Tài liệu Phân tích tình hình tài chính công ty cổ phần phú thái

  • Số trang: 61 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 78 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15893 tài liệu

Mô tả:

DANH MỤC VIẾT TẮT . NH Ngắn hạn DH Dài hạn TSNH Tài sản ngắn hạn TSDH Tài sản dài hạn TS Tài sản NV Nguồn vốn VLĐ Vốn lƣu động SXKD Sản xuất kinh doanh VCSH Vốn chủ sở hữu VNĐ Việt Nam đồng DN Doanh nghiệp HĐKD Hoạt động kinh doanh CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1. Tổng quan về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm về tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định. Về hình thức: Tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp. Về bản chất: Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ tài chính trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức tổng giá trị, thông qua đó tạo lập các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế. Ngoài ra tài chính doanh nghiệp còn phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ. Tài chính doanh nghiệp được thể hiện ra là các quan hệ giá trị giữa các doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu gồm: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước: Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ Nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổ phần theo những nguyên tắc và phương thức nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh và phân chia lợi nhuận. Đồng thời, mối quan hệ tài chính này cũng phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp được thể hiện thông qua các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách nhà nước theo luật định. Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường tài chính: Từ sự đa dạng hóa hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường đã tạo ra các mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác (doanh nghiệp cổ phần hay tư nhân), giữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư, người cho vay với người bán hàng, người mua thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, giữa các doanh nghiệp bao gồm các quan hệ thanh toán tiền mua bán vật tư, hàng hóa, phí bảo hiểm, chi trả tiền công, cổ tức, tiền lãi trái phiếu, giữa doanh nghiệp với ngân hàng, các tổ chức tín dụng phát sinh trong quá trình vay và hoàn trả vốn, trả lãi cho ngân hàng, các tổ chức tín dụng. 1 Thang Long University Library Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là mối quan hệ tài chính khá phức tạp, phản ánh quan hệ tài chính giữa:  Doanh nghiệp với các phòng ban, phân xưởng và tổ đội sản xuất trong việc nhận và thanh toán tạm ứng, thanh toán tài sản.  Doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên trong quá trình phân phối thu nhập cho người lạo động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt và lãi cổ phần.  Quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn. 1.1.2. Chức năng của tài chính doanh nghiệp Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, có thể nói tài chính doanh nghiệp luôn giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính và là một trong những công cụ quản lý kinh tế đắc lực của mỗi doanh nghiệp nó được thể hiện qua 3 chức năng cơ bản: chức năng phân phối, chức năng huy động vốn, chức năng giám sát: Chức năng huy động: Đây là chức năng tạo lập các nguồn tài chính, thể hiện khả năng tổ chức, khai thác các nguồn tài chính, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Việc huy động vốn phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu và giá cả của vốn. Chức năng phân phối: Chức năng phân phối của tài chính là chức năng mà nhờ đó, các nguồn tài lực đại diện cho những bộ phận của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau, để sử dụng cho những mục đích khác nhau, đảm bảo nhu cầu, lợi ích khác nhau của đời sống xã hội. Trên thực tế phân phối được chia thành 3 nhóm: - Phân phối có hoàn lại có thời hạn. Ví dụ: Tín dụng. Phân phối không hoàn lại. Ví dụ: Ngân sách nhà nước. Phân phối hoàn lại có điều kiện. Ví dụ: Bảo hiểm. Chức năng giám sát: Đây là chức năng kiểm tra sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Thông qua chức năng này để kiểm tra và điều chỉnh các quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của mỗi thời kỳ, kiểm tra các chế độ tài chính của Nhà nước. 1.1.3. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính là phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.Việc phân tích các báo cáo tài chính là quá trình kiểm tra xem xét các số liệu về tài chính hiện hành và có trong quá khứ được phản ánh trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhằm mục đích đánh giá thực trạng tài chính, dự tính các rủi ro và tiềm năng tương lai 2 của một doanh nghiệp trên cơ sở đó giúp cho nhà phân tích ra các quyết định tài chính có liên quan đến các lợi ích của họ trong doanh nghiệp đó. 1.1.4. Ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác quản lý tài chính. Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và sẽ có nhiều đối tượng quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng, các cơ quan nhà nước và cả những người lao động. Mỗi đối tượng lại có những mối quan tâm khác nhau đối với tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đối với nhà quản lý doanh nghiệp Nhà quản trị doanh nghiệp là người trực tiếp quản lý và điều hành doanh nghiệp, biết tất cả các thông tin bên trong cũng như bên ngoài của doanh nghiệp. Việc phân tích tình hình tài chính sẽ đem lại cái nhìn rõ ràng các vấn đề của doanh nghiệp. Do đó, phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp đối với nhà quản lý nhằm:  Tạo ra những chu kỳ đều đặn để dánh giá hoat động quản lý trong giai đoạn đã qua, việc thức hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, năng thanh toán và rủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp…  Đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như quyết định về đầu tư, tài trợ phân phối lợi nhuận …  Cung cấp thông tin cơ sở cho các dự đoán tài chính,  Căn cứ để kiểm tra kiểm soát hoạt động, quản lý trong doanh nghiệp.  Phân tích hoạt động tài chính làm rõ điều quan trong của dự đoán tài chính, mà dự đoán là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sáng tỏ, không chỉ chính sách tài chính mà còn làm rõ các chính sách chung trong doanh nghiệp. Đối với các chủ đầu tƣ Điều mà các chủ đầu tư quan tâm đầu tiên, đó là sự an toàn của lượng vốn đầu tư, kế đó là mức độ sinh lãi, thời gian hoàn vốn. Vì vậy học cần những thông tin về tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh, tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Do đó họ thường phân tích báo cáo tài chính của đơn vị qua các thời kỳ, để quyết định đầu tư vào đơn vị đó hay không? Đầu tư dưới hình thức nào? Và đầu tư vào lĩnh vực nào? 3 Thang Long University Library Đối với chủ nợ Đối với chủ nợ (Ngân hàng, các nhà cho vay,nhà cung cấp) mối quan tâm của họ hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Do đó họ cần chú ý đến tình hình và khả năng thanh toán của đơn vị cũng như quan tâm đến lượng vốn của chủ sở hữu, khả năng sinh lời để đánh giá đơn vị có khả năng trả nợ được hay không khi quyết định cho vay, bán chịu sản phẩm cho đơn vị. Đối với cơ quan nhà nƣớc Dựa vào các báo cáo tài chính, các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và pháp luật quy đinh không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và khách hàng,… Đối với ngƣời lao động Bên cạnh nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp, người được hưởng lương trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của doanh nghiệp. Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp có tác động tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động. Ngoài ra trong một số doanh nghiệp, người lao động còn được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định. Như vậy, họ cũng chính là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp. Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy: Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm. 1.2. Tài liệu cung cấp cho hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông tin: từ thông tin bên trong doanh nghiệp đến thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị. Những thông tin đó đều giúp cho nhà phân tích có thể đưa ra những nhận xét, kết luận chính xác nhất. 1.2.1. Thông tin kế toán Để tiến hành phân tích tài chính, người ta sử dụng nhiều tài liệu khác nhau, trong đó chủ yếu là các báo cáo tài chính. Những bộ phận cốt lõi của bảng báo cáo tài chính là bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. 4 1.2.1.1. Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán mô tả sức mạnh tài chính (tình hình tài sản và nguồn vốn) của doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó. Thời điểm báo cáo thường được chọn là thời điểm cuối quý hoặc cuối năm. Xét về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả (nguồn vốn). Bảng cân đối kế toán luôn đảm bảo nguyên tắc cân bằng theo phương trình kế toán sau: Tài sản = nguồn vốn Trong đó: Phần tài sản: bao gồm có tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có tại thời điểm lập báo cáo, thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu của phần tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản của doanh nghiệp, qua đó cho phép đánh giá tổng quát về quy mô tài sản, tính chất hoạt động và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp. Phần nguồn vốn: bao gồm nợ phải trả và nguồn VCSH, phản ánh nguồn vốn mà doanh nghiệp quản lý và đang sử dụng vào thời điểm lập báo cáo. Về mặt kinh tế, khi xem xét phần nguồn vốn các nhà quản lý có thể thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng. Về mặt pháp lý thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp về tống số vốn được hình thành từ những nguồn khác nhau. Thông qua đó có thể đánh giá một cách khái quát về khả năng và mức độ chủ động về tài chính của doanh nghiệp. 