Tài liệu Pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ở việt nam luận văn ths. luật

  • Số trang: 102 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 300 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT --------- --------- TRẦN PHONG BÌNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2009 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT --------- --------- TRẦN PHONG BÌNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH Ở VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ MÃ SỐ : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM HỮU NGHỊ HÀ NỘI - 2009 MỤC LỤC Mở đầu ....................................................................................................................................... 3 CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH Ở VIỆT NAM ..................................................................... 7 1.1. Một số khái niệm về môi trƣờng và du lịch ................................................................ 7 1.1.1. Khái niệm môi trƣờng........................................................................................... 7 1.1.2. Khái niệm du lịch, môi trƣờng du lịch ................................................................ 7 1.1.3. Nhận diện xu hƣớng phát triển du lịch thế giới đến 2020 ................................. 9 1.2. Môi trƣờng tự nhiên với những vấn đề đặt ra cho phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam ............................................................................................................................. 14 1.2.1. Vai trò của môi trƣờng đối với phát triển du lịch bền vững ........................... 14 1.2.2. Tác động của môi trƣờng tới du lịch ................................................................. 16 1.2.3. Tác động chủ yếu của du lịch tới môi trƣờng ................................................... 17 1.2.3.1. Tăng áp lực về chất thải sinh hoạt ................................................................ 17 1.2.3.2. Tăng mức độ suy thoái, ô nhiễm nguồn nước ................................................ 19 1.2.3.3. Tăng lượng khí thải, tăng nguy cơ ô nhiễm không khí .................................. 20 1.2.3.4. Tăng khả năng ô nhiễm dầu ở vùng nước ven biển, lưu vực sông, hồ nước chính ........................................................................................................................... 20 1.2.3.5. Làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất, tăng nguy cơ suy thoái đất ...................... 21 1.2.3.6. Làm suy thoái hệ sinh thái, giảm đa dạng sinh học ...................................... 22 1.3. Pháp luật về bảo vệ môi trƣờng trong lĩnh vực du lịch ........................................... 22 1.3.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ môi trƣờng trong lĩnh vực du lịch ..................... 22 1.3.2. Nội hàm pháp luật bảo vệ môi trƣờng trong lĩnh vực du lịch ......................... 23 1.3.3. Vai trò pháp luật về bảo vệ môi trƣờng trong lĩnh vực du lịch ...................... 25 1.3.4. Tiêu chí cơ bản xác định mức độ phù hợp của pháp luật về bảo vệ môi trƣờng trong lĩnh vực du lịch ....................................................................................... 27 CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH Ở VIỆT NAM................................................................................... 32 2.1. Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam .. 32 2.1.1 Các quy định pháp luật môi trƣờng có liên quan đến hoạt động du lịch ........ 32 2.1.1.1. Các quy định về cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ........................... 32 2.1.1.2. Các quy định về cơ quan quản lý nhà nước về du lịch .................................. 36 2.1.1.3. Các tổ chức, cá nhân ..................................................................................... 37 2.1.1.4. Nhận xét chung .............................................................................................. 42 2.1.2. Các quy định pháp luật về du lịch có liên quan đến bảo vệ môi trƣờng ........ 44 2.1.2.1. Quy định đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ................................. 44 2.1.2.2. Quy định đối với các tổ chức, cá nhân .......................................................... 45 2.1.2.3. Nhận xét chung .............................................................................................. 47 2.1.3. Thực trạng pháp luật thuộc lĩnh vực khác có liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trƣờng trong lĩnh vực du lịch................................................................................ 48 2.1.3.1. Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (3/12/2004) và các văn bản hướng dẫn ...... 