Tài liệu Pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở việt nam hiện nay

  • Số trang: 147 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 113 |
  • Lượt tải: 4
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI PHÍ THỊ THANH TÂM PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Người hướng dẫn PGS TS : THÁI VĨNH THẮNG Hà Nội 2007 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nền báo chí cách mạng nước ta đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước đây cũng như trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Chủ trương đổi mới do Đảng khởi xướng cùng với những thành tựu vĩ đại của công nghệ thông tin đã làm cho nền báo chí nước ta trong những năm gần đây phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Chính vì vậy, công tác quản lý Nhà nước về báo chí cần được tăng cường trong giai đoạn hiện nay. Ngày 17-10-1997, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã có Chỉ thị 22/CT-TƯ về Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản. Cùng với những quan điểm chỉ đạo quan trọng về hoạt động báo chí, quan điểm "phát triển đi đôi với quản lý tốt" là một nguyên tắc cơ bản định hướng cho nội dung quản lý nhà nước về báo chí trong tình hình mới. Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X cũng đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí ngày 12-6-1999. Việc thông qua Luật này tạo cơ sở hoàn chỉnh về hành lang pháp lý cho hoạt động báo chí, đảm bảo sự bình đẳng, dân chủ trong thông tin, bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Đây cũng là điều kiện mới để báo chí Việt Nam phát triển, hội nhập với báo chí khu vực và trên thế giới. Thực tiễn hơn 20 năm đổi mới, báo chí nước ta đã chuyển hướng kịp thời, không ngừng phát triển và đã đạt được những thành tựu quan trọng. Chưa thời điểm nào mặt trận báo chí phát triển mạnh, phong phú, đúng hướng, tiến bộ cả về số lượng và chất lượng như hiện nay. Báo chí đã bám sát đời sống xã hội; cung cấp thông tin đa chiều, sâu sắc; tạo dư luận xã hội rộng lớn, đồng thuận với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Hầu hết các cơ quan báo chí đã tuyên truyền sâu rộng gương người tốt, việc tốt; sản 1 phẩm mới, công trình mới, rút ra những kinh nghiệm hay, bài học tốt, thúc đẩy phong trào thi đua, xây dựng xã hội phát triển lành mạnh. Đặc biệt trên lĩnh vực chống tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, lãng phí, các cơ quan báo chí đã dũng cảm, sáng tạo, mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, trong thời gian qua báo chí cũng bộc lộ nhiều hạn chế, sai sót, cần sớm khắc phục. Đó là: xu hướng thương mại hóa; xa rời tôn chỉ mục đích, đối tượng phục vụ; làm lộ bí mật, an ninh quốc gia. Báo chí còn chưa đến được đông đảo nhân dân lao động ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Nhiều tờ báo đăng bài, ảnh dung tục, thiếu văn hóa, đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Có nhiều phóng viên báo chí đã bộc lộ sự non nớt về chính trị; phẩm chất đạo đức nghề nghiệp yếu kém, thiếu tính chuyên nghiệp, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín tờ báo và giới báo chí cả nước. Những tồn tại trên một phần là do hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực hoạt động báo chí còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa được bổ sung, sửa đổi kịp thời phù hợp với thực tiễn hoạt động báo chí. Ngoài ra, nguyên tắc "phát triển báo chí đi đôi với quản lý tốt" chưa được quán triệt đầy đủ. Vì vậy, phải có sự nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện hơn nữa pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí. Hoạt động báo chí trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong quá trình hội nhập quốc tế và nhất là khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đang đặt ra những yêu cầu mới. Không nắm bắt được tình hình, báo chí khó có thể đảm đương được nhiệm vụ và giữ vững bản lĩnh của mình. Trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, khi các phương tiện thông tin kỹ thuật hiện đại ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, hoạt động báo chí và việc xây dựng hành lang pháp lý trong lĩnh vực báo chí cần được tăng cường và củng cố nhiều mặt mới đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Bởi vậy, nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cấp thiết. 