Tài liệu Pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu từ thực tiễn tỉnh bắc ninh

  • Số trang: 75 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 22 |
  • Lượt tải: 0
thanhphoquetoi

Tham gia: 05/11/2015

Mô tả:

` DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CT TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn DN Doanh nghiệp DNNN Doanh nghiệp Nhà nước LDN Luật doanh nghiệp NSNN Ngân sách nhà nước iv ` MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. ii LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. iii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .............................................................. iv MỤC LỤC ......................................................................................................... v DANH BẢNG BIỂU...................................................................................... viii MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO MỘT CÁ NHÂN LÀM CHỦ SỞ HỮU VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO MỘT CÁ NHÂN LÀM CHỦ SỞ HỮU ........................... 7 1.1 Những vấn đề lý luận về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu.............................................................................. 7 1.1.1 Lịch sử về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên ......................... 7 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu ............................................................................. 8 1.1.3 Ưu điểm và nhược điểm của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu. ................................................... 13 1.2. Pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu ................................................................................................ 14 1.2.1Khái niệm pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu ........................................................................... 14 1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu .................................................... 15 Tiểu kết chương 1............................................................................................ 23 Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO MỘT CÁ NHÂN LÀM CHỦ SỞ HỮU VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH BẮC NINH 24 v ` 2.1 Thực trạng pháp luật hiện hành về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu............................................................... 24 2.1.1 Quy chế thành lập, đăng ký kinh doanh và chấm dứt hoạt động công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu ........... 24 2.1.2 Tổ chức quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu .................................................................................. 40 2.1.3 Chế độ tài chính và vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu............................................................... 41 2.2 Thực trạng thực thi pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu tại tỉnh Bắc Ninh .................................. 45 2.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh .......... 45 2.2.2 Tình hình thành lập và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu tại tỉnh Bắc Ninh ........................ 48 2.2.3 Những hạn chế và nguyên nhân ............................................................. 52 Tiểu kết chương 2............................................................................................ 56 Chương 3. YÊU CẦU HOÀN THIỆN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO MỘT CÁ NHÂN LÀM CHỦ SỞ HỮU TẠI TỈNH BẮC NINH ............................................................................................................... 57 3.1 Sự cần thiết hoàn thiện quy định pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn do một cá nhân làm chủ sở hữu....................................................................... 57 3.1.1 Yêu cầu quá trình hội nhập .................................................................... 57 3.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ........................................................ 58 3.1.3 Yêu cầu từ thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu ....... 59 3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu............................................................... 59 3.2.1 Hoàn thiện chung về pháp luật công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu............................................................... 59 vi ` 3.2.2 Giải pháp hoàn thiện đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bắc Ninh. .... 