48 2.1.3.2. Luật Thuỷ sản (26/11/2003) và các văn bản hướng dẫn ............................... 50 2.1.3.3. Luật di sản văn hoá (29/6/2001) và các văn bản hướng dẫn ........................ 50 2.1.3.4. Luật tài nguyên nước (20/5/1998) và các văn bản hướng dẫn ...................... 51 2.1.3.4. Luật Giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường thuỷ nội địa, Bộ luật Hàng hải ..................................................................................................................... 53 2.1.3.5. Các văn bản về xử lý vi phạm về môi trường có liên quan đến hoạt động du lịch .............................................................................................................................. 53 2.1.4. Nhận xét chung .................................................................................................... 54 1 2.2. Tình hình thực hiện pháp luật môi trƣờng có liên quan đến hoạt động du lịch ... 58 2.2.1. Tình hình thực hiện pháp luật của cơ quan quản lý nhà nƣớc trong bảo vệ môi trƣờng du lịch ......................................................................................................... 58 2.2.1.1. Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ..................................................... 58 2.2.1.2. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ............................................................ 65 2.2.1.3. Công tác phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và cơ quan quản lý nhà nước về môi trường để thực hiện bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch .............................................................................................................................. 70 2.2.2. Tình hình thực hiện các quy định về bảo vệ môi trƣờng của các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch .................................................................................................... 73 2.2.2.1. Cơ sở lưu trú du lịch ...................................................................................... 73 2.2.2.2. Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành ................................................................ 75 2.2.2.3. Cơ sở kinh doanh vận chuyển khách du lịch ................................................. 75 2.2.2.4. Ban quản lý khu du lịch ................................................................................. 75 2.2.3. Tình hình thực hiện các quy định về bảo vệ môi trƣờng của cộng đồng dân cƣ và các tổ chức xã hội ................................................................................................ 79 2.2.3.1. Cộng đồng dân cư.......................................................................................... 79 2.2.3.2. Tổ chức xã hội ............................................................................................... 81 2.2.4. Nhận xét chung .................................................................................................... 82 CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CƠ CHẾ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH Ở VIỆT NAM......................................................................................................................................... 84 3.1. Phát triển du lịch bền vững với yêu cầu nâng cao hiệu quả pháp luật về bảo vệ môi trƣờng trong lĩnh vực du lịch .................................................................................... 84 3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trƣờng trong lĩnh vực du lịch ...... 86 3.2.1. Đối với pháp luật về bảo vệ môi trƣờng nói chung .......................................... 87 3.2.2. Đối với pháp luật thuộc các ngành khác có liên quan đến môi trƣờng du lịch ......................................................................................................................................... 88 3.2.3. Đối với pháp luật về du lịch có liên quan đến bảo vệ môi trƣờng .................. 89 3.3. Giải pháp phát huy vai trò của các chủ thể hoạt động trong ngành du lịch và các chủ thể có hoạt động liên quan ......................................................................................... 90 3.3.1. Đối với các cơ sở kinh doanh du lịch ................................................................. 90 3.3.2. Đối với khách du lịch .......................................................................................... 91 3.3.3. Đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan ....................................... 91 3.3.4. Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội trong công tác bảo vệ môi trƣờng du lịch................................................................................................................................... 92 3.3.5. Tạo điều kiện cho cộng đồng dân cƣ địa phƣơng tham gia và đƣợc hƣởng lợi từ phát triển du lịch ...................................................................................................... 