Tài liệu Phát huy giá trị văn hóa trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của người khơ mú ở huyện văn chấn tỉnh yên bái

  • Số trang: 99 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 129 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ  PHẠM NGỌC ANH PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG HÔN NHÂN VÀ TỤC LỆ CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI KHƠ - MÚ Ở HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC HÀ NỘI - 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ  PHẠM NGỌC ANH PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG HÔN NHÂN VÀ TỤC LỆ CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI KHƠ - MÚ Ở HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học Mã số: 60 22 85 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN VĂN SƠN HÀ NỘI - 2012 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI KHƠ-MÚ, ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN VÀ TỤC LỆ CƢỚI XIN CỦA NGƢỜI KHƠ-MÚ Ở HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI....................................................................... 6 1.1. Vài nét về người Khơ-mú ở Việt Nam ........................................................ 6 1.1.1. Tên gọi, dân số, địa bàn cư trú ......................................................... 6 1.1.2. Lịch sử tộc người ............................................................................. 6 1.1.3. Đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa của người Khơ-mú .................. 8 1.2. Khái quát về người Khơ-mú ở Huyện Văn Chấn, Tỉnh Yên Bái ............... 11 1.2.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ....................................................... 11 1.2.2. Dân số và dân cư ............................................................................ 12 1.2.3. Lịch sử cư trú ................................................................................. 13 1.2.4. Các hoạt động kinh tế..................................................................... 14 1.2.5. Tổ chức xã hội ............................................................................... 15 1.2.6. Văn hoá truyền thống ..................................................................... 17 1.3. Hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ mú ở Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.......................................................................................... 20 1.3.1. Hôn nhân truyền thống của người Khơ-mú .................................... 20 1.3.2. Những nét văn hóa trong tục lệ cưới xin của người Khơ-mú .......... 33 Chƣơng 2. THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI, NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRONG HÔN NHÂN VÀ TỤC LỆ CƢỚI XIN CỦA NGƢỜI KHƠ-MÚ Ở VĂN CHẤN YÊN BÁI ............................... 55 2.1. Thực trạng những biến đổi trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái ........................... 55 2.1.1. Thực trạng và những biến đổi trong hôn nhân ........................... 55 2.1.2. Thực trạng và những biến đổi trong nghi lễ cưới xin ...................... 64 2.1.3. Nguyên nhân của sự biến đổi trong hôn nhân và tục lệ cưới xin ........ 73 2.2 Giải pháp phát huy giá trị truyền thống trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ Mú ở Văn Chấn, tỉnh Yên Bái ......................... 75 2.2.1. Phát huy giá trị văn hóa trong hôn nhân ......................................... 75 2.2.2. Phát huy giá trị văn hóa trong tục lệ cưới xin ................................. 79 2.3. Một số kiến nghị giải pháp ....................................................................... 83 KẾT LUẬN ...................................................................................................... 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 90 PHỤ LỤC .................................................................................................... 