1.2.1.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giống như một bức tranh phản ánh về sự vận động, bởi vì nó báo cáo về phương thức kinh doanh của doanh nghiệp trong một năm và chỉ ra rằng các hoạt động kinh doanh đó đem lại lợi nhuận hoặc gây ra lỗ vốn. Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tình hình thu nhập, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó. Thời kỳ báo cáo thường được chọn là năm, quý hay tháng. Số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguyên tắc để lập báo cáo này là phải phán ánh được từng loại doanh thu và các chi phí đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó. Phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra là lợi nhuận. 5 Thang Long University Library Ngoài ra, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn cho ta thấy tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của doanh nghiệp và tính được tốc độ tăng trưởng của kỳ này so với kỳ trước và dự đoán tốc độ tăng trong tương lai. Như vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta có những nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp. 1.2.1.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hay còn gọi là Báo cáo dòng tiền mặt, là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh nghiệp. Nó thể hiện dòng tiền ra và dòng tiền vào của một tổ chức, doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định (tháng, quý hay năm tài chính). Báo cáo này là một công cụ giúp nhà quản lý tổ chức kiểm soát dòng tiền của tổ chức. 1.2.1.4. Thuyết minh báo cáo tài chính Thuyết minh báo cáo tài chính là bộ phận hợp thành của hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Được lập nhằm cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tài chính, đồng thời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình bày nhằm giúp cho người đọc và phân tích các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính có một cái nhìn cụ thể và chi tiết hơn về sự thay đổi những khoản mục trong bảng cân đối kế toán và kết quả hoạt động kinh doanh. Thuyết minh báo cáo tài chính được lập căn cứ vào những số liệu và những tài liệu sau:  Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán;  Căn cứ vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;  Căn cứ vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ;  Ngoài ra còn có những thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ thể. 1.2.2. Các thông tin khác. Cùng với các thông tin đã phân tích ở trên, thì các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng rất lớn đối sự phát triển của doanh nghiệp. Có thể kể đến một số các thông tin sau: 1.2.2.1. Môi trường bên trong. Môi trường bên trong bao gồm các nhân tố phản ánh những điều kiện hiện có, sự nỗ lực, chủ quan của doanh nghiệp, những chiến lược mà doanh nghiệp sử dụng trong kinh doanh nhằm duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ. Chúng được tập trung trong 6 đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của doanh nghiệp ảnh hưởng tới duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ. Nhân tố đầu vào: Bao gồm các nhân tố như: lao động, vốn, công nghệ thiết bị và nguyên nhiên vật liệu. Những nhân tố này có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm đầu ra, tới khả năng duy trì, mở rộng thị trường tiêu thụ và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhân tố đầu ra: Bao gồm các nhân tố như mặt hàng, chủng loại, hình ảnh sản phẩm, giá. Những nhân tố này đóng vai trò quyết định đến khả năng tiêu thụ và mở rộng thị trường của doanh nghiệp. 1.2.2.2. Môi trường bên ngoài. Thị trường: là nhân tố quan trọng quyết định tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó thị trường vốn quyết định tới việc huy động vốn của doanh nghiệp, thị trường hàng hóa quyết định tới việc sử dụng vốn thị trường tiêu thụ sản phẩm có tác động lớn đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu các thị trường này phát triển ổn định sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và tăng thị phần. Nền kinh tế: nhân tố này có ảnh hưởng gián tiếp tới tình hình tài chính của doanh nghiệp. Khi nền kinh tế phát triển vững mạnh và ổn định sẽ tạo cho doanh nghiệp có nhiều cơ hội trong kinh doanh như: huy động vốn, cơ hội lựa chọn bạn hàng… Khoa học công nghệ: Khi nền kinh tế phát triển cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng được tăng theo. Bởi lẽ khi khoa học công nghệ phát triển mạnh thì nó sẽ đặt doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh gay gắt, nếu như doanh nghiệp không thích ứng được với môi trường này chắc chắn sẽ không tồn tại được, vì vậy, các doanh nghiệp nên chú trọng việc đầu tư vào công nghệ. Nhà cung cấp: Muốn sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có các yếu tố đầu vào như: nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, công nghệ... mà doanh nghiệp cần phải mua từ các doanh nghiệp khác. Việc thanh toán các khoản này sẽ tác động trực tiếp đến tài chính của doanh nghiệp. Đối thủ cạnh tranh: Một doanh nghiệp khi bắt tay vào kinh doanh sẽ phải quan tâm và nghiên cứu kỹ tới đối thủ cạnh tranh của mình. Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp đặt ra mục tiêu phát triển và cạnh tranh lành mạnh, hướng tới tính chất ganh đua mang lại những giá trị lớn nhất cho doanh nghiệp. Đôi khi đối thủ cạnh tranh cũng chính là đối tác làm ăn của doanh nghiệp khi cần thiết. 7 Thang Long University Library 1.3. Các phƣơng pháp phân tích Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài. Có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, nhưng người ta thường sử dụng các phương pháp sau: 1.3.1. Phương pháp tỷ số. Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện. Vì: - - Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục, hoặc theo từng giai đoạn. Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn. Việc áp dụng tinh học, công nghệ, cho phép tích lũy dữ liệu và thức đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ. 1.3.2. Phương pháp so sánh. - So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện theo chiều hướng tốt hay xấu, như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới. - So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp. So sánh giữa số thực hiện này với mức trung bình của ngành để thấy tình hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được so với doanh nghiệp cùng ngành. So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng tổng số ở mỗi bản báo cáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại mục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh. So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động về số tuyệt đối và tương đối của một khoản mục nào đó qua các năm kế toán liên tiếp. - - - Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau: - Điều kiện một: Xác định rõ “gốc so sánh” và “ kỳ phân tích” Điều kiện hai: Các chỉ tiêu so sánh ( hoặc trị số) phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được với nhau. Muốn vậy, chúng phải thống nhất với nhau về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, thời gian tính toán. 8 1.3.3. Phương pháp Dupont. Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh ở Mỹ. Dupont đã chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn. Từ việc phân tích ROI là một công cụ tài chính để tính hiệu quả đầu tư, cho đến phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE), thành tích số của các chuỗi tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau. Lợi nhuận ròng ROA = Lợi nhuận ròng = Tổng tài sản Doanh thu x Doanh thu Tổng tài sản ROA là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản cho biết khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp. ROA phụ thuộc trực tiếp vào hai yếu tố là lợi nhuận ròng và tổng tài sản. Hay ROA còn bị phụ thuộc bởi tỷ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS) và vòng quay tài sản. Để ROA càng lớn thì ta tăng ROS bằng cách thực hiện cắt giảm chi phí, hoặc tăng vòng quay tài sản bằng cách tăng hiệu quả sử dụng từng tài sản. Lợi nhuận ròng ROE = Lợi nhuận ròng = Vốn chủ sở hữu Tổng tài sản x Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu ROE là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cho biết khả năng tạo lãi của một đồng vốn bỏ ra đầu tư vào công ty là bao nhiêu. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu phụ thuộc trực tiếp vào hai yếu tố là lợi nhuận ròng và vốn chủ sở hữu. Hay còn có công thức: ROE = ROS * Vòng quay tài sản * 1/ ( 1- Tỷ số nợ ) = ROA * 1/ ( 1 – Tỷ số nợ ) ROE bị tác động bởi sự tăng giảm của ROA và tỷ số nợ. Muốn tăng ROE thì ta tăng chỉ số ROA, đồng thời tăng tỷ số nợ, khi tỷ số nợ tăng sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tăng tỷ số này cũng tốt nhưng tăng bao nhiêu còn tùy vào kế hoạch tài chính của từng doanh nghiệp. Tỷ lệ ROA và ROE càng cao càng chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng hiệu quả giá trị tài sản và đồng vốn của mình bỏ ra. 1.4. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 1.4.1. Phân tích tình hình tài sản – nguồn vốn Trong quá trình hoạt động kinh doanh, tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp luôn biến động tăng hoặc giảm thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Khi phân tích cơ cấu và những biến động của tài sản và nguồn vốn, chúng ta có thể đánh giá được một cách tổng quát về tình hình đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. 9 Thang Long University Library Phân tích tình hình biến động tài sản Phân tích tình hình biến động tài sản là việc xem xét tính hợp lý của cơ cấu vốn, sự biến động của tổng tài sản cũng như của từng loại tài sản trong tổng tài sản, so sánh tỷ trọng của từng loại giữa, cuối kỳ với đầu năm, so sánh cả về số tuyệt đối và tương đối của tổng tài sản cũng như đối với từng loại tài sản. Qua đó thấy được cơ cấu vốn đó tác động như thế nào đến quá trình kinh doanh, thấy được sự biến động về quy mô cũng như năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích kết cấu tài sản ta sẽ phải lập bảng phân tích tình hình phân bố vốn. Trên bảng phân tích này ta lấy từng khoản tài sản chi cho tổng số tài sản sẽ biết được tỉ trọng của từng khoản tài sản chiếm trong tổng số là cao hay thấp. Khi phân tích cần lưu ý đến tính chất và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, kết hợp với việc xem xét tác động của từng loại tài sản đến quá trình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh đạt được trong kỳ. Có như vậy mới đưa ra được quyết định hợp lý về phân bố vốn cho từng giai đoạn, từng tài sản của doanh nghiệp. Khi phân tích kết cấu tài sản cũng cần chú ý đến tỷ suất đầu tư. Tỷ suất đầu tư nói lên kết cấu tài sản, là tỷ lệ giữa trị giá tài sản cố định và đầu tư dài hạn so với tổng tài sản. Tỷ suất đầu tư cũng chính là chỉ tiêu thể hiện sự khác nhau của bảng cân đối kế toán giữa các doanh nghiệp khác nhau về đặc điểm, ngành nghề kinh doanh. Tỷ suất này càng cao cho thấy năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài. Phân tích tình hình biến động nguồn vốn Tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp được thể hiện qua cơ cấu và sự biến động về nguồn vốn của doanh nghiệp. Cơ cấu nguồn vốn: là tỷ trọng của từng loại nguồn vốn trong tổng số nguồn vốn; thông qua cơ cấu nguồn vốn thì chúng ta sẽ đánh giá được huớng tài trợ của doanh nghiệp, mức độ rủi ro từ chính sách tài chính đó, ta cũng thấy được về khả năng tự chủ hay phụ thuộc về mặt tài chính của doanh nghiệp. Sự biến động của nguồn vốn là sự biến động của các chỉ tiêu phần nguồn vốn, ta sẽ thấy được tình hình huy động các nguồn vốn cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp, nó cho thấy được tính chủ động trong chính sách tài chính hay do sự bị động trong hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra. Bằng việc so sánh sự biến động cả về số tuyệt đối và tương đối của các chi tiêu phần nguồn vốn, tính tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong tổng nguồn vốn, tỷ trọng của từng chỉ tiêu thuộc nợ phải trả trong tổng nợ phải trả, tương tự cho vốn chủ sở hữu; sau đó so sánh chúng qua nhiều năm khác nhau để thấy được cơ cấu và sự biến động nguồn vốn của doanh nghiệp. 10 1.4.2. Phân tích tình hình tạo vốn và sử dụng vốn Vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Có vốn các doanh nghiệp có thể mở rộng SXKD, mua sắm các trang thiết bị hay triển khai các kế hoạch khác trong tương lai. Vì vậy yêu cầu đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp là họ cần phải quản lý và nắm bắt được tình hình tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả, nhằm bảo toàn và phát triển vốn, đảm bảo cho doanh nghiệp ngày càng phát triển vững mạnh. Tạo lập vốn bao gồm các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cá nhân, tập thể, doanh nghiệp… các thành phần kinh tế. Các hoạt động nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế và từ đó hình thành nên nguồn tích lũy hay tiết kiệm. Tạo lập vốn có vai trò quan trọng đến nền tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình tái sản xuất. Đối với Doanh nghiệp có hai cách để tạo lập vốn: - - Tăng nguồn vốn: tăng nguồn vốn bằng cách tăng vốn chủ sở hữu hoặc có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau như vay từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng… Giảm tài sản: bằng cách bán tài sản cố định để có thêm nguồn vốn cho việc SXKD. 1.4.3. Phân tích cân đối tài sản – nguồn vốn 1.4.3.1. Phân tích cân bằng tài chính trong ngắn hạn. Ta có công thức tính nhu cầu vốn lưu động ròng: Nhu cầu VLĐ ròng = Hàng tồn kho + Khoản phải thu NH - Nợ phải trả NH Nhu cầu VLĐ ròng < 0: cho thấy nợ ngắn hạn không những đáp ứng được nhu cầu ngắn hạn của doanh nghiệp mà còn dư thừa để tài trợ cho tài sản khác. Điều này mang nhiều lợi ích đến