62 Tiểu kết chương 3............................................................................................ 65 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 67 vii ` DANH BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Tổng số doanh nghiệp thành lập mới theo thủ tục đăng ký doanh nghiệp của Luật Doanh nghiệp năm 2014 giai đoạn từ năm 2015 – 2019. .... 48 Bảng 2.2 Loại hình doanh nghiệp đã được tổ chức, cá nhân đăng ký thành lập.50 viii ` MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Công ty TNHH một thành viên nói chung và CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu nói riêng có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng nền kinh tế, trong giai đoạn hiện nay thì mô hình CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu rất phù hợp để cá nhân lựa chọn để phát triển kinh tế đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của đất nước. Nếu xét từ trước năm 1986, nền kinh tế nước ta có đặc điểm là nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, với hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể và hầu như thành phần kinh tế tư nhân không phát triển trong giai đoạn này. Thời kì ấy, kinh tế tư nhân không những không được thừa nhận mà còn bị xem xét là đối tượng cần được tập thể hóa. Do đó, ở thời kỳ này các DN nói chung và CT TNHH một thành viên nói riêng không được phổ biến ở nước ta. Từ khi Đảng và Nhà nước ta đổi mới, cộng thêm với sự ra đời của LDN đã tạo điều kiện rất to lớn cho sự phát triển của DN nói chung, CT TNHH một thành viên nói riêng. CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu đã góp phần sản xuất cho xã hội của cải vật chất không ngừng được tăng cao đáp ứng ngày càng tốt hơn về nhu cầu của đời sống nhân dân. Loại hình CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu đã góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu đã và đang đóng góp vai trò to lớn, góp phần vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và những vấn đề cấp bách về việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong giai đoạn hiện nay. CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu đã đóng góp vai trò to lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại dịch vụ cùng phát triển, thúc đẩy nền kinh tế đất nước ngày cành phát triển có thể cạnh tranh với các nước trong khu vực và thế giới. Nhằm phát huy những thế mạnh trên, để từng bước hoàn thiện cũng như đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quy định pháp luật DN nói chung, loại hình CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu 1 ` nói riêng. Việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu, hệ thống pháp luật hiện hành và từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu trong thực tiễn hiện nay mang ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc. Với nhận thức như vậy, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài “Pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Liên quan đến pháp luật DN nói chung có các bài viết trên tạp chí Luật học như “Bàn về tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” của Tiến sĩ Bùi Ngọc Cường; “Quan niệm về Luật Doanh nghiệp – Một số vấn đề phương pháp luận” của Thạc sỹ Đồng Ngọc Ba; Bài viết “Phát triển các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều thành phần” của Tiến sĩ Đinh Văn Ân trong tạp chí cộng sản số 57 năm 2004… Công ty TNHH một thành viên đã rất nhiều công trình nghiên cứu, cụ thể như: Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về chuyển đổi DNNN thành CT TNHH một thành viên” của tác giả Nguyễn Thị Huế, bảo vệ tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012; Luận văn “Chuyển đổi DNNN, DN của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội thành CT TNHH một thành viên – những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Phạm Thị Thúy Hồng, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2002; Luận văn thạc sĩ “CT TNHH theo pháp luật Việt Nam và hướng hoàn thiện địa vị pháp lý của loại hình DN này” của tác giả Lê Văn Khải, năm 1997, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội; Luận văn thạc sĩ “CT TNHH một thành viên theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật Cộng hòa Pháp” của tác giả Đinh Thị An, năm 2004, bảo vệ tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn thạc sĩ “Pháp luật CT TNHH một thành viên ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga, năm 2014, bảo vệ tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về CT TNHH một thành viên từ thực tiễn thành phố Hà Nội” của tác giả Đào Văn Khê, năm 2018, bảo vệ tại Học viện khoa học xã hội. 2 ` Như vậy, trước đó một số chuyên