92 2 MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là đất nước giàu tiềm năng du lịch và ngành Du lịch Việt Nam đang dần khẳng định vị trí của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội chung của đất nước. Tuy nhiên, ở góc độ là ngành kinh tế mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, sự phát triển của du lịch Việt Nam cũng tạo ra những tác động ngày càng mạnh và ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường tại những khu vực diễn ra hoạt động du lịch. Việc bảo vệ môi trường là vấn đề quan tâm của ngành du lịch, đặc biệt khi những yêu cầu về phát triển du lịch bền vững được đặt lên hàng đầu trong các chính sách, chiến lược và chương trình hành động về phát triển du lịch. Hiện nay, các quy định pháp lý về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch chưa nhận được sự quan tâm tương xứng với yêu cầu của thực tế từ phía các nhà xây dựng pháp luật, các nhà quản lý và các chủ thể liên quan. Đồng thời, hoạt động triển khai, thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch còn bất cập, khả năng phối hợp giữa các chủ thể có nhiều điểm hạn chế. Chính điều này đã làm cho các ảnh hưởng tiêu cực từ hoạt động du lịch đến môi trường ngày càng mạnh hơn, làm mất đi dần đi tính hấp dẫn của các tài nguyên, sản phẩm du lịch; các tác động tích cực từ du lịch đến môi trường bị lu mờ, gây ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh của ngành du lịch. Để hướng tới sự phát triển bền vững của ngành du lịch, cần phải từng bước nâng cao hiệu quả của các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch. Pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch được xây dựng và hoàn thiện sẽ là cơ sở vững chắc để tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch. Đây là một nhu cầu cấp bách để ngành du lịch có thể nhanh chóng đóng góp vào sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước nói chung và sự nghiệp bảo vệ môi trường nói riêng. Xuất phát từ yêu cầu nghiên cứu phát triển lý luận và giải quyết những vấn đề cấp thiết trong thực tiễn phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam” cho luận văn thạc sỹ của mình. 3 2. Tình hình nghiên cứu Cho đến nay đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu về công tác bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch. Tuy nhiên, các đề tài này chủ yếu dừng ở việc nghiên cứu chung hoặc đưa ra những căn cứ mang tính kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch. Cụ thể : - Nghiên cứu hiện trạng môi trường phục vụ phát triển du lịch khu vực Hoa Lư, Tam Cốc – Bích Động (Ninh Bình) [1997] – Viện nghiên cứu phát triển du lịch. - Hiện trạng và một số giải pháp bảo vệ môi trường du lịch Việt Nam [2000] – Viện nghiên cứu phát triển du lịch. - Cơ sở khoa học xây dựng hệ thống chỉ tiêu môi trường cho hoạt động du lịch biển Việt Nam [2001] – Viện nghiên cứu phát triển du lịch. Nhìn chung, đến nay chưa có đề tài tập trung nghiên cứu một cách chuyên sâu về hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch. Thực hiện việc nghiên cứu đề tài này trong khuôn khổ một luận văn thạc sỹ là không trùng với các công trình khoa học đã được thực hiện trước đó. 3. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất một số giải pháp nhằm từng bước hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch. Để thực hiện mục đích nêu trên, nhiệm vụ của luận văn là : - Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch, làm sáng tỏ vai trò của pháp luật trong bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ; - Đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch, trong đó có đánh giá tình hình thực hiện pháp luật, đưa ra nhận xét về tính phù hợp của pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ; - Xác định phướng hướng, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch trong điều kiện hiện nay ở nước ta. 4 Về phạm vi nghiên cứu, vấn đề bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch có thể được xem xét dưới các góp độ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nhân văn. Đây là hai đối tượng nghiên cứu có đặc điểm, tính chất hoàn toàn khác nhau. Để tiếp cận, tìm hiểu chúng cần phải có những phương pháp nghiên cứu, công cụ điều chỉnh cũng như hệ thống chỉ tiêu riêng biệt, đặc thù. Trong khuôn khổ một luận văn thạc sỹ, với sự hạn chế về quy mô, thời gian nghiên cứu và các điều kiện khác liên quan, tác giả chỉ có giới hạn phạm vi nghiên cứu trong môi trường tự nhiên. 4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn được trình bày trên cơ sở vận dụng các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển du lịch Việt Nam phù hợp với định hướng phát triển bền vững chung của nền kinh tế. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả sử dụng các nguyên tắc, phương pháp luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Đồng thời, luận văn cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: nghiên cứu lý thuyết, tổng hợp tài liệu trong và ngoài nước; tìm hiểu thực tế, phỏng vấn chuyên gia; phân tích, xây dựng mô hình, thống kê sơ cấp và thứ cấp; phương pháp lịch sử và so sánh. 5. Ý nghĩa của luận văn Luận văn được thực hiện có ý nghĩa nhất định trong thực tiễn, là căn cứ khoa học để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch. Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch; tài liệu nghiên cứu, tham vấn cho các sinh viên theo học chuyên sâu về pháp luật bảo vệ môi trường tại các cơ sở đào tạo về luật; tài liệu tham khảo cho các tổ chức, cá nhân liên quan. 6. Kết cấu luận văn 5 Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu với ba chương: Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam Chƣơng 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS. Phạm Hữu Nghị đã hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành Luận văn này, xin cám ơn các Thầy, Cô giáo Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm và tạo điều kiện thuận lợi để tác giả nghiên cứu chuyên sâu phục vụ cho sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam./. 6 CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH Ở VIỆT NAM 1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ MÔI TRƢỜNG VÀ DU LỊCH 1.1.1. Khái niệm môi trƣờng Môi trường là một khái niệm chung, chỉ những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động kinh tế, xã hội của con người. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư điện tử của Việt Nam, khái niệm môi trường được hiểu như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên” [8, 1]. Như vậy, môi trường chung bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo và môi trường xã hội. Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên: vật lý, hoá học, sinh học tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người. Môi trường nhân tạo bao gồm các nhân tố vật lý, hoá học, sinh học và xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người. Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ trong xã hội thông qua các hình thái tổ chức bộ máy, thể chế kinh tế – xã hội. Ba loại môi trường này cùng tồn tại đan xen và có mối quan hệ tương tác chặt chẽ trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Khoản 1 - Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 quy định: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật". 1.1.2. Khái niệm du lịch, môi trƣờng du lịch Theo nghĩa rộng, du lịch là sự di chuyển của con người từ điểm này sang điểm khác với những mục đích đa dạng và bằng các phương tiện khác nhau. Sự di chuyển này liên tục 24/24 giờ trong ngày không bao giờ dừng. Bên cạnh việc di chuyển bằng các phương tiện cá nhân còn có các cơ sở kinh doanh phương tiện vận chuyển phục vụ người di chuyển. Như vậy, du lịch bao gồm tất cả 7 những hoạt động di chuyển của con người, cũng như những hoạt động liên quan đến sự di chuyển đó. Theo nghĩa hẹp, trong kinh doanh du lịch, khách du lịch xét về mặt bản chất thì họ là những người di chuyển từ nơi ở thường xuyên của mình đến những địa điểm khác nhau với mục đích tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định sau đó trở về nơi cư trú thường xuyên của mình. Vậy du lịch được hiểu là sự di chuyển của con người nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch theo một chương trình nhất định và các hoạt động tổ chức chương trình du lịch đó. Khoản 1 - Điều 4, Luật Du lịch năm 2005 quy định:“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Khái niệm môi trường du lịch được hiểu bao gồm các nhân tố về tự nhiên, kinh tế – xã hội và nhân văn, mà trong đó hoạt động du lịch tồn tại và phát triển. Hoạt động du lịch có mối quan hệ qua lại mật thiết với môi trường, khai thác đặc tính của môi trường để phục vụ mục đích phát triển và tác động trở lại góp phần làm thay đổi các đặc tính của môi trường. Môi trường du lịch bao gồm môi trường du lịch nhân văn và môi trường du lịch tự nhiên. Môi trường du lịch nhân văn là bộ phận cấu thành của môi trường chung, bao gồm truyền thống văn hoá, phong tục tập quán, thói quen, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, phong cách ứng xử… tác động tới hoạt động du lịch. Môi trường du lịch tự nhiên bao gồm tập hợp các đối tượng tự nhiên hữu cơ, vô cơ; trong đó có những đối tượng tự nhiên chưa bị con người tác động và những đối tượng tự nhiên đã bị con người cải tạo ở những mức độ khác nhau, song vẫn bảo tồn được một phần hoặc toàn bộ các đặc tính tự phục hồi và phát triển. Môi trường du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố thiên nhiên: đất, nước, không khí, động thực vật, tức là các yếu tố vật lý (môi trường vật lý) và các yếu tố sinh vật (môi trường sinh học). 8 Trong phạm vi Luận văn này, các vấn đề về môi trường du lịch sẽ chỉ được xem xét ở khía cạnh môi trường du lịch tự nhiên. 1.1.3. Nhận diện xu hƣớng phát triển du lịch thế giới đến 2020 Trong những năm gần đây du lịch ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong nền kinh tế thế giới, là sự lựa chọn để thoát khỏi đói nghèo của một số quốc gia đang phát triển hoặc có khả năng cạnh tranh không cao trong các lĩnh vực công nghệ cao và hiện đại. Ở thời điểm hiện tại, có thể nhận định về một số nét chính trong xu hướng phát triển của du lịch thế giới như sau: - Lượng khách và thị trường khách du lịch đến năm 2020: Theo dự đoán của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), lượng khách du lịch quốc tế có thể lên đến 1 tỷ vào năm 2010 và tăng lên 1,56 tỷ vào năm 2020 với tốc độ tăng trưởng là 4,5%. Trong phạm vi khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, du lịch phát triển nhanh hơn mức trung bình cuả thế giới với mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 8% trong những năm 2000-2010. Cũng theo dự đoán của WTO đến năm 2020 ba vùng nhận khách nhiều nhất sẽ là Châu Âu (717 triệu khách), Đông Á và Thái Bình Dương (397 triệu) và châu Mỹ (282 triệu), tiếp theo đó là Châu Phi, Trung Đông và Nam Á. Đông Á và Thái Bình Dương, Nam Á, Trung Đông và Nam Phi được dự đoán sẽ tăng trưởng 5% năm so với tốc độ tăng trưởng 4,1% của thế giới. Các vùng khác như Châu Âu và Châu Mỹ tốc độ tăng trưởng sẽ thấp hơn mức trung bình của thế giới. Khu vực Châu Âu sẽ vẫn chiếm thị phần nhận khách lớn nhất, mặc dù có sự giảm sút từ 60% năm 1995 xuống còn 46% năm 2020. Đến năm 2010 Châu Mỹ (có thị phần giảm từ 19% năm 1995 xuống 18% vào năm 2020) sẽ phải nhường vị trí số 2 cho Đông Á và Thái Bình Dương (vùng này sẽ chiếm khoảng 25% thị phần khách du lịch quốc tế của thế giới vào năm 2020). [22, 2] (Xem Bảng) 9 Dự đoán thị phần khách du lịch quốc tế theo vùng đến năm 2020 Lượng khách quốc tế đến các vùng (triệu người) Năm cơ Dự báo Tỷ lệ tăng sở Thị phần (%) trưởng hàng năm(%) 1995 2010 2020 565,4 1.006,4 1.561,1 4,1 100 100 Châu Phi 20,2 47,0 77,3 5,5 3,6 5,0 Châu Mỹ 108,9 190,4 282,3 3,9 19,3 18,1 ĐôngÁ/TBDương 81,4 195,2 397,2 6,5 14,4 25,4 Châu Âu 338,4 527,3 717,0 3,0 59,8 45,9 Trung Đông 12,4 35,9 68,5 7,1 2,2 4,4 Nam Á 4,2 10,6 18,8 6,2 0,7 1,2 Nội địa 464,1 790,9 1.183,3 3,8 82,1 75,8 Quốc tế 101,3 215,5 377,9 5,4 17,9 24,2 Tổng 1995-2020 1995 2020 - Vị trí của du lịch trong nền kinh tế thế giới và Việt Nam: Du lịch là một trong những ngành công nghiệp quan trọng và phát triển nhanh nhất trên thế giới. Tuy nhiên, trước đây, tầm quan trọng của nó đã không được nhận biết một cách đầy đủ vì chính nó cũng đã không tự biết mình như là một ngành công nghiệp hỗn hợp mà lại chia ra thành nhiều ngành nhỏ như hàng không, vận chuyển trong nước, khách sạn, các đại lý du lịch, buôn bán lẻ, giải trí… Những khoản chi tiêu trong du lịch cũng khó xác định vì được thực hiện bằng tiền mặt, ở nhiều quốc gia khác nhau và thường không lưu lại chứng từ. Nếu như tài chính trong sản xuất nông nghiệp được chấp nhận một cách nghiêm túc thì du lịch lại chịu sự xé nhỏ hay bị xếp vào "các dạng dịch vụ", một dạng phân loại dùng cho những thành phần dư thừa mà chúng ta không biết xếp vào đâu. 10 Thực tế, du lịch là một ngành công nghiệp xuất khẩu vì nó mang lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho quốc gia. Do có nhiều hoạt động khuyến mãi ở nước ngoài, du lịch lẽ ra phải được phối hợp với hoạt động khuyến khích xuất khẩu để kết hợp thành một thương hiệu quốc gia và hỗ trợ nhau phát triển. Nhưng trên thực tế khái niệm này mới được giới thiệu ở một số nước chứ chưa được thừa nhận rộng rãi. Không những thế, du lịch cũng có lúc bị xem là hành vi khuyến khích ảnh hưởng ngoại lai, làm thay đổi cấu trúc và truyền thống văn hoá một cách nghiêm trọng. Có khi du lịch bị cho là nguyên nhân làm suy đồi giới trẻ và trong những trường hợp xấu nhất du lịch đã huỷ hoại thiên nhiên, tạo ra chất thải và ô nhiễm. Vì thế một số nước có khuynh hướng hạn chế du lịch thay vì thực hiện một cách hiệu quả hơn. Tuy nhiên, theo đánh giá chung, công nghiệp du lịch đang trở thành một nền công nghiệp lớn với tiềm năng kinh tế to lớn. Trong những năm tới đây du lịch sẽ phải được thừa nhận là một ngành kinh tế, ngành kinh tế này có thể gây ô nhiễm và làm suy thoái môi trường và vì thế nó càng cần được đối xử đúng mực để khai thác tài nguyên du lịch có hiệu quả, đồng thời có chính sách bảo vệ môi trường phù hợp để phát triển du lịch bền vững. Qua hơn 45 năm hình thành và phát triển, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, căn