Tài liệu Pháp nhân trong hệ thống các chủ thể của quan hệ pháp luật

  • Số trang: 140 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 70 |
  • Lượt tải: 2
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN VĂN LÂM PHÁP NHÂN TRONG HỆ THỐNG CÁC CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2011 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN VĂN LÂM PHÁP NHÂN TRONG HỆ THỐNG CÁC CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Mã số : 60 38 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Hoàng Thị Kim Quế HÀ NỘI - 2011 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT VÀ PHÁP NHÂN 1.1 1.1.1 1.1.2 1.2 1.2.1 1.2.2 1.2.3 1.3 1.3.1 1.3.2 1.3.3 1.3.4 1.3.5 1.4 1.4.1 1.4.2 Khái niệm và nội dung của quan hệ pháp luật Khái niệm Nội dung quan hệ pháp luật Các vấn đề cơ bản về chủ thể quan hệ pháp luật Khái niệm chủ thể quan hệ pháp luật Đặc trưng của chủ thể quan hệ pháp luật Phân loại chủ thể quan hệ pháp luật Khái niệm pháp nhân và đặc trưng của pháp nhân Khái niệm pháp nhân Nội dung các học thuyết về pháp nhân Đặc trưng của pháp nhân Phân loại pháp nhân Thành lập và chấm dứt pháp nhân Nền tảng lý luận cho sự ra đời và phát triển của pháp nhân Quyền tự do ý chí Quyền tự do lập hội Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ PHÁP NHÂN Ở VIỆT NAM 2.1 2.2 2.2.1 2.2.2 2.3 2.3.1 2.3.2 2.4 2.4.1 2.4.2 2.4.3 2.5 2.5.1 2.5.2 2.5.3 2.5.4 2.5.5 Lịch sử phát triển chế định về pháp nhân trong pháp luật VN Thực trạng pháp luật về chủ thể quan hệ pháp luật Thực trạng phân loại các chủ thể quan hệ pháp luật Thực tiễn áp dụng pháp luật về chủ thể quan hệ pháp luật Thực trạng mô hình pháp nhân trong pháp luật Việt Nam Mô hình pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 Mô hình pháp nhân theo Luật doanh nghiệp 2005 Thực trạng quy định pháp luật về thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân. Thực trạng quy định về thành lập pháp nhân Thực trạng quy định về hoạt động của pháp nhân Thực trạng quy định phá sản pháp nhân Thực trạng áp dụng mô hình pháp nhân trong PL chuyên ngành Áp dụng mô hình pháp nhân trong pháp luật về tập đoàn Áp dụng mô hình pháp nhân trong pháp luật về công đoàn Áp dụng mô hình pháp nhân trong lĩnh vực KD bất động sản Áp dụng mô hình pháp nhân trong pháp luật về Hội Áp dụng mô hình pháp nhân trong pháp luật về người tiêu dùng 1 6 6 6 6 6 6 6 6 7 7 8 8 8 9 9 9 9 11 11 11 11 12 12 12 13 14 14 14 14 16 15 15 15 16 16 2.6 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng pháp luật về pháp nhân Mô hình pháp nhân tuy đã được du nhập vào Việt Nam từ lâu, 2.6.1 nhưng mới được quan tâm, và chú ý đến 2.6.2 Thiếu một lý thuyết lập pháp về mô hình của pháp nhân 2.6.3 Chưa xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về pháp nhân 2.6.4 Chưa quan niệm đúng đắn về thành lập pháp nhân Hệ thống pháp luật còn cồng kềnh, phức tạp, chưa thống nhất, 2.6.5 đồng bộ với nhau 2.6.6 Kỹ thuật lập pháp ở nước ta còn yếu Chưa xác định được vị trí của từng đạo luật trong hệ thống các 2.6.7 văn bản pháp luật 2.6.8 Tính thiếu ổn định của hệ thống pháp luật dân sự Quá trình tiếp thu kinh nghiệm pháp luật nước ngoài thiếu lựa 2.6.9 chọn và chưa phù hợp Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ 16 16 16 16 16 16 16 16 16 17 THỐNG PHÁP LUẬT VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ PHÁP NHÂN Ở VIỆT NAM 18 3.1 Cơ sở định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về pháp nhân 3.1.1 Cơ sở về kinh tế - xã hội, văn hóa - đời sống 3.1.2 Đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước Cơ sở phù hợp với xu hướng hoàn thiện, cải cách hệ thống pháp 3.1.3 luật ở Việt Nam hiện nay 3.1.4 Đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế hiện nay 3.2 Định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về pháp nhân ở VN 3.2.1 Định hướng đảm bảo quyền tự do ý chí và tự do lập hội 3.2.2 Định hướng đảm bảo quyền sở hữu của các chủ thể quan hệ PL Định hướng hoàn thiện quy định pháp luật về pháp nhân- từ bản 3.2.3 chất của các học thuyết pháp nhân 3.2.4 Định hướng xây dựng một BLDS là nền tảng cho các