2 Với lý do đó, tôi lựa chọn vấn đề: "Pháp luật về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong quá trình nghiên cứu lý luận báo chí, đề cập tới các khía cạnh khác nhau của đề tài đã có nhiều bài báo nghiên cứu khoa học được đăng tải rải rác trên các tạp chí chuyên ngành như: "Phạm vi bao quát và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước thi hành Luật Báo chí" (Nguyễn Văn Dững - Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền, số 4/1998; "Quản lý nhà nước về báo chí qua 8 năm thi hành Luật Báo chí" (Đỗ Quý Doãn - Chuyên san Nhà báo và Công luận, số 4/1998); "Báo chí Việt Nam - nhìn lại để bước vào thế kỷ mới" (Đỗ Quý Doãn - Tạp chí Người làm báo, số tháng 12/1999); "Vấn đề lãnh đạo quản lý báo chí trong thời kỳ đổi mới" (Bùi Đình Khôi - Tạp chí Người làm báo, số tháng 6/1997; "Về mặt tổ chức quản lý báo chí, còn nhiều vấn đề phải bàn" (Châu Văn Thư - Tạp chí Người làm báo, số tháng 1/1999); "Một số vấn đề về quảng cáo trên các phương tiện truyền thông" (Đinh Hường - Tạp chí Người làm báo, số tháng 5/2000); "Quản lý báo chí trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay" (Lê Doãn Hợp - Báo điện tử Nhân dân, ngày 18/6/2007); "Nhân ngày báo chí cách mạng Việt Nam (21-6): xã hội hóa hơn nữa để phát triển" (Vũ Duy Thông - Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 20/6/2006); "Một số vấn đề đặt ra trong công tác lãnh đạo, quản lý báo chí trước yêu cầu mới" (Hồng Vinh - Báo Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 21/6/2006); "Tiếp tục đổi mới và phát triển vững chắc nền báo chí cách mạng nước ta" (Tô Huy Rứa - Báo Nhân dân, ngày 21/6/2007). Ngoài ra, vấn đề quản lý nhà nước về báo chí luôn luôn được đề cập tới trong các cuốn sách nghiên cứu nghiệp vụ của các cơ sở đào tạo báo chí, trong các tác phẩm của các tác giả nghiên cứu về lý luận báo chí lâu năm như Hữu Thọ, Tạ Ngọc Tấn, Hà Minh Đức... Tuy nhiên, như trên đã trình bày, hầu hết các tác giả trên mới dừng lại ở mức độ đề cập giải quyết một số khía cạnh của vấn đề, những hiện tượng 3 đơn lẻ của thực tiễn báo chí đất nước. Chưa có một công trình nghiên cứu sâu, đầy đủ, có trọng tâm, trọng điểm và toàn diện về vấn đề này với tư cách là một đề tài nghiên cứu khoa học từ góc nhìn của khoa học luật - đi tìm cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với báo chí ở Việt Nam hiện nay. Từ mục đích đặt ra như trên, nhiệm vụ của luận văn là: - Làm rõ sự cần thiết quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực báo chí, vai trò của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí. - Nêu thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hiện nay; những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của những mặt còn tồn tại và những vấn đề đang đặt ra đối với báo chí hiện nay. - Trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị, các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hiện nay. 4. Cơ sở khoa học của đề tài - Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật; lý thuyết về sự điều chỉnh của pháp luật về quản lý nhà nước đối với tổ chức, hoạt động báo chí. - Cơ sở thực tiễn: Hoạt động báo chí và pháp luật về quản lý nhà nước đối với báo chí 5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí. 4 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn không nghiên cứu về báo chí nói chung mà chỉ đi sâu nghiên cứu pháp luật hiện hành về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với báo chí hiện nay. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, thống kê, lôgíc, so sánh đối chiếu, khoa học dự báo để hình thành các khái niệm khoa học, đánh giá pháp luật, thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí. 7. Đóng góp mới của luận văn Một là, bước đầu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí, làm rõ vai trò của pháp luật đối với quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí; bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân. Hai là, làm rõ lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí từ Cách mạng tháng Tám đến nay, trong đó làm sáng tỏ quá trình vừa kế thừa vừa phát triển liên tục của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí. Ba là, bước đầu đánh giá thực trạng pháp luật về quản lý trong lĩnh vực báo chí và thực trạng thực hiện pháp luật báo chí; nêu ra một số xu hướng phát triển báo chí. Bốn là, đưa ra một số quan điểm và phương hướng tạo cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí; đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý trong lĩnh vực báo chí trong đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí 1999 (sửa đổi). 