đề, đề tài khoa học chỉ đề cập những nội dung chung về pháp luật DN, tổng thể pháp luật về CT TNHH một thành viên mà chưa có đề tài nghiên cứu chuyên sâu về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu. Ở phạm vi đề tài nghiên cứu khoa học của mình, tác giả nghiên cứu chuyên sâu về một số nội dung cơ bản của pháp luật về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu như: Thành lập, đăng ký kinh doanh và chấm dứt hoạt động (Phá sản và giải thể công ty); Tổ chức quản lý công ty; Quy chế quản lý vốn và tài chính của công ty. Các công trình nghiên cứu về các quy định pháp luật về DN ở Việt Nam nói chung và pháp luật về CT TNHH một thành viên là nguồn tư liệu quý báu để tác giả tham khảo và kế thừa nhằm có được một bài viết chuyên sâu về một số nội dung cơ bản pháp luật về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu. Do đó, việc tác giả chọn đề tài “Pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài nghiên cứu khoa học tốt nghiệp thạc sĩ tại Trường Đại học mở Hà Nội càng mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu những vấn đề lý luận một số nội dung cơ bản về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu theo LDN năm 2014 và thực trạng pháp luật hiện hành, thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bắc Ninh. Từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu tại tỉnh Bắc Ninh. - Nhiệm vụ nghiên cứu: Thứ nhất, giải quyết một số vấn đề lý luận và pháp luật về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu. Thứ hai, nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành về DN, đặc biệt là nghiên cứu nội dung các quy định của LDN năm 2014 về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu. 3 ` Thứ ba, nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu tại tỉnh Bắc Ninh. Thứ tư, nêu các yêu cầu về hoàn thiện quy định pháp luật về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu tại tỉnh Bắc Ninh. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu, trong đó trọng tâm là nghiên cứu các quy định của LDN năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành. - Phạm vi nghiên cứu: + Nội dung nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là phân tích, đánh giá một số nội dung cơ bản về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu như: Thành lập, đăng ký kinh doanh và chấm dứt hoạt động (Phá sản và giải thể công ty); Tổ chức quản lý công ty; Quy chế quản lý vốn và tài chính công ty theo quy định của LDN năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, các văn bản pháp luật khác có liên quan. + Thời gian nghiên cứu: Trong khuôn khổ luận văn tập trung phân tích, đánh giá một số nội dung cơ bản về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ hữu theo quy định LDN từ năm 2014 và một số văn bản hướng dẫn thi hành LDN năm 2014. + Địa bàn nghiên cứu: Luận văn giới hạn nghiên cứu tại các CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu ở tỉnh Bắc Ninh quản lý và hoạt động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu - Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện pháp luật. 4 ` - Phương pháp nghiên cứu: + Phương pháp duy vật biện chứng: Xem xét giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiện pháp luật về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Được triển khai thực hiện ở chương 3 của luận văn. + Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân chia các vấn đề lớn, phức tạp thành những vấn đề nhỏ chi tiết, cụ thể hơn. Sau khi phân tích thì tổng hợp lại và khái quát để đưa tới sự nhận thức tổng hợp về pháp luật CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh và giải pháp hoàn thiện. Được triển khai thực hiện ở cả ba chương của luận văn. + Phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch: Đề tài đi từ những vấn đề chung đến những vấn đề chi tiết, cụ thể hơn. Sau khi phân tích thì tổng hợp lại và khái quát để đưa tới sự nhận thức tổng thể về pháp luật CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh hiện nay và giải pháp hoàn thiện. Được triển khai thực hiện ở cả ba chương của luận văn. + Phương pháp thống kê: Đề tài tập hợp những số liệu về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu và thực tiễn làm cơ sở khoa học. Được triển khai thực hiện ở chương 1 và chương 2 của luận văn. + Phương pháp so sánh: Đề tài đặt thực tiễn về vấn đề cần nghiên cứu trong mối liên hệ và so sánh với các quy định trong LDN năm 2005, qua đó tìm ra những những ưu, nhược điểm của vấn đề và đề xuất giải pháp hoàn thiện để giải quyết nội dung vấn đề cần nghiên cứu. Được triển khai thực hiện ở cả ba chương của luận văn. 6. Kết quả mới của luận văn Luận văn đã hệ thống hóa, kế thừa và phát triển các luận cứ khoa học nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận của CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu. Thông qua việc đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về CT TNHH hai thành viên trở lên trong thực tiễn, luận văn đã đánh giá những mặt tích cực, ưu điểm. Đồng thời, cũng chỉ rõ những tồn tại, bất cập trong các quy 5 ` định của pháp luật hiện hành về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu. Luận văn cũng đã đề xuất các yêu cầu hoàn thiện pháp luật, một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu nhằm giải quyết những bất cập của pháp luật về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bắc Ninh. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương với kết cấu như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu và pháp luật về Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu. Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bắc Ninh. Chương 3: Yêu cầu hoàn thiện pháp luật và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu tại tỉnh Bắc Ninh. 6 ` Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO MỘT CÁ NHÂN LÀM CHỦ SỞ HỮU VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO MỘT CÁ NHÂN LÀM CHỦ SỞ HỮU 1.1 Những vấn đề lý luận về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu 1.1.1 Lịch sử về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Các CT TNHH đầu tiên trên thế giới ra đời vào năm 1892 ở Đức sau khi luật về CT TNHH được ban hành. Sở dĩ các nhà làm luật sáng tạo ra loại hình công ty này vì trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ bên cạnh những công ty cổ phần có quy mô đồ sộ, đã xuất hiện nhiều nhu cầu đầu tư vừa và nhỏ. Mô hình công ty cổ phần không thích hợp với khuynh hướng đầu tư vừa và nhỏ này. Trong khi đó các thành viên lại không muốn chịu trách nhiệm vô hạn như các thành viên doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh. Các nhà đầu tư vừa muốn tận dụng khả năng đối vốn của công ty cổ phần lại vừa không muốn chịu những chế độ quản lý khắt khe của công ty cổ phần. Họ muốn có một mô hình công ty hoàn toàn mới đáp ứng được các yêu cầu quy mô nhỏ, số lượng thành viên ít, quy chế pháp lý đơn giản và chịu trách nhiệm hữu hạn. Các nhà làm luật đã đáp ứng được nguyện vọng của các nhà đầu tư bằng việc sáng tạo ra mô hình mới: CT TNHH. CT TNHH đã kết hợp được ưu điểm về sự quen biết nhau giữa các thành viên của công ty đối nhân. Đồng thời, CT TNHH cũng khắc phục được nhược điểm về quy chế quản lý phức tạp của công ty cổ phần và nhược điểm của việc không phân chia được rủi ro trong công ty hợp danh, DN tư nhân. Ở Việt Nam, năm 1990 Quốc Hội đã ban hành Luật Công ty, LDN tư nhân nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh doanh trong nước. Luật Công ty năm 1990 bao gồm CT TNHH và công ty cổ phần. LDN năm 1999, các nhà làm luật quy định tách CT TNHH thành CT TNHH một thành viên (do một tổ chức làm chủ sở hữu) và CT TNHH hai thành viên trở lên. CT TNHH một thành viên (Khoản 1, Điều 63); Công ty cổ phần (khoản 1 Điều 77); Công ty 7 ` hợp danh (Khoản 1 Điều 130); DN tư nhân (Khoản 1 Điều 141); Nhóm công ty (Điều 146). LDN năm 2005 được quy định cụ thể rõ ràng hơn, bổ sung thêm loại hình CT TNHH một thành viên là cá nhân, bổ sung thêm nhóm công ty. Đây là sự thay đổi phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở nước ta cũng như xu thế phát triển DN ở nhiều nước trên thế giới. Chính sự thay đổi này đã tạo ra cơ chế huy động vốn mềm dẻo, bảo đảm cho các thành phần kinh tế có thể tham gia một cách dễ dàng vào hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, từ đó tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư khi bỏ vốn kinh doanh, góp phần xây dựng một nền kinh tế ổn định, bền vững. LDN năm 2014 cũng như LDN năm 2005 đều quy định về từng loại hình DN: CT TNHH hai thành viên trở lên (Khoản 1 Điều 47): CT TNHH một thành viên (Khoản 1 Điều 73); Công ty cổ phần (Khoản 1 Điều 110); Công ty hợp danh (Khoản 1 Điều 172); DN tư nhân (Khoản 1 Điều 183); Nhóm công ty (Điều 188, Điều 189); DNNN (Chương IV). LDN năm 2014 về cơ bản hướng tới việc giảm thiểu thủ tục hành chính khi DN thành lập và hoạt động, nâng cao quyền tự do kinh doanh của DN…LDN năm 2014 quy định CT TNHH bao gồm: CT TNHH hai thành viên trở lên quy định từ Điều 47 đến Điều 72 và CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu hoặc do một tổ chức làm chủ sở hữu quy định từ Điều 73 đến Điều 87. Việc thừa nhận loại hình CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu trong hệ thống pháp luật Việt Nam trải qua những giai đoạn lịch sử lâu dài đã có sự thay đổi từ tư duy đến việc xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về loại hình công ty này. Đây chính là lý do sâu xa để CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu ra đời và được các nhà đầu tư lựa chọn đầu tư kinh doanh nhiều như hiện nay. 