luật chuyên ngành 3.2.5 Tăng cường tính công khai và minh bạch thông tin. 3.2.6 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về pháp nhân 3.2.7 Nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Phát triển hệ thống cung cấp thông tin và phổ biến giáo dục pháp 3.2.8 luật cho các chủ thể quan hệ pháp luật Các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và thi hành pháp 3.3 luật về pháp nhân ở nước ta hiện nay 3.3.1 Đổi mới các quan niệm về pháp nhân 3.3.2 Các giải pháp về lập pháp 3.3.3 Các giải pháp tổ chức thi hành quy định pháp luật về pháp nhân 18 18 18 KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18 18 19 19 19 19 19 19 19 19 20 20 20 21 22 MỞ ĐẦU 1. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài Việt Nam đang trên con đường phát triển và hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế quốc tế. Chúng ta đang từng bước gỡ bỏ rào cản về thủ tục hành chính, thuế quan…Các doanh nghiệp trong nước đang phải đối mặt với sự cạnh tranh với các tập đoàn đa quốc gia hùng mạnh trên thế giới, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO. Hiện nay, khu vực kinh tế dân doanh là khu vực phát triển nhanh nhất và tạo ra công ăn việc làm mới nhiều nhất cho nền kinh tế, và sẽ là động lực chủ yếu và bền vững cho tăng trưởng dài hạn của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu. Nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các chủ thể kinh doanh nói riêng và chủ thể các quan hệ pháp luật nói chung sẽ là một điều kiện then chốt, một đòi hỏi bắt buộc để phát triển nền kinh tế. Trong hệ thống các chủ thể quan hệ pháp luật, ngoài chủ thể là thể nhân – con người cụ thể hoặc chủ thể được coi như thể nhân còn có các thực thể pháp lý khác có tư cách chủ thể là pháp nhân. Pháp nhân là một khái niệm để chỉ một loại chủ thể quan hệ pháp luật độc lập với các chủ thể khác và thành viên của pháp nhân, pháp nhân ra đời đáp ứng điều kiện của đời sống xã hội và hoạt động lập pháp. Ngày nay, các pháp nhân tham gia tích cực và là chủ thể chủ yếu trong các hoạt động kinh tế, hoạt động quản lý của nhà nước trên cơ sở nhà nước tôn trọng quyền tự do ý chí, tự do lập hội của công dân. Ở Việt Nam, có thể nhận định rằng trong các quy định pháp luật hiện hành, chưa thấy một học thuyết xuyên suốt về pháp nhân, các quy định pháp luật chưa thống nhất, thiếu lôgic, dẫn đến sự chồng chéo, mâu thuẫn, rời rạc giữa luật chung và các luật chuyên ngành. Trong khi đó, những người thực thi pháp luật, các nhà nghiên cứu pháp luật còn nhiều điểm chưa thống nhất về các đặc trưng cơ bản làm tiêu chí để xác định tư cách pháp nhân của tổ chức, 1 cũng như các quyền và nghĩa vụ khi pháp nhân tham gia các quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế, hình sự. Chế định về đại diện pháp nhân tham gia các giao dịch vẫn còn chưa rõ ràng. Thực tế cho thấy, việc phân định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân và trách nhiệm của những người đứng đầu pháp nhân chưa rõ ràng trong pháp luật Việt Nam hiện nay. Bộ luật dân sự được xây dựng không dựa trên nền tảng lý luận khoa học pháp lý về pháp nhân một cách vững chắc, làm cơ sở cho việc xây dựng những luật chuyên ngành trước những đòi hỏi của thực tiễn xã hội. Chế định pháp nhân được quy định trong nhiều lĩnh vực pháp luật của đời sống xã hội của một quốc gia và trong quan hệ quốc tế. Trong các chủ thể quan hệ pháp luật, pháp nhân là một thực thể pháp lý trìu tượng, được thiết lập hay tổ chức bởi những người sáng lập theo một cách hợp pháp, hoạt động bởi mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận, và dưới hình thức sở hữu tư nhân hay nhà nước. Quá trình hoàn thiện các quy định về pháp nhân tại mỗi quốc gia, đòi hỏi những nhà nghiên cứu luật học đưa ra các học thuyết về pháp nhân nhằm giải thích sự hình thành, phát triển trên thế giới làm tiền đề định hướng phát triển chế định về pháp nhân trong hệ thống pháp luật. Tuy vậy, khi soi chiếu những vấn đề tồn tại trong pháp luật Việt Nam hiện hành, thấy rằng, chế định pháp nhân đang nảy sinh những bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo giữa luật chung và luật chuyên ngành dẫn đến nhiều hệ quả mà phải kể đến sự xa rời về mặt lý luận và thực tiễn đời sống, gây khó khăn trong thực thi pháp luật, làm mất đi tính ổn định cần thiết của pháp luật. Trong khi giới khoa học pháp lý vẫn còn đặt ra các câu hỏi tranh luận trên mọi diễn đàn về các vấn đề dường như cơ bản của pháp nhân, nhưng lại chưa được luật thực định làm sáng tỏ. Nói cho cùng, các vấn đề phát sinh chỉ có một nguyên nhân là pháp luật chưa tiếp cận bản chất của pháp nhân đã được hình thành trong các hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới. 2 Hiện nay, các công trình nghiên cứu trong nước chưa có công trình nào tiếp cận pháp nhân từ ý nghĩa các học thuyết pháp nhân, và mô hình pháp nhân trong các quy phạm pháp luật. Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một hoặc vài vấn đề thực trạng pháp luật quy định về pháp nhân, mà chưa nhìn nhận toàn diện thực trạng của pháp nhân trong hệ thống pháp luật để tìm ra nguyên nhân tồn tại, hạn chế và có các định hướng, giải pháp hoàn thiện cho chế định pháp nhân hiện nay. Với mục đích tiếp cận pháp nhân trên cơ sở nghiên cứu toàn diện các mặt về lý luận và thực tiễn quy định của pháp luật ở Việt Nam, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu vấn đề“pháp nhân trong hệ thống các chủ thể quan hệ pháp luật” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Chế định về pháp nhân đã được hình thành từ khá sớm trong lịch sử, và dần trở thành nội dung quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Bên cạnh chủ thể quan hệ pháp luật là cá nhân, pháp nhân là chủ thể do tạo ra do đòi hỏi cần đáp ứng các hoạt động của con người khi nền kinh tế xã hội phát triển. Ở nước ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ pháp luật, chủ thể quan hệ pháp luật và pháp nhân làm tiền đề lý luận cho các quy định pháp luật phù hợp với đời sống thực tiễn hơn. Tình hình nghiên cứu về quan hệ pháp luật và các chủ thể quan hệ pháp luật ở nước ta cho thấy hoạt động nghiên cứu quan hệ pháp luật nói chung chưa có nhiều và chưa mang tính chuyên sâu. Các tài liệu nghiên cứu về đề tài này còn ít, nội dung mới chỉ xem xét, nghiên cứu ở một vài khía cạnh như: quyền chủ thể, nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, phân loại quan hệ pháp luật hoặc nghiên cứu quan hệ pháp luật với tư cách là một yếu tố trong cơ chế điều chỉnh pháp luật. Xét về tính chất, mức độ thì đó mới chỉ là những bài viết đăng ở các tạp chí; trong giáo trình môn học lý luận chung về nhà nước và 3 pháp luật hoặc là một phần nhỏ liên quan đến đề tài khác. Có thể nêu lên một số tài liệu như: Chương "Quan hệ pháp luật" trong cuốn chuyên khảo: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật của GS.TSKH Đào Trí Úc; Bài nghiên cứu "Quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa" của PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, Tạp chí Dân chủ pháp luật, số 12-1996, số 2-1997; Bài nghiên cứu "Một số vấn đề về quan hệ pháp luật" của GS.TS. Hoàng Thị Kim Quế, Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 2-1999; Bài nghiên cứu "Sự kết hợp các lợi ích xã hội trong việc qui định và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể quan hệ pháp luật" của PGS.TS Võ Khánh Vinh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12-2002. Năm 2010, PGS, TS Nguyễn Ngọc Điện viết cuốn sách tham khảo về “Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự”, do Nhà xuất bản chính trị 2010 đã đưa ra các khía cạnh pháp lý của các chủ thể là cá nhân và các chủ thể không phải là cá nhân trong quan hệ pháp luật dân sự. Các công trình nghiên cứu về pháp nhân, ngay từ khi nước ta còn là thuộc địa của thực dân Pháp, mô hình pháp nhân đã được các thương gia người Pháp du nhập, và áp dụng trong hoạt động của mình tại các thuộc địa. Các nhà luật học thời bấy giờ đã nghiên cứu về các học thuyết pháp nhân, tìm ra các đặc tính của pháp nhân. Tiêu biểu là các tác giả như: Vũ Văn Mẫu (1957), Dân luật khái luận, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản; Lê Tài Triển (1959), Luật Thương mại toát