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương: 5 Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí. Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hiện nay và thực trạng thực hiện. Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hiện nay. 6 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ 1.1. QUAN NIỆM PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ Ở nước ta, pháp luật về quản nhà nước trong lĩnh vực báo chí là một bộ phận quan trọng của pháp luật hành chính và hệ thống pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua vì những lý do khách quan, chủ quan khác nhau mà khái niệm pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống. Do đó, đến nay trong khoa học pháp lý ở Việt Nam, vẫn chưa đưa ra được một quan niệm thống nhất, hoàn chỉnh về pháp luật trong quản lý nhà nước về báo chí. Để làm sáng tỏ quan niệm pháp luật về quản lý trong lĩnh vực báo chí, trước hết chúng ta cần làm rõ quan niệm "quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí", các đặc điểm của quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí. 1.1.1. Quan niệm, đặc điểm quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực báo chí Luật Báo chí năm 1999 (sửa đổi) quy định các nội dung quản lý nhà nước về báo chí: Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí; xây dựng chế độ, chính sách về báo chí; tổ chức thông tin cho báo chí; quản lý thông tin của báo chí; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ báo chí; tổ chức, quản lý hoạt động khoa học, công nghệ trong lĩnh vực báo chí; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động báo chí, thẻ nhà báo; quản lý hợp tác quốc tế về báo chí, quản lý hoạt động báo chí Việt Nam liên quan đến nước ngoài và hoạt động báo chí nước ngoài tại Việt Nam; kiểm tra báo chí lưu chuyển; quản lý kho lưu chiểu báo chí; tổ chức, chỉ đạo công tác khen thưởng trong hoạt động báo chí; hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách, quy 7 hoạch, kế hoạch phát triển báo chí, việc chấp hành pháp luật về báo chí; thi hành các biện pháp ngăn chặn hoạt động báo chí trái pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong hoạt động báo chí. Từ những nội dung nêu trên, có thể thấy rằng, hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở nước ta xuất hiện chủ yếu là hoạt động của cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp, nhưng còn thiếu vắng hoạt động của cơ quan tư pháp (xét xử) khi có hành vi vi phạm pháp luật về báo chí. Dưới góc độ khoa học học quản lý, "quản lý nhà nước về báo chí", hiểu theo ý nghĩa trên là một khái niệm rộng bao hàm: Việc xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực báo chí, mà trọng tâm là các hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo trật tự quản lý và quyền công dân trong lĩnh vực báo chí, hướng tới xây dựng một nền báo chí tiến bộ, cách mạng phục vụ sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng kịp thời thông tin phục vụ đời sống cá nhân, xã hội. Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn, chúng tôi thấy quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí được thể hiện trên các phương diện sau: Một là, quản lý nhà nước về báo chí là một dạng hoạt động mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và được điều chỉnh bằng pháp luật. Như các hoạt động quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí luôn hướng tới phục vụ mục đích xây dựng trên quan điểm của Đảng và Nhà nước là: mọi chủ trương, đường lối, hoạt động của Đảng và Nhà nước và toàn xã hội đều nhằm mục đích vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân, vì nhân dân là cội nguồn của quyền lực. Vì vậy, hoạt động này mang tính quyền lực đặc biệt của Nhà nước "của dân, do dân và vì dân". Hoạt động quản lý nhà nước về báo chí thực chất là sự tác động mang tính tổ chức cao và được điều chỉnh bằng pháp luật. Để quản lý tốt, cần biết tổ 8 chức về mặt thực tiễn các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực báo chí. Tính tổ chức cao thể hiện ở hai phương diện: Thứ nhất, đây là hoạt động trực tiếp của các cơ quan nhà nước được giao chức năng nhiệm vụ trong lĩnh vực báo chí. Thứ hai, đây là hoạt động phải được đảm bảo về tổ chức (bộ máy) chuyên