93 MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Hôn nhân và cưới xin là một trong những sự kiện hệ trọng trong vòng đời của con người, là mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành và khẳng định vai trò của mỗi con người trong gia đình, dòng họ và trong xã hội. Không riêng ở Việt Nam mà khắp mọi nơi trên thế giới, vấn đề hôn nhân luôn được các dân tộc coi trọng và dành được sự quan tâm đặc biệt. Hôn nhân và tục lệ cưới xin thể hiện rõ đặc trưng văn hóa riêng, đậm đà bản sắc của mỗi tộc người. Trong nhiều năm trở lại đây, dưới tác động của các điều kiện kinh tế-xã hội, nhất là sự tác động của kinh tế thị trường làm cho đời sống văn hoá và các phong tục tập quán truyền thống đã có những thay đổi về nhiều mặt cả tích cực và tiêu cực làm ảnh hưởng nhiều đến việc gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống dân tộc. Vì vậy, việc nghiên cứu các phong tục tập quán truyền thống trong đó có hôn nhân và cưới xin của các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc thiểu số được đặt ra như một nhiệm vụ cấp thiết. Cho đến nay, người Khơ-mú ở Việt Nam không đông. Cả nước có 56.542 người (năm 1999), trong đó trên địa bàn tỉnh Yên Bái, người Khơ-mú có hơn 1.000 người. Văn Chấn là huyện duy nhất trong tỉnh có nhiều người Khơ-mú sinh sống. Do tác động của nền kinh tế thị trường, do có sự giao thoa văn hóa của các tộc người sống xen kẽ, những năm qua vấn đề hôn nhân gia đình và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú đã có nhiều thay đổi theo những chiều hướng khác nhau. Đặc biệt là đã bắt đầu xuất hiện một số vấn đề làm ảnh hưởng đến gìn giữ bản sắc văn hóa trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ- mú ở Yên Bái. Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu về hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. 1 Luận văn sẽ góp phần nâng cao nhận thức về văn hoá truyền thống của người Khơ-mú nói chung, ở Văn Chấn nói riêng. Từ đó, thấy được những giá trị tích cực cũng như những yếu tố không còn phù hợp trong quá trình xây dựng đời sống văn hoá mới. Đồng thời có thêm luận cứ khoa học giúp cho các nhà quản lý ở địa phương có thêm cơ sở khoa học trong việc hoạch định chính sách và tìm ra các giải pháp thích hợp trong việc bảo lưu, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị T.W 5, khoá 8 về Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: Phát huy giá trị văn hoá trong Hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái làm luận văn thạc sĩ của mình. 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Cho đến nay, đã có một số các tác giả người nước ngoài nghiên cứu về người Khơ-mú nhưng chủ yếu về người Khơ-mú ở Lào và Thái Lan, ở Việt Nam còn rất ít, ngoại trừ công trình Études Ethnographiques sur les Khas, Revue Indochinoise, 1907, của Macey và bài viết Chương trong văn học dân gian, trong lịch sử và tiềm thức của người Khơ-mú của TS. Frank Proschan. Tuy nhiên, so sánh với các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme miền Bắc, thì Khơ-mú cũng là tộc người được nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm, chú ý. Ngay sau 1954, người Khơ-mú được nhiều người biết đến qua các báo cáo của Ban Dân tộc Khu Uỷ Tây Bắc với tộc danh là Xá. Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ trước, các công trình nghiên cứu có liên quan đến người Khơ-mú bắt đầu được công bố như: Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam, 1963 và Sự phân bố dân tộc và nhóm dân cư ở miền Bắc Việt Nam, 1966 của Vương Hoàng Tuyên. Từ sau 1975, người Khơ-mú ngày càng được giới thiệu nhiều hơn trong các công trình, bài viết, tiêu biểu như: Những nhóm dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Tây Bắc Việt Nam do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, Nxb Khoa học xã 2 hội H, 1972; Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của Viện Dân tộc học, Nxb Khoa học xã hội, H, 1978; Dân tộc Khơ-mú ở Việt Nam do Khổng Diễn chủ biên, Nxb Văn hoá Dân tộc, H, 1999; Người Khơ-mú do Chu Thái Sơn chủ biên, Nxb Trẻ -2006; Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An của Nguyễn Đình Lộc, Nxb Nghệ An, 1993; Đặc trưng văn hoá và