yếu, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản. Gần đây, có các bài nghiên cứu, TS Ngô Huy Cương (2001), Pháp nhân, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 01, năm 2001; Nguyễn Ngọc Bích- Nguyễn Đình Cung (2008), Công ty: vốn, quản lý và tranh chấp, NXB Trí Thức 2008; Lê Việt Anh (2008), Tư cách pháp nhân của công ty hợp danh, TCNCLP số 113, tháng 1/2008; TS Phạm Hồng Hải (1999), Pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hay không?, tạp chí Luật học số 6 năm 1999; GS.TS Hồ Trọng Ngũ (2009), vấn đề tội phạm có tổ chức và trách nhiệm hình sự pháp nhân trong 4 sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 143 ngày 20/03/2009. Các công trình nghiên cứu này, đã phần nào làm rõ những vấn đề cơ bản của pháp nhân, và những bất cập của bộ luật dân sự và luật doanh nghiệp, và những hoàn thiện trong mô hình pháp nhân của công ty hợp danh. Tuy vậy, chưa có một công trình nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc, mang tính hệ thống liên quan đến các quy định pháp luật về pháp nhân và mô hình pháp nhân với tư cách là một chủ thể trong hệ thống các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật. Cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào đi từ bản chất của pháp nhân trong các học thuyết pháp nhân để soi chiếu vào những quy định về mô hình pháp nhân trong pháp luật hiện hành, tìm ra những bất cập, nguyên nhân và định hướng hoàn thiện. Vì thế, tác giả luận văn này, mong muốn sẽ góp một phần nhỏ tìm ra những nguyên nhân của bất cập trong các quy định của pháp luật về pháp nhân và định hướng, đưa ra giải pháp toàn diện để hoàn thiện chế định này. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Hiện nay, pháp luật Việt Nam về pháp nhân được quy định tại các ngành luật khác nhau, bao quát các quan hệ pháp luật trong đời sống xã hội. Vì thế, khi nhắc đến pháp nhân với tư cách chủ thể quan hệ pháp luật người ta thường nhắc đến đầu tiên trong pháp luật dân sự theo nghĩa rộng bao gồm cả pháp luật kinh doanh, thương mại; bên cạnh đó, là những lĩnh vực luật chuyên ngành điều chỉnh quan hệ pháp luật của chủ thể pháp nhân mang tính đặc thù hơn. Ngoài ra, pháp nhân trong lĩnh vực công cũng chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp, của lĩnh vực luật hành chính. Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung giải quyết các vấn đề pháp lý của mô hình pháp nhân trong lĩnh vực tư hay còn gọi pháp nhân tư pháp, bởi pháp nhân tư pháp tham gia vào hầu hết các quan hệ xã hội và góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội hiện đại ngày nay. Trong luận văn, tác giả 5 cũng đề cập đến vấn đề của các pháp nhân công pháp chỉ với mục đích đơn thuần nhằm làm rõ thêm thực trạng pháp luật của Việt Nam về pháp nhân. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và lý luận của nền luật học nước ta, dựa trên những chủ trương, đường lối và chính sách xây dựng kinh tế - xã hội hội nhập kinh tế quốc tế một cách toàn diện. Luận văn đặt mục đích nghiên cứu các vấn đề lý luận trên cơ sở các học thuyết về pháp nhân với tư cách là chủ thể cơ bản của quan hệ pháp luật tôn trọng quyền tự do ý chí và quyền tự do lập hội của công dân. Nêu toàn diện thực trạng các quy định pháp luật hiện nay về pháp nhân, và những định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này. Bởi mục đích đó, luận văn có các nhiệm vụ sau: - Tìm hiểu, phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến quan hệ pháp luật, chủ thể quan hệ pháp luật và các loại hình chủ thể quan hệ pháp luật; - Nêu và phân tích mô hình học thuyết về pháp nhân đã hình thành và phát triển trên thế giới. - Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc hình thành và phát triển pháp nhân căn cứ vào quyền tự do ý chí và quyền tự do lập hội của công dân; - Phân tích khái niệm, đặc điểm và phân loại pháp nhân của các nước trên thế giới và quá trình du nhập vào Việt Nam. - Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật về pháp nhân và tư cách pháp nhân của một tổ chức từ việc phân tích và đối chiếu các văn bản pháp luật và quá trình thực thi pháp luật. - Kiến nghị một số định hướng và giải pháp nhằm xây dựng, hoàn thiện pháp luật về pháp nhân. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận khoa học và các phương pháp 6 luận của triết học Mác - Lênin; Lý luận chung về nhà nước - pháp luật; các quan điểm của Đảng và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn chủ yếu sử dụng: phân tích tài liệu, tổng hợp và phân tích thực tiễn chứng minh cho lý luận, bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng phương pháp của luật so sánh. Và các phương pháp nghiên cứu riêng biệt của khoa học pháp lý: phân tích quy phạm, phân tích hệ thống, so sánh pháp luật…. 6. Những đóng góp của luận văn Những đóng góp của luận văn gồm có: Một là, về lý luận: luận văn nghiên cứu có hệ thống các khái niệm về quan hệ pháp luật, chủ thể quan hệ pháp luật và phân loại các chủ thể quan hệ pháp luật. Nêu và phân tích các học thuyết về pháp nhân làm tiền đề cho sự ra đời và phát triển trên thế giới, qua đó, thấy được sự cần thiết của mô hình pháp nhân trong đời sống pháp luật của mỗi quốc gia. Tác giả cũng đã phân tích những nền tảng lý luận của việc ra đời và phát triển pháp nhân căn cứ vào tự do ý chí và tự do lập hội của công dân. Hai là, về thực tiễn: Thực trạng quy định pháp luật về pháp nhân trong Bộ luật dân sự, và các luật chuyên ngành về các dấu hiệu của nhận biết pháp nhân; quá trình thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân. Hơn hết, tác giả tập trung phân tích tổng hợp hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để nêu ra thực trạng trong quá trình thực thi pháp luật về pháp nhân hiện nay. Từ đó, tìm ra các nguyên nhân dẫn của những tồn tại. Ba là, về định hướng hoàn thiện: tác giả luận văn này nêu lên các cơ sở hình thành các định hướng và các định hướng, giải pháp mang tính toàn diện nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về chủ thể quan hệ pháp luật nói chung và chủ thể là pháp nhân nói riêng. 7 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương: Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về chủ thể quan hệ pháp luật và pháp nhân Chương 2. Thực trạng hệ thống pháp luật và thi hành pháp luật về pháp nhân ở Việt Nam Chương 3. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và thi hành pháp luật về pháp nhân ở Việt Nam 8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT VÀ PHÁP NHÂN. 1.1 Khái niệm và nội dung quan hệ pháp luật 1.1.1 Khái niệm Trong đời sống xã hội, con người tham gia vào những quan hệ rất đa dạng và phong phú: như quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ lao động, quan hệ tài sản, quan hệ chính trị….các quan hệ ấy phát sinh trong hoạt động lao động, sản xuất, công tác, học tập, sinh hoạt đời thường. Người ta gọi đó là các quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm xã hội (quy phạm pháp luật, quy phạm đạo đức, quy phạm tập quán, quy tắc của các tổ chức xã hội). Trong xã hội có nhà nước, các quan hệ xã hội quan trọng nhất được quy phạm pháp luật điều chỉnh [48, tr387]. Mọi xã hội chỉ có thể tồn tại và phát triển được trên cơ sở của sự trật tự và ổn định, được hình thành nên nhờ một hệ thống rất phong phú các phương tiện điều chỉnh quan hệ xã hội. Trong hệ thống này trước hết phải nói đến các loại phương tiện điều chỉnh mang tính quy phạm, đó là các loại quy phạm điều chỉnh quan hệ xã hội. Hành vi và các loại quan hệ xã hội của con người tự thân phải cần đến sự điều chỉnh bởi những phương tiện (công cụ) nhất định. Chẳng hạn trong quản lý xã hội, pháp luật là công cụ chủ yếu, giữ vị trí, vai trò thiết yếu. Ngoài pháp luật ra còn có nhiều công cụ, phương tiện khác. Dưới sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật, các chủ thể tham gia quan hệ xã hội sẽ phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý, trách nhiệm ràng buộc các bên trong một quan hệ pháp luật. 9 Như vậy, bằng các quy phạm pháp luật làm cơ sở phát sinh các quan hệ pháp luật trong hoạt động của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội. Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội xuất hiện dưới tác động điều chỉnh của các quy phạm pháp luật và các sự kiện pháp lý tương ứng, trong đó, các bên tham gia có các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định, được nhà nước đảm bảo và bảo vệ [48, tr398-399]. Sự khác nhau giữa quan hệ pháp luật và quan hệ xã hội là ở chỗ “Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội, là một trong những hình thức đa dạng của quan hệ xã hội nhưng khác với các quan hệ xã hội khác là quan hệ xã hội này đã được mang trên mình hình thức pháp lý - quan hệ pháp luật” [48, tr398]. Trong xã hội, mỗi chủ thể (cá nhân hoặc các thực thể pháp lý khác) tồn tại dựa trên các hành vi tương tác với nhau. Mỗi hành vi tương tác trong xã hội tạo cho mỗi chủ thể một tư cách khác nhau. Do vậy, mỗi chủ thể có thể tham gia nhiều quan hệ pháp luật khác nhau, tạo ra những quan hệ chằng chịt nhau. Nếu các quan hệ trong xã hội muốn ổn định, bình đẳng và phát triển giữa các chủ thể thì phải có sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật và đó là phương tiện để quản lý xã hội của nhà nước. Trong đó, có những quan hệ xã hội không được pháp luật chi phối. Những quan hệ loại này được xác lập và diễn tiến theo những lề thói được xã hội chấp nhận. Ví như, trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, có giao dịch hứa hôn; trong cuộc sống hàng ngày người ta có thể đi nhờ xe, đi ăn giỗ, mời nhau một ly cà phê mà chẳng bận tâm đến luật pháp. Con người tham gia vào các quan hệ ấy cũng được coi là các chủ thể, song các ứng xử của chủ thể không cần pháp luật điều chỉnh. Pháp luật chỉ điều chỉnh một quan hệ khi được xác lập giữa các chủ thể là 10 quan hệ có tính pháp lý, nghĩa là được pháp luật đề cập, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp [50, tr. 8]. “Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý cần thiết cho tất cả những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Quan hệ pháp luật thể hiện mối liên hệ đặc biệt giữa các chủ thể, mối liên hệ thông qua các quyền và nghĩa vụ pháp lý” [49, tr398]. Trong quan hệ pháp luật dân sự, giao dịch dân sự là hành vi pháp lý có ý thức thể hiện ý chí của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự là một trong những căn cứ quan trọng và phổ biến nhất làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự. Trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, quan hệ pháp luật là một thành tố quan trọng thể hiện đời sống pháp lý hiện thực trên tất cả các lĩnh vực của đất nước qua mỗi chặng đường xây dựng và phát triển và là cơ sở thực tế để đánh giá hiệu quả pháp luật, giá trị xã hội của pháp luật. Trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, sẽ trả lời các câu hỏi tại sao pháp luật ít đi vào cuộc sống, hiệu quả pháp luật không cao, trật tự pháp luật còn hạn chế và lỏng lẻo. 1.1.2 Nội dung quan hệ pháp luật Nội dung của quan hệ pháp luật bao gồm quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật. Các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó được Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật quy định. 1.1.2.1 Quyền pháp lý Quyền pháp lý chủ thể là khả năng xử sự của các chủ thể tham gia quan hệ được quy phạm pháp luật quy định và được bảo vệ bởi sự cưỡng chế của quyền lực nhà nước. Đặc điểm quyền chủ thể quan hệ pháp luật: Thứ nhất, khả năng được hoạt động trong khuôn khổ theo quy phạm pháp luật xác định trước. 11 Thứ hai, khả năng yêu cầu chủ thể cùng tham gia quan hệ pháp luật thực hiện nghĩa vụ của họ bằng việc thực hiện có thể bằng hành động hoặc không hành động. Thứ ba, khả năng yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết đối với bên kia để họ thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp quyền chủ thể của mình bị bên kia vi phạm. Quyền là khả năng của chủ thể có thể được lợi ích nhất định hay được tiến hành những hành vi nhất định, có quyền yêu cầu chủ thể khác của quan hệ pháp luật thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải có những hành vi nhất định nhằm thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay xã hội [49, tr419]. 