trách, mà tổ chức này được hình thành xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nước và đòi hỏi mang tính khoa học để đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động. Thực tiễn cho thấy, không có tổ chức, thì quản lý sẽ bị lỏng, sơ hở và kém hiệu quả, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng vô chính phủ. Để quản lý nhà nước về báo chí có hiệu quả, pháp luật được nhà nước sử dụng như một kênh để tổ chức bộ máy và định chi tiết các khuôn mẫu xử sự của các cơ quan quản lý cũng như công dân trong mối quan hệ thể hiện quyền và nghĩa giữa Nhà nước và công dân. Trong hoạt động quản lý nhà nước về báo chí, các cơ quan nhà nước luôn đụng chạm tới quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân cho nên phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết. Do vậy, cũng giống như quản lý hành chính nhà nước nói chung, quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí được điều chỉnh bằng pháp luật theo phương pháp mệnh lệnh. Hai là, quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí là hình thức quản lý nhà nước vừa mang tính phổ quát vừa mang tính đặc thù Điều này được thể hiện trên hai phương diện: Thứ nhất, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận là một cơ bản của công dân. Các nhà nước trên thế giới không thể không ghi nhận trong Hiến pháp và tạo ra cơ chế pháp lý để đảm bảo thực hiện nó trong đời sống xã hội. Các nhà nước đều thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí đồng thời luôn coi việc thực hiện chức năng quản lý trong lĩnh vực này là hoạt động có mục tiêu chiến lược, có chương trình và có kế hoạch để thực hiện mục tiêu nhằm mở rộng dân chủ, thúc đẩy quá trình giao lưu và hội nhập, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người dân…. Đặc điểm này đòi hỏi hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí phải có chương trình, kế hoạch dài hạn, trung hạn và 9 hàng năm; có tiêu chí vừa mang tính định hướng vừa mang tính pháp lệnh và có biện pháp cơ bản để tổ chức thực hiện các tiêu chí đó. Vì vậy, quản lý báo chí là quản lý mang tính phổ quát toàn cầu. Thứ hai, do báo chí có vai trò hết sức to lớn trong việc thông tin, tư tưởng, phát triển văn hóa và giải trí; là vũ khí tư tưởng sắc bén nên mỗi nhà nước với các thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa khác nhau sẽ quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí với những nét đặc thù. Ba là, quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí là quản lý trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa Quản lý nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa khác với quản lý nhà nước trong hoạt động vật chất như: quản lý hoạt động xuất nhập cảnh, kinh doanh, du lịch… Lĩnh vực báo chí liên quan trực tiếp đến con người - thực thể xã hội cụ thể với tư tưởng, trạng thái, nhận thức cụ thể. Hơn nữa, quản lý nhà nước trên lĩnh vực báo chí gắn liền với thể chế chính trị nhất định, thể hiện mục tiêu, lợi ích của nhà nước nên tính định hướng chính trị của nội dung thông tin được quan tâm đặc biệt. 1.1.2. Quan niệm pháp luật về quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực báo chí Để làm rõ quan niệm pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí, chúng ta cần phân tích và đặt nó trong mối quan hệ với pháp luật hành chính. Theo giáo trình về quản lý nhà nước của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1996) thì: "Quản lý hành chính nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành luật và tổ chức thực hiện luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính nhà nước (hệ thống Chính phủ và chính quyền địa phương [41, tr. 10]. Trong sách "Luật hành chính Việt Nam (2005), PGS.TS Đinh Văn Mậu và PGS.TS Phạm Hồng Thái cho rằng: 10 Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân do các cơ quan hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn những nhu cầu hàng ngày của nhân dân [51, tr. 19]. Từ các quan niệm về quản lý nhà nước nêu trên, chúng ta có thể hiểu: quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí cũng như bất kỳ một dạng quản lý xã hội nào khác, là dạng quản lý công vụ quốc gia của bộ máy nhà nước - là công việc của bộ máy hành pháp. Nó là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật, trên cơ sở quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hoạt động báo chí do các cơ quan có thẩm quyền trong hệ thống