truyền thống cách mạng các dân tộc ở Kỳ Sơn, Nghệ An do Phạm Quang Hoan chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1995; Xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam của Viện Dân tộc học, Nxb, Khoa học xã hội, H, 1975; Góp phần nghiên cứu bản lĩnh, bản sắc các dân tộc Việt Nam của Viện Dân tộc học, Nxb, Khoa học xã hội, H, 1980; Sổ tay các dân tộc ở Việt Nam của Viện Dân tộc học, Nxb, Khoa học xã hội, H, 1983; Dân tộc và bản sắc văn hoá vùng Văn Chấn, Mường Lò của Bùi Huy Mai, Nxb Văn hoá Dân tộc, H, 2007… Trong các công trình, bài viết kể trên, người Khơ-mú đã được giới thiệu khá đầy đủ từ góc độ tộc danh, dân số, địa bàn cư trú... cho đến các hoạt động kinh tế truyền thống, các dạng thức văn hoá cổ truyền của họ. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn thiếu vắng một khảo cứu mang tính chuyên sâu về phong tục hôn nhân và cưới xin của họ. Đặc biệt, vẫn còn rất ít các công trình, bài viết riêng về người Khơ-mú ở Văn Chấn nói chung, và phong tục hôn nhân và cưới xin của họ nói riêng. Mặc dù vậy, đây là những tư liệu hết sức quý giá, giúp tôi trong quá trình thực hiện luận văn. Tuy nhiên chưa có dề tài nghiên cứu sâu sắc về những giá trị văn hoá của hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ mú dưới góc độ xã hội- chính trị. 3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU * Mục đích Đánh giá thực trạng và tìm ra những giải pháp gìn giữ, phát huy những giá trị văn hoá trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. 3 * Nhiệm vụ Làm rõ những giá trị văn hoá trong hôn nhân và cưới xin của người Khơ- mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái cần phát huy và những hạn chế Đề xuất giải pháp để phát huy giá trị văn hoá trong hôn nhân và cưới xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. 4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU * Đối tượng nghiên cứu: Những giá trị văn hoá trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú, những yếu tố truyền thống và những yếu tố biến đổi. * Phạm vi nghiên cứu là người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, Ngoài ra, luận văn cũng có so sánh với hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú ở Yên Bái với người Khơ-mú ở một số địa phương khác như ở Nghệ An, Hà Tĩnh... qua tham khảo các tài liệu đã công bố. 5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn sử dụng các phương pháp: phương pháp luận mác xít và phương pháp nghiên cứu chính trị- xã hội. Trong đó luận văn cũng sử dụng các phương pháp khác: phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp. Ngoài ra, luận văn có sử dụng phương pháp khảo sát thực địa: bao gồm quan sát, ghi chép, chụp ảnh, ghi âm. 6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN Đây là nghiên cứu có tính tổng hợp, đầy đủ và chuyên sâu đầu tiên về hôn nhân và tục lệ cưới xin dưới góc độ chính tri- xã hội của người Khơ-mú huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Luận văn góp phần làm cơ sở khoa học cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá truyền thống của người Khơ-mú tại địa phương và là tài liệu phục vụ cho giảng dạy môn Lý luận chính trị. 4 7. BỐ CỤC LUẬN VĂN Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được bố cục thành 2 chương: Chương 1: Khái quát về người Khơ-mú, đặc điểm hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Chương 2: Thực trạng, những giải pháp phát huy giá trị văn hoá trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. 