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu 1.1.2.1 Khái niệm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu Trước khi đưa ra khái niệm về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu thì trước hết phải hiểu về khái niệm về công ty nói chung. 8 ` Ở góc độ kinh tế, công ty có thể được hiểu là các tổ chức chuyên hoạt động kinh doanh thương nghiệp dịch vụ, nhằm phân biệt với các nhà máy, xí nghiệp là những đơn vị kinh tế chuyên hoạt động sản xuất. Trong khoa học pháp lý, mỗi nước có một định nghĩa công ty khác nhau. Tuy nhiên, khi xem xét bản chất của công ty, pháp luật của các nước nói chung có một số điểm cơ bản chung thống nhất. Công ty do hai chủ thể trở lên góp vốn thành lập. Đây là quan niệm truyền thống từ trước đến nay về công ty. Như nhà luật học Kubler Cộng hòa Liên bang Đức quan niệm rằng: “Khái niệm công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện pháp lí nhằm tiến hành các hoạt động để đạt được mục tiêu chung nào đó” [2- trang 109]. Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp quy định: “Công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người thỏa thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của mình vào một hoạt đông chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hoạt động đó” [2- trang 109]. Công ty TNHH một thành viên do một chủ cá nhân làm chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ. Thực tiễn kinh doanh ở nước ta các DNNN, các DN của tổ chức chính trị xã hội về bản chất cũng được tổ chức và hoạt động giống như CT TNHH một thành viên (một chủ sở hữu). LDN năm 1999 chỉ quy định CT TNHH một thành viên là tổ chức, mà không quy định CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu. LDN năm 2005 đã phát triển và mở rộng cả cá nhân cũng có quyền thành lập CT TNHH một thành viên. CT TNHH một thành viên thuộc loại hình công ty đối vốn có tư cách pháp nhân, nhưng không được quyền phát hành cổ phiếu. Còn đối với người nước ngoài tại Việt Nam và người Việt Nam ở nước ngoài thì họ được quyền thành lập CT TNHH một thành viên theo chính sách khuyến khích đầu tư trong nước và họ sẽ hoạt động theo luật khuyến khích đầu tư trong nước và luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Như vậy, có thể khái quát CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu là DN do một cá nhân làm chủ 9 ` sở hữu; chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty1. 1.1.2.2. Đặc điểm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu Theo LDN, CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu là loại hình DN có tư cách pháp nhân được pháp luật thừa nhận có các đặc điểm sau: Thứ nhất, về thành viên. Thành viên công ty là một cá nhân. Thành viên duy nhất này của công ty cũng chính là chủ sở hữu công ty. Nếu như trước đây CT TNHH một thành viên là một tổ chức thì bây giờ pháp luật nước ta đã thừa nhận chủ sở hữu công ty là một pháp nhân. Điều này phù hợp với chính sách khuyến khích phát triển DN của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời tạo ra môi trường pháp lý đa dạng và thuận lợi để cá nhân thành lập công ty riêng phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế cũng như các quy định của LDN. Chính sự thừa nhận này tạo ra ưu thế riêng cho CT TNHH một thành viên so với loại hình DN tư nhân. Thứ hai, CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu có tư cách pháp nhân. Công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN. Loại hình DN này đáp ứng đầy đủ bốn điều kiện luật định, đó là: được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Thứ ba, CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Theo Trang 8 Luận văn thạc sĩ của Đào Văn Khê “Pháp luật về CT TNHH một thành viên thực tiến thành phố Hà Nội”, năm 2018. 1 10 ` Đây là một trong những đặc trưng của công ty đối vốn đó là tính chất hữu hạn của chủ sở hữu công ty đối với phần vốn góp của mình vào công ty đó. Trong các loại hình DN thì CT TNHH và công ty cổ phần đều có đặc điểm đó. Tuy nhiên, ngay trong tên gọi của nó, CT TNHH đã thể hiện tính chất hữu hạn trong phạm vi trách nhiệm của thành viên công ty đối với các khoản nợ của công ty. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, nếu phát sinh các khoản nợ và ngoài tài sản khác của công ty thì chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn điều lệ đã góp hoặc cam kết góp vào công ty chứ không phải đưa tài sản riêng của cá nhân ra để thanh toán các khoản nợ đó. Như vậy, trong CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu có sự phân tách tài sản giữa tài sản của công ty và tài sản của thành viên công ty. Đây là một điểm khác biệt cơ bản so với DN tư nhân, bởi DN tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh. Trong DN tư nhân, không có sự tách bạch về tài sản cá nhân của chủ DN và tài sản của chính DN tư nhân đó. Thứ tư, CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu không được phát hành cổ phiếu ra công chúng để công khai huy động vốn. Đây là một đặc điểm cho thấy sự khác biệt giữa loại hình CT TNHH và công ty cổ phần. Trong khi một đặc trưng nổi bật, thể hiện rõ nét tính chất của công ty cổ phần đó là việc mô hình công ty này có quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Đây là cách thức huy động vốn quy mô rất lớn mà công ty cổ phần có thể tiến hành. Tuy nhiên, với đặc trưng của CT TNHH thì hoạt động phát hành cổ phiếu để huy động vốn là không cần thiết và không đảm bảo. CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu chỉ có thể huy động vốn bằng: Từ vốn vay của các tổ chức, cá nhân, phát hành trái phiếu và tăng vốn điều lệ bằng tăng vốn góp của chủ sở hữu. Thứ năm, cơ chế chuyển nhượng vốn, rút vốn. Việc chuyển nhượng, rút vốn công ty bị hạn chế, CT TNHH một thành viên nói chung và CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu được giảm vốn điều lệ trong trường hợp: “Hoàn trả một phần vốn góp trong vốn điều lệ của công ty nếu đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký DN và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và 11 ` nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho chủ sở hữu”. Đây là một điểm mới đáng ghi nhận trong LDN năm 2014 so với LDN năm 2005, giải quyết được vấn đề trong quy định của LDN 2005 là CT TNHH một thành viên được không được giảm vốn điều lệ với lý do đây là loại hình DN do một cá nhân làm chủ sở hữu, chủ sở hữu của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đều lệ của công ty, nếu pháp luật cho phép công ty được giảm vốn điều lệ, chủ sở hữu có thể lợi dụng quy định này để giảm vốn điều lệ một cách dễ dàng nhằm trốn tránh các nghĩa vụ về tài sản, dẫn tới quyền lợi của các chủ nợ không được bảo đảm. Quy định trước đây lại không cho CT TNHH một thành viên nói chung và CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu vô hình dung lại hạn chế không công bằng và bất hợp lý về quyền được giảm vốn điều lệ so với CT TNHH hai thành viên được giảm vốn điều lệ khi đáp ứng được điều kiện đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký DN và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho chủ sở hữu. Đây là điều luật thể chế hóa nguyên tắc để xác định, đăng ký vốn thực góp của công ty, giải quyết tình trạng vốn không có thực (ảo) nhưng không thể xử lý được như hiện nay. Trong quá trình hoạt động DN cũng có thể điều chỉnh giảm vốn bằng cách hoàn trả một phần vốn góp trong vốn điều lệ của công ty theo các điều kiện quy định tại LDN năm 2014. Như vậy, chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ cho cá nhân khác; trường hợp rút một phần hoặc toàn bộ vốn đã góp ra khỏi công ty dưới hình thức khác thì phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty. Trường hợp chuyển nhượng một phần vốn điều lệ cho cá nhân khác, công ty phải đăng ký chuyển đổi thành CT TNHH hai thành viên trở lên trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày chuyển nhượng. Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn. 12 ` 1.1.3 Ưu điểm và nhược điểm của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu. Xuất phát từ đặc điểm của loại hình DN này mà rút ra được các ưu điểm, nhược điểm cụ thể như sau: 1.1.3.1 Ưu điểm của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu - Ưu điểm lớn nhất của loại hình này là chủ sở hữu công ty sẽ có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty. - Một cá nhân cũng có thể thành lập được DN. Không nhất thiết phải tìm đối tượng hợp tác để cùng thành lập DN. - Chủ sở hữu CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho chủ sở hữu. Đây có thể được xem là ưu điểm vượt trội hơn so với loại hình DN tư nhân. - Có cơ cấu tổ chức gọn, linh động. Thủ tục thành lập đơn giản hơn loại hình CT TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần. - Quy định về vấn đề chuyển nhượng vốn quy định chặt chẽ. Nhà đầu tư dễ kiểm soát và tránh được sự thâm nhập của người khác vào công ty. 1.1.3.2 Nhược điểm của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu - Loại hình DN này không được phát hành cổ phiếu. Do đó, việc huy động vốn của công ty sẽ bị hạn