hành pháp từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, thỏa mãn nhu cầu tự do báo chí của công dân. Với ý nghĩa hành chính là chấp hành (thực thi) pháp luật, Chính phủ và các cơ quan hành chính trong lĩnh vực báo chí có quyền (lập quy) ban hành các quy tắc và các quyết định hành chính cho phép hoặc cấm đoán một cách áp đặt và buộc đối tượng có liên quan phải chấp hành; có quyền kiểm tra việc thực hiện pháp luật về báo chí và các quyết định mà nó ban hành; có quyền xử lý các tình huống quản lý bằng biện pháp cưỡng chế đối với các vi phạm hành chính kể cả trường hợp các chủ thể từ chối thực hiện nghĩa vụ pháp lý nhằm phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm pháp luật trong lĩnh vực báo chí. Tuy nhiên, để thực hiện được những quyền hạn trên cần có những quy định chung về tổ chức bộ máy và nhân sự thực hiện những hoạt động hành chính có hiệu lực, hiệu quả; đồng thời xác lập một trật tự chuẩn mực trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong từng quan hệ pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí. Với tính "vượt trội" của thiết 11 chế hành chính, chính phủ nắm giữ công quyền hành pháp theo nghĩa cưỡng chế của tổ chức luôn có xu hướng tự định trong ban hành các văn bản quy phạm pháp luật - ưu tiên mở rộng và tăng cường quyền lực không hạn chế nhằm cai quản nhiều hơn là thực hiện nghĩa vụ xã hội. Do vậy, cần đặt bộ máy hành pháp nói chung, các cơ quan hành chính trong lĩnh vực báo chí nói riêng trong sự kiểm soát của các quyền lập pháp, hành pháp và sự tham gia của các tổ chức xã hội, công dân để tránh xu hướng lạm dụng quyền lực. Những hoạt động có tính công quyền của hành chính nhà nước phải được kiểm soát, chịu sự ràng buộc bởi pháp luật do quyền lực chung - quyền lực nhà nước ban hành. Hành chính nói chung, hành chính trong lĩnh vực báo chí nói riêng được toàn quyền hành động quản lý và phục vụ nhưng phải đặt mình trong khuôn khổ pháp luật, tuân thủ pháp luật. Hành chính trong lĩnh vực báo chí được quyền tác động quyền lực và quyền tự do báo chí - lợi ích chính đáng của công dân nhưng phải tôn trọng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân theo pháp luật trong quản lý nhà nước về báo chí. Những quyết định hành chính làm tổn hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phải bị hủy bỏ và bị truy cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Hành chính nhà nước trong lĩnh vực báo chí là một bộ phận của nền hành chính nhà nước, theo đúng nghĩa là sự quản lý nhà nước về báo chí. Nó xuất hiện cùng với thiết chế hành chính nhà nước, quản lý công vụ quốc gia, cụ thể là công việc của bộ máy hành pháp thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trong lĩnh vực báo chí. Từ lý luận và thực tiễn thực hiện, áp dụng pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí, có thể đưa ra khái niệm pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí như sau: Pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với công dân, tổ chức trong lĩnh vực báo chí. 12 1.2. SỰ CẦN THIẾT QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC BẰNG PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ Ở bất kỳ một quốc gia nào cũng đều phải có những quy định quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực báo chí. Báo chí muốn xuất bản phải xin phép chính phủ, trên thế giới có hai cách quy định: Một là, người muốn ra báo phải làm đơn xin phép, khi có giấy phép rồi mới được tổ chức xuất bản báo (ví dụ ở Thụy Điển); hai là, chỉ cần khai báo theo một công thức và trong một thời hạn nào đó, mà không cần giấy phép (ví dụ ở Pháp). Nhưng dù theo quy định nào thì cũng phải có những ràng buộc khá ngặt nghèo kèm theo. Những lý do để Nhà nước quản lý bằng pháp luật trong lĩnh vực báo chí: - Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Báo cáo chính trị Đại hội X của Đảng viết: "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân". Điều đó có nghĩa là, mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân trong xã hội đều phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Báo chí là một hoạt động trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa, không nằm ngoài xã hội nên cũng phải đi trong hành lang pháp luật đó. Báo chí cũng phải tuân theo pháp luật. Bên cạnh việc khẳng định việc đảm bảo quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, Điều 2 Luật báo chí quy định hạn chế, ngăn ngừa