5 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI KHƠ-MÚ, ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN VÀ TỤC LỆ CƢỚI XIN CỦA NGƢỜI KHƠ-MÚ Ở HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI 1.1. Vài nét về ngƣời Khơ-mú ở Việt Nam 1.1.1. Tên gọi, dân số, địa bàn cư trú Người Khơ-mú là một trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Cho đến nay, dân số người Khơ-mú ở Việt Nam không đông. Theo số liệu thống kê năm 1999, dân tộc Khơ-mú có 56.542 người, đứng thứ 23 trong 54 các dân tộc Việt nam. Họ chủ yếu cư trú tại các tỉnh: Nghệ An, Thanh Hóa, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái... Khơ-mú là một trong sáu tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me (của Ngữ hệ Nam Á) miền Bắc Việt Nam. Người Khơ-mú tự gọi mình là Khmụ, Kmh mụ hoặc Kừm mụ tuỳ theo cách phát âm ở từng địa phương. Những tên ấy có nghĩa chung là “người” hay “cộng đồng người”. Tuy vậy, trước ngày hoà bình lập lại (1954) thì các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me ở Tây Bắc nói chung và người Khơ-mú nói riêng vẫn thường được gọi bằng tên phổ biến là Xả hoặc Xá (với nghĩa thấp hèn, da đen như cái giàn bếp). Ngoài tên Xá, người Khơ-mú còn được các dân tộc gọi bằng những tên khác nhau: Xá Cẩu, Khá Klẩu, Mảng Cẩu (người búi tóc ngược), Tềnh, Phu Thênh (người ở trên núi cao), Tày Hạy (người chuyên làm nương), Mứn Xen (ngàn vạn) v.v… Sau đợt xác minh thành phần dân tộc (1968-1978), Khơ-mú trở thành tên gọi chính thức, được ghi trong Danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam, công bố năm 1979. 1.1.2. Lịch sử tộc người Khi xem xét về nguồn gốc và lịch sử của người Khơ-mú ở Tây Bắc Việt Nam, trước đây có ý kiến cho rằng cùng với người Kháng, Xinh-mun, 6 Mảng, Khơ-mú cũng là một trong những cư dân bản địa đã cư trú lâu đời ở vùng núi Tây Bắc. Ý kiến này được trình bày trong tài liệu “Báo cáo về tình hình người Xá Cẩu” của Ban Dân tộc Tây Bắc năm 1954. Sau này, Lã Văn Lô, Vương Hoàng Tuyên cũng có nhắc lại trong các bài viết của mình. Theo truyền thuyết trong truyện “Quả bầu” của Người Thái Tây Bắc cũng kể rằng: Tổ tiên của người Khơ-mú và người Thái đều chui ra từ một quả bầu nhưng người Khơ-mú thì chui ra trước theo lỗ dùi bằng sắt nhọn, nên có màu da đen, còn tổ tiên người Thái thì chui ra sau bằng lỗ dao khoét, nên có màu da trắng hơn. Có lẽ vì thế mà người ta cho rằng truyền thuyết “Chương Han” vốn là của người Khơ-mú, nói về một vị tù trưởng của mình đã một thời tập hợp được hàng ngàn binh lính đánh chiếm được nhiều vùng rộng lớn; sau đó người Thái tiếp thu cốt truyện này để sáng tác và phát triển thành một truyện thơ đồ sộ, hào hùng mà ngày nay người ta quen gọi là: “Sử thi Chương Han” hay “Anh hùng ca Khủn Thưởng”, đồng thời biến Chương Han thành người Thái từ đó. Trong một sử thi khác của người Thái cũng có đoạn nói rằng: Khi họ đến đánh chiếm lưu vực sông Đà, sông Mã, Nậm U, Nậm Khoóng thì có gặp một giống người được gọi là Xá Chi vốn sinh ra từ quả bầu thần thoại với người Thái, cũng có tục đội khăn piêu buông sau gáy nên “Không chia hai nửa đánh nhau”. Nếu như Xá Chi là tổ tiên của người Khơ-mú như sử thi đã miêu tả thì tộc người này đã có mặt ở Tây Bắc từ thế kỷ thứ XI hoặc thế kỷ thứ XII vì nó trùng khớp với thời gian người Thái Đen thiên di từ Mường Lò (Yên Bái) vào sông Đà, sông Mã, Nậm U, Nậm Khoóng. Tuy nhiên, ngay từ đầu đã có những ý kiến nghi ngờ về quan điểm người Khơ-mú là cư dân bản địa miền Tây Bắc nói trên. Sau những đợt điền dã ở vùng Tây Bắc từ những năm 1960, GS. Đặng Nghiêm Vạn đã đưa ý kiến nghi ngờ này trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 78/1965 và chứng minh rằng Khơ-mú không phải là cư dân bản địa miền Tây Bắc, mà họ mới di cư từ Lào 7 sang Việt Nam cách đây hơn 200 năm. Đến nay, với những tư liệu và tài liệu thu thập được, ý kiến này vẫn phù hợp. Về mặt nhân chủng, khi so sánh người Khơ-mú với người Kháng và người La Ha, Nguyễn Đình Khoa cũng nhấn mạnh, ở người Khơ-mú, yếu tố Inđônêdiêng trội hơn yếu tố Nam Á, mặc dù yếu tố Inđônêdiêng ở họ cũng đang mờ dần. Các truyền thuyết về tranh chấp đất đai của người Thái cũng không thấy nhắc gì tới người Khơ-mú. Như vậy có thể khẳng định rằng, nguồn gốc của người Khơ-mú là từ Lào (tập trung ở Luông Pra Băng với các vương quốc Swa/Saowa), nhưng sau này người Thái do tù trưởng Khun Bo Rôm cùng con trai là Khun Lò tràn từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống đánh chiếm, cộng thêm các cuộc xâm lược từ bên kia sông Mê Công của phong kiến Xiêm thế kỷ XVII-XVIII, nên họ phải chạy sang các nước láng giềng lánh nạn, trong đó có miền Tây Bắc, miền núi Thanh - Nghệ và cả Bắc Thái Lan. Sau