cứ vào tiềm năng của đất nước, kết hợp với kinh nghiệm rút ra từ hoạt động du lịch của các nước trên thế giới, ngành du lịch đã được Đảng và Nhà nước ta đặt vào một vị trí xứng đáng, đồng thời giao phó cho một nhiệm vụ nặng nề nhưng vẻ vang trong quá trình đi lên của đất nước. Thực tế trong những năm gần đây, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII và Kết luận 179/TBTƯ của Bộ Chính trị, ngành du lịch đã đạt được tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm cả về cơ sở vật chất lẫn số lượng du khách, với nguồn thu hơn 2 tỷ USD mỗi năm, tạo thêm hàng trăm nghìn việc làm. Ở những địa bàn trọng điểm, hoạt động du lịch đã góp phần làm thay đổi diện mạo đô thị, nông thôn và đời sống cộng đồng dân cư, thúc đẩy xuất khẩu tại chỗ hàng hoá dịch vụ, tác động tích cực đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế, văn hoá-xã hội; khôi phục nhiều lễ hội, phát triển nhiều ngành nghề truyền thống; góp phần thúc đẩy chuyển dịch 11 cơ cấu kinh tế; góp phần xoá đói, giảm nghèo; mở rộng giao lưu giữa các vùng, miền trong nước và giữa các địa phương của nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới. Du lịch Việt Nam đã xác lập và dần nâng cao hình ảnh và vị thế trên trường quốc tế, từng bước khẳng định vai trò, vị trí trong nền kinh tế quốc dân, tạo cơ sở để phát triển một ngành kinh tế mũi nhọn. - Xu hướng phát triển du lịch bền vững: Mặc dù không phải quốc gia nào cũng xác định được chính sách phát triển ngành du lịch cho phù hợp, song đa số các quốc gia đều xác định chủ trương phát triển du lịch bền vững. Cho đến nay đang vẫn có nhiều tranh cãi về sự phát triển một ngành du lịch bền vững và không bền vững. Để có thể làm rõ hơn khái niệm du lịch bền vững, chúng ta sẽ xem xét nó trong mối quan hệ với du lịch không bền vững. Phát triển du lịch tự phát có thể xem như một dạng của phát triển du lịch không bền vững. Phát triển du lịch tự phát thường tập trung vào việc phát huy tối đa số lượng khách đến mà không quan tâm đến việc quốc gia hay địa phương có khả năng đón tiếp và thoả mãn yêu cầu của các du khách hay không. Điều không tránh khỏi là sẽ gây ra những ấn tượng xấu, lan truyền rộng và hậu quả sẽ giảm số lượng khách đến trong tương lai. Du lịch tự phát còn có khuynh hướng nhấn mạnh vào số lượng khách đến hơn thời gian khách lưu trú hay mức độ chi tiêu, trong khi xét về hiệu quả kinh tế, lượng khách ít hơn nhưng ở lại lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn sẽ tốt hơn nhiều so với việc phải chăm sóc nhiều khách hàng trong một thời gian ngắn, với các mức độ chi tiêu giới hạn. Cũng có một khuynh hướng khác là tập trung vào nguồn thu nhập, hàng mang vào của khách và những lợi ích trước mắt hơn là đầu tư và tái đầu tư vào cơ sở hạ tầng cũng như các tiện nghi cho du khách nhằm làm tăng chất lượng, cung ứng số lượng lớn trong tương lai và hướng về lâu dài. Sự hấp dẫn của số lượng khách đến thường dẫn đến việc xem thường khả năng bảo vệ môi trường và bảo tồn văn hoá địa phương, tượng đài lịch sử và những tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo. Ở một số quốc gia, người ta đem bán tượng đài lịch sử, bán các sản vật thiên nhiên… cho du khách để lấy tiền mặt hơn là gìn giữ cho thế hệ sau. Và đó chính 12 là hành động của một nền du lịch ngắn ngủi, nhất thời. Ngoài ra, việc du nhập những thói quen xấu đi ngược với những tập tục xã hội như mãi dâm, ma tuý và cả các sòng bạc không kiểm soát được cũng là những biểu hiện của một nền du lịch không bền vững. Ngược với du lịch không bền vững là du lịch bền vững. Mặc dù còn những quan điểm chưa thực sự thống nhất về khái niệm phát triển du lịch bền vững, nhưng đa số ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực có liên quan ở Việt Nam đều cho rằng : “Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai : cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương” [17, 5]. Trong quá trình phát triển du lịch phải đảm bảo được sự bền vững về kinh tế, về tài nguyên môi trường du lịch và về văn hoá xã hội. + Bền vững về kinh tế trong trường hợp này là "sự phát triển ổn định và lâu dài" của du lịch, tạo ra nguồn thu đáng kể, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế của xã hội và đem lại lợi ích cho cộng đồng đặc biệt là người dân địa phương. Khi mức sống của người dân địa phương được cải thiện nhờ du lịch, họ sẽ có động cơ để bảo vệ nguồn thu nhập này bằng cách bảo vệ các tài nguyên và môi trường, bảo vệ các giá trị văn hoá truyền thống để khách du lịch tiếp tục tới. Chia sẻ lợi ích du lịch cũng là phương pháp tích cực trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo, đem lại cơ hội nâng cao mức sống cho người dân địa phương, góp phần tăng trưởng kinh tế ở những vùng còn khó khăn. + Bền vững về tài nguyên môi trường là việc sử dụng các