sự lạm dụng về tự do đó: "Báo chí hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được nhà nước bảo hộ; không một tổ chức cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của nhà nước, tập thể và công dân". - Hoạt động báo chí cần sự định hướng của nhà nước. Báo chí là công cụ đấu tranh chính trị sắc bén, bởi vậy, mọi nhà nước, dù có chế độ chính trị nào đều có định hướng cho báo chí, để báo chí hoạt động đúng khuôn khổ pháp luật đề ra, thông tin tuyên truyền có lợi cho quyền lực, địa vị của nhà nước đương thời. Nếu thuận, báo chí sẽ là cánh tay đắc lực giúp củng cố chính phủ, còn ngược lại nó có thể lật đổ chính phủ, xóa bỏ chế độ đương nhiệm một cách 13 phũ phàng. Với tư cách là phương tiện quan trọng bậc nhất để quản lý báo chí, pháp luật định hướng hoạt động báo chí thể hiện ở những nội dung sau: pháp luật tạo ra cơ sở để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí; pháp luật xác định nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí và của nhà báo trong hoạt động nghiệp vụ; pháp luật định hướng hoạt động báo chí bằng cách quy định những vấn đề không được thông tin trên báo chí. - Báo chí có vai trò rất quan trọng trong công tác tư tưởng và ảnh hưởng sâu rộng đối với xã hội, đặc biệt trong những bước ngoặt của cách mạng. Nếu chúng ta không định hướng đúng đắn, không làm tốt công tác quản lý báo chí bằng pháp luật thì rất có thể đưa đến những lệch lạc, gây ra những tác hại khó lường. Hiện nay, có một số tờ báo và tạp chí bị khuynh hướng thương mại hóa và cơ chế thị trường chi phối, đăng tải những tin, bài thiếu lành mạnh, mang tính giật gân, không chính xác gây tác động xấu trong xã hội, nhất là đối với tuổi trẻ, thậm chí làm lội bí mật nhà nước. Một số người làm báo còn chịu ảnh hưởng không đúng về tự do báo chí, về vị trí chức năng của người làm báo, đã có những hành vi tiêu cực... làm ảnh hưởng xấu đến chức năng và danh dự cao quý của người làm báo, của cơ quan báo chí. Sau khi có Chỉ thị 22 của Bộ Chính trị, công tác quản lý nhà nước đối với báo chí có những mặt tiến bộ, song vẫn nhiều yếu kém, thiếu hiệu lực, thiếu hiệu quả, chưa kịp thời và có khi không kiên quyết. Đó là do các cơ quan có chức năng quản lý công tác báo chí từ trung ương đến địa phương, trước hết là Bộ Văn hóa - Thông tin, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí trong cả nước chưa làm hết trách nhiệm của mình. Ngoài ra, các cơ quan chủ quản báo chí còn dễ dãi, lỏng lẻo trong việc chỉ đạo báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, chưa kiên quyết trong việc sắp xếp lại báo chí thuộc quyền mình quản lý. Vì những lý do trên đòi hỏi phải có sự tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực báo chí. Tư tưởng nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là sự kế thừa tri thức lịch sử nhân loại được thể hiện trong đường lối đúng đắn của Đảng. Thực tiễn 14 xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và thực tiễn công cuộc đổi mới, phát triển đất nước ở nước ta hiện nay đang đặt ra yêu cầu bức thiết đối với quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về văn hóa, về báo chí nói riêng, trong đó công cụ pháp luật - hay nói cách khác: quản lý nhà nước bằng pháp luật - trở thành yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của đường lối đó. 1.3. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ Nhà nước quản lý các lĩnh vực trong đời sống xã hội bằng pháp luật. Pháp luật được coi là công cụ, phương tiện quan trọng tạo ra cơ chế để Nhà nước quản lý các quá trình xã hội hóa hướng tới mục đích xây dựng một xã hội phát triển. Cũng như pháp luật hành chính nói chung, pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí là cơ sở pháp lý cho các hoạt động hành chính của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực báo chí. Có thể chỉ ra vai trò của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí sau đây. 1.3.1. Pháp luật - phƣơng tiện quan trọng đảm bảo công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí Quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí và quyền được thông tin là những quyền cơ bản của công dân được quy định trong đạo luật cơ bản của Nhà nước, được cụ thể hóa trong Luật Báo chí và các văn bản pháp luật có liên quan. Điều 4, Luật Báo chí quy định công dân có quyền: Được thông tin qua báo chí về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới; tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà báo, gửi tin, bài, ảnh và tác phẩm khác cho báo chí mà không chịu sự kiểm duyệt của tổ chức, cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin; Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và thành viên của các tổ chức đó. 15 Như vậy, quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí có nội dung xác định, cụ thể, chứ không phải là một thứ quyền chung chung, trừu tượng. Thông qua báo chí, công dân thực hiện quyền được nhận tin, quyền đưa tin, quyền được bày tỏ quan điểm, thái độ của mình về những vấn đề đã và đang xảy ra trong đời sống xã hội. Thực hiện quyền tham gia ý kiến với Đảng và Nhà nước. góp ý, phê bình, kiến nghị khiếu nại, tố cáo trên báo chí là một trong những phương thức thực hiện quyền dân chủ của công dân. Thực tiễn hoạt động báo chí cho thấy phương thức này mang lại hiệu quả xã hội hết sức to lớn. Điều này xuất phát từ lợi thế của báo chí và vai trò định hướng dư luận xã hội của báo chí. Ở phương diện này, báo chí có vai trò to lớn trong việc làm lành mạnh xã hội, lên án những thói hư tật xấu, những hành vi đi ngược đạo lý truyền thống, thuần phong mỹ tục, phê phán những hành vi sai trái trong xã hội, góp phần xây dựng con người xã hội chủ nghĩa. Để đảm bảo thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí, Luật Báo chí còn quy định trách nhiệm của báo chí phải đăng tải, phát sóng tác phẩm, ý kiến của công dân; trường hợp không đăng tải, phát sóng thì phải trả lời công dân và nêu rõ lý do; báo chí phải trả lời hoặc yêu cầu tổ chức, người có chức vụ trả lời bằng thư hoặc trả lời trên báo chí về kiến nghị, khiếu nại, tố cáo mà công dân gửi đến (Điều 5, Luật Báo chí). Như vậy, pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí tạo môi trường pháp lý thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí. Chỉ trên cơ sở pháp luật, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân mới được đảm bảo một cách đầy đủ. 1.3.2. Pháp luật - phƣơng tiện cơ bản để thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về báo chí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí, đảm bảo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, chống xu hƣớng thƣơng mại hóa báo chí Quản lý nhà nước bằng pháp luật là tiền đề quan trọng dẫn đến hiệu quả chính trị, kinh tế, xã hội nói chung và trong báo chí nói riêng. Bằng hoạt động của mình, báo chí đã góp phần đáng kể vào việc ổn định chính trị, phát 16 triển kinh tế, xã hội ổn định trật tự và chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Từ bài học xương máu ở Liên Xô trước đây và các nước Đông Âu, Việt Nam đã khai thác triệt để hoạt động báo chí, xuất bản nhằm phục vụ cho mục tiêu xây dựng xã hội thịnh vượng, công bằng, dân chủ và văn minh. Pháp luật trong quản lý nhà nước về báo chí là công cụ quan trọng nhằm bảo tồn, phát triển nền văn hóa dân tộc, hiện đại, nhân văn; tiếp thu tinh hoa văn hóa và tiến bộ về khoa học và công nghệ của nhân loại, bảo đảm cho quá trình hội nhập thông tin báo chí toàn cầu. Báo chí là một trong các cơ sở của thiết chế văn hóa có địa vị pháp lý do pháp luật quy định, được đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu của quần chúng. Nhà nước và dư luận xã hội đã trao cho báo chí uy quyền cao cả mang tính nhân văn sâu sắc. Mặt khác, nhu cầu giao lưu, tiếp thu tinh hoa từ các nền văn hóa của nhân loại là nhu cầu của bản thân nền văn hóa dân tộc, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện đại. Trong điều kiện đó, với tư cách là phương tiện điều chỉnh có hiệu lực, pháp luật tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động văn hóa nói chung, hoạt động báo chí nói riêng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở ra cơ hội cho sự hòa nhập giữa các nền văn hóa, loại trừ khả năng hòa tan và đổi mầu trong quá trình hòa nhập. Pháp luật trong quản lý nhà nước về báo chí đã tạo lập hành lang và cơ hội bình đẳng để báo chí hoạt động với tư cách một tiểu hệ thống xã hội như các tiểu hệ thống xã hội khác trong hệ thống xã hội nói chung. Nhà nước ta luôn tạo điều kiện để hoạt động báo chí đạt hiệu quả cao, đồng thời ngăn chặn các hoạt động báo chí bất chấp hậu quả về chính trị, tư tưởng và văn hóa, chạy theo xu hướng thương mại hóa. Lợi nhuận của hoạt động báo chí trong cơ chế thị trường không thể tách rời mục tiêu chính trị, tư tưởng và văn hóa, giữa chúng có quan hệ biện chứng, trong đó chính