này, với mong muốn khôi phục lại vương quốc, thủ lĩnh Chương Han mới tổ chức lực lượng đánh chiếm nhiều nơi, gọi là nạn giặc Chương (xấc Chương), trong đó có nhiều lần đánh sang cả Mường Lay (Lai Châu), Kỳ Sơn (Nghệ An) vào những năm cuối thế kỷ XIX. Sau khi Chương Han thất bại, những người theo ông phải ở lại Việt Nam và chịu thân phận cuông, nhốc (tức là nô lệ, tôi tớ) cho các lãnh chúa Thái. 1.1.3. Đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa của người Khơ-mú Hầu hết người Khơ-mú đều lấy canh tác nương rẫy làm nguồn sống chính. Ngoài trồng lúa, bà con còn trồng các loại ngô, sắn, bầu bí, cây ăn quả. Công việc hái lượm, săn bắt, đánh bắt cá còn chiếm vị trí khá quan trọng trong đời sống hàng ngày. Ngoài ra chăn nuôi gia súc, gia cầm phổ biến ở hầu hết trong các gia đình. Nghề thủ công truyền thống phát triển nhất là đan lát với nhiều sản phẩm đan có tiếng như mâm mây, gùi, ghế và các đồ gia dụng khác. Trao đổi chủ yếu diễn ra trong nội bộ và với người Thái. Trước kia, trao đổi chủ yếu dưới hình thức vật đổi vật, nay phổ biến dùng tiền. 8 Xã hội cổ truyền của người Khơ-mú được tổ chức theo thiết chế bảnmường của người Thái. Các bản Khơ-mú đều trực thuộc mường, nhưng vẫn được duy trì việc tự quản theo tập quán truyền thống. Mỗi bản có trưởng bản Khun cung (cha truyền con nối, do bầu bán hay do chỉ định) đứng đầu điều hành, quản lý. Hằng năm, mỗi bản phải chịu cống nạp và lao dịch theo lệ mường quy định. Ngoài ra, còn phải nộp các loại thuế cho chúa đất mường là người Thái. Từ trước tới nay, người Khơ-mú thường ở thành từng bản làng, vẫn có tập quán ở nhà sàn, kiểu nhà hình khum mai rùa. Do du canh du cư, nên kiểu nhà truyền thống của họ thường chỉ làm bằng các loại gỗ tạp, ba gian, lợp tranh hay lá cọ, đầu hồi có trang trí khau cút hình chéo. Thông thường có hai bếp: bếp dành để nấu ăn hàng ngày và một bếp chỉ dùng để nấu nướng khi giỗ tổ họ hay khi làm nhà lớn. Nơi thờ ma nhà thường bố trí thành một gian riêng tại hồi phía sau. Sau này, nhiều bản đã định cư, nên nhà cửa có phần khang trang hơn. Trừ một số nơi có nghề dệt, còn lại hầu hết người Khơ-mú thường đem các sản phẩm đan lát đổi lấy vải của người Thái về sử dụng. Hiện nay, ở Điện Biên, Lai Châu, phụ nữ Khơ-mú còn mặc váy đen và kiểu áo truyền thống có trang trí hàng cúc bạc hay nhôm hình chữ nhật, đội khăn đen kiểu khăn piêu; còn lại thường mặc y phục kiểu phụ nữ Thái, thường đeo các đồ trang sức bằng bạc, nhôm như: vòng cổ, vòng tay, khuyên tai; Đàn ông Khơ-mú mang trang phục của người Thái hoặc trang phục của người Kinh và thường đội mũ đen. Người Khơ-mú gọi dòng họ là tạk hay sinh, để chỉ những nhóm người cùng huyết thống và những người cùng tổ tiên huyền thoại, thể hiện qua việc kiêng cữ và thờ chung một vật tổ tô tem (động vật hay thực vật). Các họ mang tên thú gồm: Rvai (hổ), Rvaivêngung (hổ vằn), Rvaitlắp (báo), Rvaiđer (hổ xám...); Tmoong (chồn, cầy hương). Các họ mang tên chim gồm: Chưnđre 9 (chim màu trắng); Tgooc (chim đuôi dài); Ric (chim én); Pit (chim cú); Thràng (đại bàng); Ôm (rẻ quạt); Elót (chim elót). Họ mang tên thực vật gồm: Tvạ (dương xỉ). Họ mang tên vật vô tri vô giác có: Soong (cái rọ lợn). Gia đình là tế bào của xã hội, thực hiện nhiều chức năng quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống, tác động rất lớn đến sự phát triển của xã hội, đến tư tưởng và ý thức tộc người. Với người Khơ-mú, hình thức gia đình cũng giống như người Việt, đó là quá trình phát triển từ hình thức đại gia đình đến gia đình hạt nhân. Trong qua trình phát triển của xã hội, hình thức đại gia đình ngày càng giảm dần, thay vào đó là gia đình hạt nhân, gia đình nhỏ với hai thế hệ vợ chồng và con cái. Gia đình người Khơ-mú là gia đình phụ quyền, người chồng, người cha là người chủ gia đình, có vai trò quan trọng nhiều mặt của cuộc sống: có quyền hành lớn, quyết định mọi việc từ làm ăn, cưới xin, tang ma đến công việc tín ngưỡng. Đồng thời, họ còn là người thay mặt gia đình quan hệ với họ hàng, làng xóm và các tổ chức xã hội, với chính quyền địa phương. Mọi tài sản trong nhà, kể cả ruộng