tài nguyên không vượt quá khả năng tự phục hồi của nó, sao cho đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện tại song không làm suy yếu khả năng tái tạo trong tương lai để đáp ứng được nhu cầu của thế hệ mai sau. 13 + Bền vững về văn hoá là việc khai thác, đáp ứng các nhu cầu phát triển du lịch hiện tại không làm tổn hại, suy thoái các giá trị văn hoá truyền thống để lại cho các thế hệ tiếp theo. Hiện nay trên 80% số khách đi du lịch là nhằm mục đích để hưởng thụ các giá trị văn hoá độc đáo và khác biệt với nền văn hoá của dân tộc họ [23, 3]. Các điểm du lịch có sự kết hợp giữa cảnh đẹp thiên nhiên và nền văn hoá truyền thống gây ấn tượng mạnh và độc đáo có sức hấp dẫn lớn hơn đối với du khách. Du khách muốn được xem và hưởng thụ những giá trị văn hoá đích thực, sống động trong cuộc sống hàng ngày của người dân. Điều này hấp dẫn hơn nhiều so với những gì tái tạo lại trong một viện bảo tàng, một cuộc triển lãm hoặc trình diễn. Và như vậy, nếu các giá trị văn hoá bị huỷ hoại, bị biến đổi hoặc chỉ còn tồn tại dưới dạng mô phỏng thì sẽ không còn khả năng hấp dẫn du khách và như vậy ngành du lịch khó có khả năng phát triển được. 1.2. MÔI TRƢỜNG TỰ NHIÊN VỚI NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 1.2.1. Vai trò của môi trƣờng đối với phát triển du lịch bền vững * Môi trường là yếu tố quyết định đến sự phát triển du lịch Không một quá trình sản xuất nào không đòi hỏi phải khai thác tài nguyên thiên nhiên, các thành phần môi trường. Đặc biệt đối với ngành du lịch, nơi mà tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các sản phẩm thu hút khách du lịch và có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngành. Sự gia tăng các hoạt động du lịch thể hiện ở sự gia tăng số lượng khách đến các địa điểm tham quan, du lịch; gia tăng số ngày lưu trú của khách và gia tăng các nguồn thu nhập xã hội từ du lịch. Để làm được điều này, điều cơ bản là phải duy trì được sự hấp dẫn đối với khách du lịch. Các thành phần của môi trường tự nhiên cảnh quan, hệ sinh thái đều là những yếu tố hình thành nên tài nguyên du lịch, tạo ra sức hấp dẫn du lịch. Du lịch chỉ có thể phát triển khi các yếu tố này được bảo vệ, duy trì. Các điểm tham quan, du lịch chỉ có thể hấp dẫn khách du lịch khi có một môi trường sạch đẹp, vệ sinh môi trường trong không khí, nước, đất được đảm bảo, đáp ứng được mong muốn nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng và bảo vệ được sức khoẻ 14 cho du khách. Rõ ràng, cần phải thực hiện tốt các yêu cầu bảo vệ môi trường để thực hiện mục tiêu thu hút khách du lịch đến lưu trú dài ngày tại các điểm tham quan, du lịch. Trong quá trình hoạch định chiến lược, chính sách phát triển du lịch, cần phải cân nhắc, tính toán tới vấn đề môi trường tương xứng với vị trí và vai trò của nó, cần nhận thức một cách sâu sắc và đúng đắn bản chất, vai trò của môi trường đối với sự phát triển của hoạt động du lịch. Tài nguyên du lịch là có giới hạn, chứ không phải dồi dào và vô hạn như có người vẫn tưởng. Điều đó dẫn tới yêu cầu phải khai thác hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên du lịch. Trong hoạt động du lịch, cơ sở kinh doanh du lịch, khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương và tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ du lịch luôn lệ thuộc vào thiên nhiên và môi trường. Song, không phải ai cũng nhận thức được vai trò của mối quan hệ giữa môi trường và phát triển du lịch. “Hiểm hoạ khôn lường là những tác động tiêu cực lại ít khi biểu hiện trực tiếp lên một cá thể nhất định” [7, 8]. Một cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch có hành vi phá hoại môi trường nhưng hậu quả của các hành vi đó lại tác động lên cả cộng đồng, lên hình ảnh du lịch của cả một quốc gia, có khi kéo dài đến cả thế hệ mai sau. Việc phát triển du lịch thường đi kèm với sự gia tăng các các sức ép lên môi trường; các nhu cầu tiêu dùng quá lớn và hoạt động du lịch thiếu tính bền vững của một bộ phận khách du lịch là yếu tố góp phần tạo ra các hiện tượng ô nhiễm, suy thoái môi trường và các hiện tượng này, đến lượt nó sẽ huỷ hoại ngành du lịch. Phát triển du lịch không những tác động trực tiếp đến môi trường mà còn có thể gây ra những tác động gián tiếp thông qua việc nảy sinh các hành vi không thân thiện với môi trường. Chính vì vậy, công tác bảo vệ môi trường không những cần được thực hiện song song với quá trình hoạt động du lịch mà phải được đặt ra ngay từ đầu – giai đoạn hoạch định các chính sách phát triển du lịch. * Môi trường là cơ sở để phát triển du lịch sinh thái. 15 “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển du lịch bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [19, 7]. Trước hết, du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên nhiên, hướng về thiên nhiên. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên là yếu tố hấp dẫn đặc biệt đối với các du khách lựa chọn loại hình du lịch sinh thái. Du lịch sinh thái kích thích du khách khám phá những yếu tố mới lạ của tự nhiên, chinh phục nguồn tài nguyên vốn hoang sơ chưa bị xâm phạm. Du lịch sinh thái giáo dục cho con người tình yêu đối với thiên nhiên, môi trường, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Chính vì lẽ đó, du lịch sinh thái được xem là một trong những định hướng phát triển quan trọng trong quá trình hoạch định chính sách phát triển du lịch của các quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay còn có nhiều người chưa hiểu đầy đủ về du lịch sinh thái, coi du lịch sinh thái chỉ đơn giản là loại hình du lịch khám phá các hệ sinh thái của thiên nhiên, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không gắn kết nó với các chỉ tiêu bảo vệ môi trường. Chính vì vậy, phát triển du lịch sinh thái phải gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường để trên cơ sở đó, xây dựng các hướng dẫn về du lịch sinh thái sao cho các tác động tiêu cực không xảy ra. * Môi trường là yêu cầu để phát triển du lịch bền vững: Như đã đề cập, phát triển bền vững được xem là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của các thế hệ tương lai. Để có thể đáp ứng nhu cầu về du lịch của thế hệ tương lai, các tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan môi trường và các nguồn tài nguyên du lịch khác cần phải được giữ gìn để duy trì sức hấp dẫn du lịch; các thành phần môi trường như đất, nước, không khí phải được bảo vệ khỏi các nguy cơ cạn kiệt hay suy thoái, ô nhiễm để có phục vụ cho các hoạt động du lịch trong tương lai. Như vậy, có thực hiện tốt yêu cầu bảo vệ môi trường, ngành du lịch mới có cơ sở để phát triển bền vững. 1.2.2. Tác động của môi trƣờng tới du lịch 16 Đứng từ góc độ môi trường, trên bình diện chung toàn quốc, hoạt động phát triển du lịch ở Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ bởi sự suy thoái môi trường tự nhiên, đặc biệt là sự ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí diễn ra trên bình diện ngày một lớn, tập trung ở các khu dân cư, đô thị, nơi có các dịch vụ du lịch phát triển ; ở dải ven biển, nơi tập trung khoảng 70% các khu, điểm du lịch. Bên cạnh đó, sự suy giảm đa dạng sinh học, sự gia tăng tai biến và sự cố môi trường cũng có những ảnh hưởng đáng kể đến phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam. - Hoạt động địa chấn. Mặc dù Việt Nam không phải là quốc gia thường xuyên xảy ra các cơn địa chấn, động đất, nhưng thực tế đã có những cơn địa chấn xảy ra gây quan ngại cho khách du lịch (tháng 1/2001 động đất với mức độ địa chấn trên 5 độ richter trên địa bàn thị xã Điện Biên và phụ cận, tháng 8/2002 động đất tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với cường độ 4,2 độ richter [18, 22]). - Tình trạng đất trượt ngày càng trở nên phổ biến ở trung du, miền núi, bờ sông, bờ biển và ở mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn như ở hai bờ sông Tiền, sông Hậu, khu vực ven biển Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi,... [16, 41]. - Thay đổi khí hậu với các hiện tượng mưa bão, nóng hạn bất thường và sự suy giảm chất lượng môi trường không khí (đặc biệt ở đô thị lớn). - Chất lượng môi trường nước (nước lục địa và nước biển ven bờ) suy giảm. - Môi trường sinh học bị suy giảm nhanh. Diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp (tốc độ 0,7 – 1,32%/năm so với tỷ lệ mất rừng của thế giới là 0,5%/năm). - Tai biến và sự cố môi trường gia tăng. Quá trình xói lở đường bờ biển diễn ra mạnh sau hai trận lũ lịch sử tháng 11 và tháng 12/1999 làm bãi tắm Thuận An không còn; năm 2002 cháy 6.000 ha rừng tràm Vườn quốc gia U Minh Thượng... [16, 42]. 1.2.3. Tác động chủ yếu của du lịch tới môi trƣờng 1.2.3.1. Tăng áp lực về chất thải sinh hoạt Theo tính toán của Tổ chức du lịch thế giới – WTO và số liệu điều tra ban đầu, lượng chất thải trung bình từ sinh hoạt của khách du lịch khoảng 0,67kg 17 chất thải rắn và 100 lít chất thải lỏng/khách/ngày. Đây là một trong những nguồn chính có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ hoạt động du lịch. Nếu như năm 1995 tổng lượng chất thải rắn từ hoạt động du lịch ở nước ta ước khoảng 11.388 tấn thì đến năm 2001 đã lên đến 20.841 tấn. Tổng lượng chất thải lỏng tương ứng là 1.775.394m3 (1995) và 3.234.984m3 (2001). Như vây, cùng với sự gia tăng khách du lịch, áp lực về thải lượng từ hoạt động du lịchngày một tăng nhanh trên phạm vi toàn quốc (đặc biệt là ở các trung tâm du lịch) và thực sự trở thành vấn đề môi trường đáng được quan tâm, nhất là vào mùa du lịch hoặc thời điểm tổ chức lễ hội hay các sự kiện chính trị, kinh tế – văn hoá - xã hội. Tổng lƣợng chất thải rắn từ hoạt động du lịch trên phạm vi toàn quốc 18
- Xem thêm -