1.1.2.2 Nghĩa vụ pháp lý Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể trong quan hệ pháp luật là cách xử sự bắt buộc được quy phạm pháp luật xác định trước mà một bên phải tiến hành nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền chủ thể của bên kia. Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể có các đặc điểm như: Thứ nhất, là sự bắt buộc phải có những xử sự nhất định do quy phạm pháp luật xác định trước. Thứ hai, các xử sự này nhằm thực hiện quyền chủ thể của bên kia. Thứ ba, trong trường hợp cần thiết, nghĩa vụ pháp lý sẽ được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước. Nghĩa vụ pháp lý xuất hiện trên cơ sở quy phạm pháp luật quy định nghĩa vụ cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ cụ thể bắt buộc phải tuân theo. Sự xuất hiện nghĩa vụ thụ động, tức bên có nghĩa vụ phải kìm chế mình không thực hiện những hành vi bị ngăn cấm. “Quan hệ pháp luật sẽ không tồn tại nếu không có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia” [49, tr421]. 12 Ví dụ: Trong quan hệ hợp đồng, các chủ thể tham gia hợp đồng theo tự nguyện, bình đẳng trên cơ sở nguyên tắc tự do ý chí. Những thỏa thuận trong hợp đồng sẽ rằng buộc các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia (nếu như thỏa thuận đó không trái luật). Nếu các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, thì các bên có thể dẫn chiếu các quy định của pháp luật về những vấn đề cụ thể gặp phải. Như vậy, bằng ý chí của mình, các chủ thể quan hệ pháp luật đã tạo lập cho mình những quyền và nghĩa vụ pháp lý trên cơ sở thỏa thuận và các quy định của pháp luật. Quan hệ pháp luật có thể xuất hiện, thay đổi, chấm dứt theo những điều kiện nhất định, cụ thể là: quy phạm pháp luật điều chỉnh, chủ thể tham gia quan hệ và sự kiện pháp lý phát sinh. Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên thì không phát sinh quan hệ pháp luật. Nếu chỉ có quy phạm pháp luật thì chưa đủ, phải có chủ thể có đầy đủ năng lực chủ thể tham gia và đồng thời phải có những hoàn cảnh, điều kiện của đời sống thực tế đã được các nhà làm luật ghi nhận trong phần giả định của quy phạm pháp luật, đó là sự phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật khi xảy ra. 1.2 Các vấn đề cơ bản về chủ thể quan hệ pháp luật 1.2.1 Khái niệm chủ thể quan hệ pháp luật Chủ thể quan hệ pháp luật là những cá nhân, tổ chức có khả năng trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật, có quyền và nghĩa vụ pháp lý phát sinh. Các chủ thể được quyền tự do lựa chọn theo năng lực và mục đích của mình, nhưng phải không trái với các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Hay nói khác đi, các quyền năng của chủ thể pháp luật và khả năng xác lập, thực hiện các quyền đó chịu sự chi phối của các quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra nhằm đảm bảo trật tự xã hội và bình đẳng giữa các chủ thể với nhau. 13 Muốn trở thành chủ thể quan hệ pháp luật thì trước hết phải là chủ thể pháp luật. “Chủ thể pháp luật là những các nhân, tổ chức có khả năng trở thành các bên tham gia vào các quan hệ pháp luật, có được những quyền và nghĩa vụ pháp lý trên cơ sở những quy phạm pháp luật” [48, tr. 394]. Các quy phạm pháp luật điều chỉnh về các chủ thể quan hệ pháp luật là tập hợp các quy tắc chi phối cách thức nhận dạng chủ thể trong đời sống pháp lý, xác định các quyền năng của chủ thể và khả năng xác lập thực hiện các quyền đó trong cuộc sống dân sự [31, tr. 12]. Mỗi ngành luật trong hệ thống pháp luật của quốc gia được xác định bởi những tiêu thức như đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh và chủ thể điều chỉnh. Các chủ thể khi tham gia các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật thì chủ thể đó có thể chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau cho quan hệ pháp luật mà bằng khả năng của chủ thể đã thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nào đó. Mỗi chủ thể là chủ thể của quan hệ pháp luật khác nhau, sẽ chịu những chế tài áp dụng cũng khác nhau. Ví dụ, doanh nghiệp tư nhân và các chủ thể kinh doanh khác không phải là những pháp nhân. Nhưng theo nguyên tắc, một chủ thể pháp luật có thể đồng