nương, trâu bò, công cụ sản xuất đều do người đàn ông là người chủ nắm giữ. Quyền lực này sẽ được bàn giao lại cho con trai cả khi đã trưởng thành đảm đương, người cha chỉ đóng vai trò cố vấn và lo việc đối ngoại. Bên cạnh quyền lực thực tế của người chồng người cha được xã hội ghi nhận, người phụ nữ (người mẹ) trong gia đình người Khơ-mú có vai trò quan trọng trong đời sống gia đình và sản xuất, từ việc tham gia lao động sản xuất trên nương, ngoài ruộng đến các công việc nội chợ trong gia đình, nuôi dạy con cái… ngoài việc tham gia lao động nặng nhọc, người phụ nữ đảm nhận lớn hơn nam giới rất nhiều. Tuy nhiên trong xã hội truyền thống của người Khơ-mú, người phụ nữ hầu như không có quyền hành gì lớn trong gia đình. 10 Khi còn nhỏ chịu sự quản lý của gia đình, cha mẹ, khi có chồng thi theo chồng, phụ thuộc vào chồng. Trong gia đình người Khơ-mú, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái tương đối bình đẳng. Con cái phải có hiếu với cha mẹ, phải kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng và vâng lời cha mẹ. Cha mẹ phải chăm lo nuôi nấng, giáo dục con cái, truyền đạt kinh nghiệm sản xuất, các nghề thủ công, các công việc trong gia đình. Cha mẹ uốn nắm con cái về lời ăn tiếng nói, cách ửng xử trong gia đình và với cộng đồng. Gia đình người Khơ-mú là nơi bảo tồn các gía trị văn hóa truyền thống, là nơi trao truyền các truyền thống tộc người trong văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. 1.2. Khái quát về ngƣời Khơ-mú ở Huyện Văn Chấn, Tỉnh Yên Bái Trên địa bàn tỉnh Yên Bái, người Khơ-mú chỉ có hơn 1.500 người tập trung sinh sống tại: Nghĩa Sơn (huyện Văn Chấn) và Túc Đán (huyện Trạm Tấu). Mặc dù số lượng không nhiều, song người Khơ-mú ở Văn Chấn, Yên Bái cũng tạo dựng được những nét văn hóa tộc người độc đáo, có bản sắc riêng. 1.2.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Văn Chấn là một trong những địa danh ở miền núi Tây Bắc có người Khơ-mú sống tập trung với tỷ lệ cao và còn giữ được nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa dân tộc mình. Tuy chỉ cách thị xã Nghĩa Lộ chưa đến 10km và cách huyện lỵ Văn Chấn gần 20km nhưng nơi cư trú của người Khơ-mú (Nghĩa Sơn) là một vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Phía Đông giáp phường Pú Trạng; phía Nam giáp xã Nghĩa An; phía Bắc giáp xã Nghĩa Phúc (thuộc thị xã Nghĩa Lộ); phía Tây giáp xã Túc Đán (thuộc huyện Trạm Tấu). Nơi cư trú và canh tác của người Khơ-mú ở Văn Chấn có tổng diện tích hơn 927 ha, trong đó đất nông nghiệp 43 ha; đất rừng tự nhiên 41,6 ha; đất 11 rừng tái sinh 315,5 ha; đất rừng kinh tế 130 ha; đất rừng phòng hộ 130 ha; đất trồng lúa nương và cây màu 155 ha; các loại đất khác hơn 92 ha. Nhìn chung địa hình phức tạp, có độ dốc vừa và thoải, nên có điều kiện canh tác ruộng bậc thang. Là vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, thời tiết chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Mùa khô chịu ảnh hưởng của gió nóng theo hướng tây nam thổi từ Mù Cang Chải và Văn Chấn. Trên địa bàn có hai con suối chảy qua Nghĩa Sơn: suối Huông dài 4 km và suối Nậm Tộc dài hơn 10 km, đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Hai con suối này có giá trị tưới tiêu, nước sinh hoạt và thủy điện nhỏ. Vào mùa mưa, nước thường dâng cao, gây lũ lụt, lũ quét. Do diện tích rừng tự nhiên giảm nhiều, chủ yếu là rừng tái sinh và rừng trồng, nên thảm thực vật ở Nghĩa Sơn không dày. Động vật chủ yếu chỉ còn lợn rừng, cầy hương, gà rừng, hoẵng... các loại động vật quý hiếm như voi, tê giác, hổ, gấu và bộ linh trưởng hầu như không còn. 1.2.2. Dân số và dân cư Tính đến cuối năm 2008, toàn Nghĩa Sơn có 311 hộ, 1.474 khẩu, trong đó Khơ-mú: 221 hộ, 1.083 khẩu, chiếm 73,22%, cư trú tại sáu bản: Bản Loọng, bản Bẻ, Noong Khoang 1, Noong Khoang 2, tập trung đông nhất tại hai bản là Nậm Tộc 1 và Nậm Tộc 2. Ngoài ra, trong xã còn một số dân tộc khác cùng sinh sống như người Thái: 235 khẩu, người Kinh: 150 khẩu, người Mường: 8 khẩu, người Hmông: 3 khẩu1. Đời sống kinh tế của bà con còn khá khó khăn. Nền kinh tế ở Nghĩa Sơn chủ yếu là nông - lâm nghiệp, nhưng việc áp dụng khoa học, kỹ thuật còn rất hạn chế, tập quán canh tác lạc hậu, nên năng suất cây trồng chưa cao, dẫn . Năm 1989, tỉnh Yên Bái có 903 người Khơ-mú, cư trú tại 2 huyện Văn Chấn và Trạm Tấu, trong đó, xã Nghĩa Sơn: 764 khẩu, thị trấn Nghĩa Lộ: 21 khẩu, xã Nặm Canh: 47 khẩu. Đến năm 1998, dân số Khơ-mú tăng lên 1.258 khẩu. Dẫn theo Khổng Diễn (chủ biên), Dân tộc Khơ-mú ở Việt Nam, tr. 46 và 56. 