trị, văn hóa, tư tưởng là mục tiêu hàng đầu. Như trên đã nói, hoạt động báo chí là một loại hình hoạt động vừa chịu sự tác động của hệ thống các quy luật phát triển văn hóa - tư tưởng, vừa 17 chịu tác động của hệ thống các quy luật kinh tế. Vì vậy, trong hoạt động báo chí có sự đấu tranh về ý thức hệ biểu hiện cả trên phương diện văn hóa - tư tưởng, cả trong các quan hệ kinh tế. Vì vậy, việc quy phạm hóa các quy luật phát triển vừa phải thể hiện ở phương diện văn hóa tư tưởng, vừa phải thể hiện ở phương diện kinh tế của hoạt động báo chí. Pháp luật phải mở đường cho tự do sáng tạo, đồng thời ngăn chặn những độc hại đối với hoạt động văn hóa - tư tưởng; Phải định hướng cho báo chí phát triển theo quy luật, ngăn ngừa khả năng tác hại từ mặt trái của kinh tế thị trường, làm ảnh hưởng đến định hướng tư tưởng - văn hóa. Nếu chỉ thấy lợi ích kinh tế sẽ dẫn đến việc chạy theo lợi nhuận, thương mại hóa hoạt động báo chí, gây hậu quả đối với xã hội. Ngược lại, nếu chỉ đề cao vai trò báo chí ở phương diện văn hóa - tư tưởng thì sẽ dẫn đến khả năng phát triển báo chí với bất kỳ giá nào, bất chấp quy luật... Như vậy, việc đổi mới và hoàn thiện pháp luật về báo chí trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sử dụng pháp luật để điều chỉnh hoạt động báo chí vừa là hoạt động điều chỉnh kinh tế trong văn hóa - tư tưởng, đồng thời điều chỉnh hoạt động văn hóa - tư tưởng trong cơ chế thị trường. Đó là hai mặt của một vấn đề phải được thể chế hóa phù hợp, bảo đảm cho báo chí hoạt động đúng quy luật, phát triển theo trật tự của pháp luật. 1.3.3. Pháp luật - phƣơng tiện tổ chức và hoạt động của của bộ máy quản lý nhà nƣớc đối với báo chí Muốn phát huy hiệu quả quản lý nhà nước về báo chí, điều cần thiết là phải thiết lập một hệ thống tổ chức quản lý báo chí rõ ràng, đồng bộ và quy định thật cụ thể cơ chế điều hành, điều phối của hệ thống tổ chức quản lý này từ Trung ương đến địa phương. Muốn thực hiện điều này, rõ ràng là phải dựa vào pháp luật, phải phát huy chức năng điều chỉnh của pháp luật trong việc hướng dẫn các hoạt động của cơ quan báo chí, tổ chức, cá nhân tuân theo quy định của pháp luật. Pháp luật là phương tiện đảm bảo cho tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước đối với báo chí tiến hành thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ, ngăn chặn sự lộng quyền, lạm quyền đảm bảo cho quản lý nhà nước về báo chí có hiệu lực và hiệu quả. 18 Ở nước ta, "Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí". Chính phủ có những cơ quan chuyên môn giúp việc cho Chính phủ trong từng lĩnh vực cụ thể đó là các bộ. Giúp việc cho Chính phủ về công tác quản lý báo chí là Bộ Thông tin và Truyền thông (Quyết định số 100 của Thủ tướng Chính phủ ngày 8/8/2007 về chuyển chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sang Bộ Thông tin và Truyền thông). Như vậy, Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí. Bộ Thông tin và Truyền thông, cụ thể là Cục báo chí, cơ quan tham mưu của Bộ, trực tiếp thực hiện mọi công việc quản lý nhà nước về báo chí. Hiện nay, Chính phủ chưa ban hành Nghị định mới quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông nên cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí là Luật Báo chí (sửa đổi, bổ sung năm 1999) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nhiệm vụ chính của Bộ Văn hóa - Thông tin là thực hiện các nội dung về quản lý nhà nước về báo chí trong phạm vi cả nước. Ví dụ, việc sắp xếp, quy hoạch báo chí, xây dựng chiến lược báo chí toàn quốc; xây dựng các văn bản pháp luật về chế độ báo chí, quản lý, cấp và thu hồi giấy phép hoạt động báo chí. Ngoài trụ sở chính ở Hà Nội, Bộ Văn hóa - Thông tin còn có Ban thường trú đóng tại Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện quản lý nhà nước về báo chí đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ Ninh Thuận, Lâm Đồng trở vào. Đối với những hoạt động báo chí liên quan đến các bộ và cơ quan ngang bộ khác đòi hỏi có sự quản lý nhà nước thì các bộ liên quan có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về báo chí theo quy định của Chính phủ. Chính phủ đã có quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để thống nhất quản lý nhà nước về báo chí. Ví dụ: Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin tổ chức thông tin thường kỳ cho báo chí; Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông 19
- Xem thêm -