thời là chủ thể của nhiều quan hệ pháp luật do nhiều ngành luật khác nhau điều chỉnh. Cũng là người chủ doanh nghiệp tư nhân đó nhưng tư cách pháp lý của anh ta sẽ khác nhau khi anh ta mua sắm đồ dùng ở ngoài siêu thị và khi anh ta ký kết hợp đồng mua nguyên liệu phục vụ cho sản xuất trong doanh nghiệp. Trong trường hợp thứ nhất, người chủ doanh nghiệp hành động với tư cách cá nhân, với tư cách là một công dân có đủ năng lực pháp lý và năng lực hành vi. Còn trong trường hợp thứ hai, anh ta hành động với tư cách là một doanh nghiệp được thành lập hợp pháp và có giấy 14 phép đăng ký kinh doanh. Rõ ràng trong một con người có hai tư cách chủ thể của hai ngành luật khác nhau [50, tr.26-27]. Như vậy, một chủ thể của một hành vi nào đó, có thể tham gia nhiều quan hệ xã hội khác nhau và trở thành chủ thể của nhiều quan hệ pháp luật khác nhau. Có thể định nghĩa về chủ thể quan hệ pháp luật: Chủ thể quan hệ pháp luật bao gồm cá nhân và các thực thể pháp lý khác có đầy đủ năng lực tham gia vào các quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của pháp luật và phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật. Từ định nghĩa, có thể thấy đặc điểm của chủ thể quan hệ pháp luật bao gồm: Năng lực chủ thể; quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội; quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể. - Chủ thể phải có đầy đủ năng lực tham gia quan hệ pháp luật: Nếu là cá nhân, phải có đủ hai yếu tố là: năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng có quyền, nghĩa vụ pháp lý khi tham gia các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh và năng lực hành vi là có khả năng nhận thức được hành vi của mình và tự chịu trách nhiệm về hành vi đó. Nếu là thực thể pháp lý khác (các chủ thể không phải cá nhân), phải được pháp luật công nhận sự tồn tại hay được thành lập theo quy định của pháp luật và tham gia quan hệ pháp luật trong phạm vi mục đích hoạt động của thực thể đó. - Quan hệ xã hội phải được điều chỉnh bằng pháp luật (quan hệ pháp luật): là một trong những hình thức đa dạng của quan hệ xã hội nhưng khác với các quan hệ xã hội khác là quan hệ xã hội này đã được mang trên mình hình thức pháp lý. Có nghĩa là, quan hệ xã hội chỉ trở thành quan hệ pháp luật khi được các quy phạm pháp luật điều chỉnh. 15 - Khi tham gia quan hệ pháp luật, chủ thể phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý: Quyền pháp lý chủ thể là khả năng xử sự của các chủ thể tham gia quan hệ được quy phạm pháp luật quy định và được bảo vệ bởi sự cưỡng chế của quyền lực nhà nước. Còn nghĩa vụ pháp lý của chủ thể trong quan hệ pháp luật là cách xử sự bắt buộc được quy phạm pháp luật xác định trước mà một bên phải tiến hành nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền chủ thể của bên kia. 1.2.2 Đặc trưng của chủ thể quan hệ pháp luật Muốn trở thành chủ thể quan hệ pháp luật, cá nhân hoặc tổ chức phải có đầy đủ năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật để tham gia các quan hệ pháp luật. Năng lực chủ thể bao gồm: Năng lực pháp luật là năng lực (khả năng) do quy phạm pháp luật quy định của chủ thể có các quyền chủ thể và các nghĩa vụ pháp lý để trở thành các chủ thể của quan hệ pháp luật. Năng lực hành vi là năng lực (khả năng) của chủ thể bằng chính hành vi của mình, xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý, tham gia vào các quan hệ pháp luật. Mối liên hệ giữa năng lực pháp luật và năng lực hành vi của chủ thể xuất hiện trên cơ sở quy định của các quy phạm pháp luật, phụ thuộc vào ý chí của nhà nước. Năng lực pháp luật được coi là tiền đề cho năng lực hành vi, là điều kiện cần ban đầu, còn năng lực hành vi là điều kiện đủ để chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật. Nếu một chủ thể chỉ có năng lực pháp luật mà không có năng lực hành vi, sẽ không trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật được. 1.2.3 Phân loại chủ thể quan hệ pháp luật Theo khoa học pháp lý nói chung và truyền thống pháp luật dân sự nói riêng chia các chủ thể quan hệ pháp luật thành hai loại: thể nhân và pháp nhân 16
- Xem thêm -