1 12 đến tình trạng là số hộ nghèo đói còn chiếm trên một nửa (52,68%). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,7%. Lương thực bình quân đầu người hiện tại là 253 kg/năm; thu nhập bình quân đầu người gần 200.000đ/tháng. Hệ thống cơ sở hạ tầng (Điện - đường - trường - trạm) cũng chưa hoàn chỉnh. Đường giao thông từ Quốc lộ 32 vào trung tâm vẫn còn có những đoạn đường đất, đường cấp phối. Đường vào các thôn bản chủ yếu là đường đất, nên việc giao lưu, đi lại còn khó khăn, đặc biệt là vào mùa mưa. Nghĩa Sơn có một trạm y tế nhưng cho đến nay vẫn chưa có bác sĩ. Có trường Mầm non và trường Tiểu học đảm bảo cho con em đủ tuổi là đến trường. Tuy nhiên cơ sở vật chất vẫn còn rất nghèo, cần được đầu tư, nâng cấp thêm. 1.2.3. Lịch sử cư trú Trong cuốn Dân tộc Khơ-mú ở Việt Nam (phần Tộc danh và lịch sử tộc người do Vi Văn An chấp bút), trang 32 có đoạn viết: Một nhóm nhỏ người Khơ-mú hiện cư trú ở xã Nghĩa Sơn (Văn Chấn, Yên Bái) là do một tù trưởng Thái dẫn họ sang khi đi đánh giặc vào cuối thế kỷ XIX. Đây chính là những bộ phận người Khơ-mú đầu tiên cư trú tại vùng Văn Chấn. Những tư liệu khảo sát được về sự có mặt của người Khơ-mú tại địa phương này cũng cho thấy rõ hơn về nguồn gốc và những đợt chuyển cư của họ đến Văn Chấn hiện nay. Theo ông Vì Văn Sang (74 tuổi, bản Nậm Tộc 2, nguyên là Bí thư Đảng uỷ xã) thì người Khơ-mú cư trú ở xã Nghĩa Sơn huyện Văn Chấn đến nay đã được 6-7 đời. Từ năm 1954, trở về trước, mỗi bản mới chỉ có vài ba nhà, từ 1954 trở về sau, mỗi bản có khoảng 10 hộ. Ba dòng họ Khơ-mú đến lập nghiệp đầu tiên trên mảnh đất này là: họ Rvaiđer: hổ xám (chuyển thành họ Lường), họ Ric: chim cú (chuyển thành họ Vì-nay là họ chiếm số đông) và họ Tvạ: dương sỉ (chuyển thành họ Lò). Gốc gác của ba dòng họ này từ Điện Biên, Sơn La di cư xuống. Nguyên nhân là do nạn đói kém và do chạy nạn giặc dã. Lúc đầu khi mới di cư về vùng Văn Chấn, một số gia đình người 13 Khơ-mú sống tản mát tại các bản ở các xã khác nhau, sau này mới quy tụ lại tại các bản của xã Nghĩa Sơn, nhưng tập trung nhất tại hai bản Nậm Tộc 1 và Nậm Tộc 2. Có một thực tế là Nghĩa Sơn ở trên một vùng núi cao và tất cả người Khơ-mú ở Văn Chấn đã tụ tập về đây. Họ gắn bó với quả núi này và không muốn đến nơi khác, dù cuộc sống ở Nghĩa Sơn rất khó khăn, vất vả. Chính vì sống tập trung trên một địa bàn nên người Khơ-mú ở Nghĩa Sơn còn gìn giữ được nhiều nét văn hoá riêng của dân tộc mình, có thể nói là còn đậm nét hơn một số nơi khác. 1.2.4. Các hoạt động kinh tế Trước kia, người Khơ-mú ở Văn Chấn sinh sống bằng canh tác nương rẫy, gắn với cuộc sống du canh du cư. Từ sau năm 1968, do phong trào vận động hạ sơn, nên đa phần họ đã định cư và bắt đầu canh tác ruộng nước. Đến nay, toàn xã có khoảng 70% số hộ làm ruộng nước, chăn nuôi; chỉ còn 30% số hộ do địa hình đồi núi, không có điều kiện làm thủy lợi, nên vẫn canh tác nương rẫy. Tuy nhiên, do đất bạc màu nên năng suất thường không ổn định. Ngoài nương lúa còn có nương ngô, sắn, đỗ xanh, khoai lang và trồng xen canh các loại đỗ, bầu, bí… công việc hái lượm, săn bắt vẫn duy trì, nhưng thường tiến hành theo mùa. Mục đích săn bắt, hái lượm chủ yếu nhằm cải thiện nhu cầu thực phẩm trong bữa ăn hằng ngày. Một số gia đình đã đào ao nuôi cá, chăn nuôi gia súc và gia cầm. Nghề thủ công phổ biến là đan lát. Các sản phẩm đan lát của họ khá phong phú về chủng loại, kiểu dáng. Từ các loại gùi, thúng, giần, sàng, ... cho đến mâm mây, ghế mây, hộp đựng chỉ, ép cơm; trong đó bem (plụm) là sản phẩm đan có tiếng nhất, được các tộc người trong vùng ưa chuộng. Họ dùng sản phẩm mây tre đan để đổi lấy những thứ cần thiết cho cuộc sống (quần áo, vải vóc...) hoặc là đổi công lao động. 14 1.2.5. Tổ chức xã hội “Bản” là tổ chức chính trị-xã hội có tính tự quản ở địa phương, “Bản” của người Khơ-mú thông qua bộ máy điều hành do dân lựa chọn. Cấu thành bộ máy tự quản là các chức vị có nhiệm vụ khác nhau. Đứng đầu mỗi bản là Khun cung (trưởng bản) do dòng họ Vì nắm giữ. Khun cung có trách nhiệm duy trì sự hoà thuận giữa các thành, giải quyết các mâu thuẫn nẩy sinh trong bản và có quyền xử phạt những người vi phạm luật tục. Khun cung là người thay mặt dân bản thiết lập mối quan hệ láng giềng với các bản lân cận, giao thiệp với các chức dịch cấp mường và cũng là người điều hành công việc lao động sản xuất, duy trì phong tục tập quán dân tộc, đồng thời cùng với các thầy cúng chủ trì nghi lễ cúng bản vào dịp đầu năm. Bên cạnh Khun cung, già làng cũng đóng vai trò quan trọng trong xã hội của người Khơ-mú. Họ là những người tích luỹ được nhiều kinh nghiệm sản xuất, thông thạo phong tục tập quán nên thường được dân bản vị nể. Có thể nói, già làng như là cố vấn cao nhất về phong tục, tập quán, kinh nghiệm sản xuất và đối nhân xử thế cho các cá nhân và cộng đồng, nên các trưởng bản thường phải tranh thủ ý kiến của họ trong điều hành công việc chung của bản. Ngoài ra, trong các bản của người Khơ-mú ở Văn Chấn trước kia còn có những người hành nghề tín ngưỡng tôn giáo. Họ được dân bản gọi chung là mo (mo cúng, mo xem bói, mo bốc thuốc chữa bệnh...), có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng. Hiện nay, người Khơ-mú ở Văn Chấn gọi dòng họ là Sinh. Trong xã có bảy họ: Vì, Lường, Lò, Mè, Lèo, Hà và Hoàng, trong đó họ Vì là họ chiếm số đông và có thế lực nhất. Người Khơ-mú ở Văn Chấn cũng có ba mối quan hệ họ hàng: tai hem (anh em trai cùng thế hệ, cùng tô tem), dông êm, mạ êm (anh em trai bên vợ) và mạ cưn, dông quynh (anh em trai bên chồng chị em gái). Trong quan hệ dòng họ, người cậu (người anh, người em trai của mẹ) có vai trò quan trọng. Cậu vừa có quyền lợi, vừa có nghĩa vụ liên quan đến 15 gia đình các cháu con của chị gái, đặc biệt là cháu gái. Khi dựng vợ gả chồng cho con cái, cha mẹ phải xin ý kiến của người cậu từ khi ăn hỏi cho đến khi làm lễ cưới chính thức. Người cậu phải là người chủ trì trong ăn hỏi và trong lễ cưới. Đôi khi, người cậu là người quyết định trong việc hôn nhân của con cháu. Khi cháu làm nhà mới, người cậu là người làm “the le” (tấm đan hình mắt cáo) buộc trên đầu cây cột ở gian khách, đồng thời cũng là người đầu tiên nhóm bếp lửa của ngôi nhà mới; cho hạt giống, gia súc. Do vai trò người cậu rất quan trọng, nên khi người cậu chết, cháu rể phải có trách nhiệm tổ chức tang ma và được hưởng đùi trâu, đùi lợn theo quy định của tập quán. Không những thế, người Khơ-mú còn có tục chia tài sản của ngươi cậu cho cháu gái sau khi ông ta qua đời. Hiện tại vẫn tồn tại hình thức gia đình lớn nhiều thế hệ, nhưng chủ yếu vẫn là hình thức gia đình nhỏ, gia đình gồm vợ chồng, con cái và bố mẹ già là phổ biến. Gia đình người Khơ-mú là một đơn vị kinh tế độc lập, tài sản của gia đình là nhà ở, nương rẫy, công cụ, gia súc và đồ dùng gia đình. Việc phân công lao động trong tiểu gia đình tuỳ theo giới tính. Đàn ông thì đảm nhiệm những công việc nặng nhọc như làm nhà cửa, nương rẫy, săn bắt, còn đàn bà thì làm những việc nhẹ trong sản xuất, lấy nấm, kiếm củi, hái măng, nội trợ, thả trâu bò thì dành cho người già và trẻ em. Gia đình Khơ-mú thể hiện tính phụ quyền khá rõ. Người cha có vai trò quyết định mọi việc trong nhà và kể cả việc đối ngoại. Chủ nhà là người chủ trì các nghi lễ cúng tổ tiên, cúng nhà mới, khi trong nhà có người ốm đau... Khi cha mẹ qua đời, con trai là người lo tang lễ, đưa hồn cha mẹ về thế giới bên kia và ra nghĩa địa rước hồn ma về ngự tại nơi thờ ma trong nhà. Trong việc phân chia tài sản, chỉ con trai được hưởng quyền thừa kế. Dù cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng người Khơ-mú đã tạo dựng cho mình một nền văn hóa khá phong phú, ổn định và còn lưu giữ đến tận ngày nay như phong tục, tín ngưỡng, lễ hội, truyền thuyết, cồng chiêng, đàn 16
- Xem thêm -