ. Bên cạnh những thành tựu cơ bản của các công trình khoa học có liên quan, đề tài luận án “Phát huy nhân tố con người lực lượng vũ trang Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay” của tác giả còn những vấn đề đặt ra cần được giải quyết. Những vấn đề được thể hiện như sau: * Thứ nhất, các công trình khoa học nêu trên, xét về mặt lý luận, các tác giả nhấn mạnh tới bản chất, phát huy NTCN, nhất là nghiên cứu trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh, một số tác giả gần đây tiếp cận theo hướng nghiên cứu cơ bản của tác giả Nguyễn Văn Tài, đó là “tích cực hóa đội ngũ sĩ quan” trong học viện, nhà trường hay cấp phân đội, đã luận giải bản chất, thực chất của việc tích cực hóa theo góc độ chung nhất. Tác giả tiếp cận nghiên cứu vấn đề trên cho rằng, đặc trưng bản chất phát huy NTCN LLVT Quân khu 9 chính là tính sáng tạo. Chính tính sáng tạo đã hình thành cho NTCN LLVT Quân khu 9 ra nhiều cách đánh địch rất đa dạng, phong phú trên chiến trường ĐBSCL và đã giành nhiều thắng lợi to lớn trong chiến tranh giải phóng. Đây là phẩm chất độc đáo nhất của việc phát huy NTCN LLVT Quân khu 9 trong thời kỳ hòa bình xây dựng, cũng như trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Mặt khác, những vấn đề có tính quy luật phát huy NTCN đối với LLVT Quân khu 9 chưa được công trình nào đề cập, nghiên cứu và luận giải mang tính đặc thù riêng. Do đó, vấn đề được đặt ra trong luận án nghiên cứu giải quyết là thực chất phát huy NTCN và những vấn đề có tính quy luật phát huy NTCN LLVT Quân khu 9 trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ hiện nay.
- Xem thêm -