chế. Công ty sẽ không có số vốn lớn để có thể triển khai những kế hoạch kinh doanh lớn. - Do CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu nên khi huy động thêm vốn góp của cá nhân khác sẽ phải thực hiện thủ tục chuyển đổi loại hình DN thành CT TNHH hai thành viên trở lên hay công ty cổ phần. - Công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu không được rút vốn trực tiếp. Mà phải bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn cho cá nhân khác. - Tiền lương thanh toán cho chủ sở hữu không được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập DN. 13 ` - Hơn thế, do chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp nên các đối tác cũng e ngại khi hợp tác cùng. 1.2. Pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu 1.2.1Khái niệm pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu Như đã trình bày ở trên, CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu là loại hình DN có rất nhiều ưu điểm nổi trội trong việc quản trị mô hình công ty nhỏ có hiệu quả, phân tán rủi ro cho các nhà kinh doanh. Song để loại hình DN này hoạt động có hiệu quả thì một trong những đòi hỏi tất yếu của nó là phải có được một cơ sở pháp lý tốt. Do vậy, những chính sách luật pháp rõ ràng để tạo ra hành lang pháp lý minh bạch, công khai cho các DN, trong đó có CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu là điều hết sức cần thiết. Pháp luật là một công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý. Bất kỳ một quan hệ nào phát sinh trong đời sống xã hội cũng cần đến sự điều chỉnh của pháp luật nhằm định hướng chúng đi theo một trật tự nhất định, để vừa đảm bảo được lợi ích của Nhà nước, của chủ thể quan hệ và vừa đảm bảo được lợi ích chung của toàn xã hội. Đối với hoạt động đăng ký kinh doanh, việc tạo lập khung pháp lý để điều chỉnh là hết sức cần thiết, và là tất yếu khách quan. Ngoài ra, pháp luật về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu phải đạt được sự đồng bộ, nhất quán, có sự điều chỉnh kịp thời để giúp các CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu không rơi vào tình trạng một là bị hạn chế năng lực kinh doanh và sức sản xuất chỉ vì các cơ chế, chính sách quá chồng chéo, mâu thuẫn và lạc hậu, hai là lại bị lúng túng, không biết xử lý ra sao vì các chính sách, chủ trương thường xuyên bị thay đổi. Như vậy, có thể rút ra khái niệm pháp luật về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu như sau: “Pháp luật về CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu là hệ thống các quy định của pháp luật điều chỉnh về các quan hệ trong việc thành lập, tổ chức hoạt động và 14 ` chấm dứt hoạt động của CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu”2. 1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu 1.2.2.1 Thành lập, đăng ký kinh doanh công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu Việc thành lập công ty hoàn toàn là quyền của công dân, pháp luật của Việt Nam đã và đang bắt đầu tiếp thu từ tư tưởng tiến bộ này. Qua đó xóa bỏ chế độ xin phép thành lập công ty đã tồn tại trong nhiều năm, chỉ thực hiện đăng ký kinh doanh công ty, xem việc thành lập và đăng ký là quyền của công dân, tổ chức được nhà nước bảo hộ bằng pháp luật. Việc đăng ký kinh doanh là sự ghi nhận về mặt pháp lý cho sự ra đời của một DN. Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì DN mới có được tư cách chủ thể để tiến hành hoạt động kinh doanh một cách hợp pháp theo các quy định của pháp luật. Việc đăng ký kinh doanh có ý nghĩa trong việc cung cấp thông tin về DN. Khi đăng ký kinh doanh các thông tin cần thiết về DN được ghi trong sổ đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Những đối tác muốn có quan hệ với DN có thể tìm hiểu thông tin ban đầu về DN bằng cách xem sổ đăng ký kinh doanh. Thành lập và đăng ký kinh doanh của CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu có thể được xem xét ở các nội dung cơ bản sau: *Quy định về chủ thể thành lập, đăng ký kinh doanh: Đối với loại hình CT TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu thì chủ thể kinh doanh được xác định là cá nhân. Quyền tự do kinh doanh được coi là một trong những quyền cơ bản của con người, tuy nhiên không có nghĩa là bất kỳ cá nhân nào cũng có quyền tham gia góp vốn, thành lập DN. Một chủ thể không có năng lực hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi thì sẽ bị pháp luật cấm kinh doanh. Ngoài ra, một số chủ thể khác mặc dù có đầy đủ năng lực hành vi nhưng do đặc thù về nghề nghiệp hoặc chức vụ mà họ đảm nhiệm Theo trang 18 Luận văn thạc sĩ Đào Văn Khê “Pháp luật CT TNHH một thành viên từ thực tiến thành phố Hà Nội”, năm 2018. 2 15
- Xem thêm -