với doanh nghiệp. Nhu cầu VLĐ ròng > 0: cho thấy nợ ngắn hạn không đủ đáp ứng được nhu cầu ngắn hạn của doanh nghiệp. Nên có những lúc thiếu vốn để xoay vòng doanh nghiệp phải dùng tạm nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho phần thiếu hụt, điều này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 1.4.3.2. Phân tích cân bằng tài chính trong dài hạn. Mối quan hệ cân đối giữa tài sản với nguồn vốn thể hiện sự tương quan về giá trị tài sản và cơ cấu vốn của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Mối quan hệ cân đối này giúp nhà phân tích phần nào nhận thức được sự hợp lý giữa nguồn vốn doanh nghiệp huy động và việc sử dụng chúng trong đầu tư, mua sắm, dự trữ, sử dụng có hợp lý, hiệu quả hay không. Mối quan hệ cân đối này được thể hiện như sau: Vốn lƣu động ròng = Tài sản NH – Nguồn vốn NH = Nguồn vốn DH – Tài sản DH 11 Thang Long University Library quan hệ cân đối giữa TSNH và Nợ NH, sử dụng đúng mục đích Nợ NH. Đồng thời, nó cũng chỉ ra một sự hợp lý trong chu chuyển TSNH và kỳ thanh toán nợ ngắn hạn. Ngược lại, nếu TSNH < Nợ NH, chứng tỏ doanh nghiệp không giữ vững quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn. Vì xuất hiện dấu hiệu doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn vào tài sản dài hạn. Nếu TSDH > Nợ DH và phần thiếu hụt được bù đắp từ VCSH thì đó là điều hợp lý vì nó thể hiện doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích nợ DH là cả vốn chủ sở hữu, nhưng nếu phần thiếu hụt được bù đắp từ nợ NH là điều bất hợp lý như trình bày ở phần cân đối giữa Tài sản NH và Nợ NH. Nếu phần TSDH < Nợ DH điều này chứng tỏ một phần nợ dài hạn đã chuyển vào tài trợ tài sản ngắn hạn. Hiện tượng này vừa làm lãng phí chi phí lãi vay nợ dài hạn, vừa thể hiện sử dụng sai mục đích nợ dài hạn. Điều này có thể dẫn đến lợi nhuận kinh doanh giảm và những rối loạn tài Ta thấy, Nếu VLĐ ròng > nhu cầu VLĐ ròng, thì đây là dấu hiệu tài chính lành mạnh và đảm bảo cân đối giữa tài sản với nguồn vốn trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Nếu VLĐ ròng < nhu cầu VLĐ ròng thì đây là dấu hiệu tài chính bất bình thường và mất cân đối giữa TS với NV. 1.4.4. Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thể hiện kết quả mà doanh nghiệp đã đạt được sau một quá trình SXKD nhất định. Sau mỗi chu kì sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp thường xuyên phải đánh giá kết quả từ đó để rút ra những sai lầm, thiếu sót, tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả, vạch rõ tiềm năng chưa được sử dụng và đề ra các biện pháp khắc phục, xử lý kịp thời để nâng cao kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm: - Đưa ra các chỉ tiêu dự báo về xu hướng phát triển, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các chỉ tiêu này rất quan trọng trong việc đưa ra các chiến lược mang tính lâu dài trong tương lai của nhà quản lý. - Giúp nhà quản lý đề ra được hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp vì hoạt động sản xuất kinh doanh luôn biến đổi không ngừng sao cho phù hợp với môi trường kinh doanh. 12 Chi phí Chi phí kinh doanh nói chung là toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa được biểu hiện bằng tiền phát sinh trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp. Các chi phí này phát sinh hàng ngày, hàng giờ đa dạng và rất phức tạp, tùy thuộc vào việc thực hiện các hành vi thương mại khác nhau. Nhưng trong quá trình phân tích tình hình tài chính, chi phí thường được phân ra thành 3 loại: - Chi phí HĐKD ( gồm: Giá Vốn hàng bán, CP bán hàng…) Chi phí Tài chính ( CP lãi vay,…) CP khác Phân loại chi phí kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với tình hình đặc điểm sản xuất kinh doanh và các mục tiêu quản lý kinh tế của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp xác định được xu hướng hình thành kết cấu của chi phí kinh doanh thương mại trong từng thời kỳ khác nhau, đồng thời làm cơ sở cho công tác kiểm tra, phân tích đánh giá tình hình thực tế của doanh nghiệp. Nhờ đó mà tìm ra các phương pháp quản lý chi phí tốt hơn. Doanh thu Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp. Doanh thu được xác định bằng công thức: Doan thu thuần = Tổng doanh thu – Các khoản giảm trừ Doanh thu được nhiều hay ít, đều phụ thuộc vào hiệu các khoản thu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và các khoản giảm trừ. Tổng doanh thu được tính bằng công thức: giá(P) nhân với sản lượng(Q) Khi giá và sản lượng biến đổi làm ảnh hưởng tới tổng doanh thu của doanh nghiệp. Nguyên nhân chính tác động tới giá là do nền kinh tế thị trường, các yếu tố đầu vào như nguyên nhiên vật liệu tăng hoặc giảm, sẽ làm cho giá thành sản phẩm bị thay đổi. Nhu cầu của người tiêu dùng nói chung và người chăn nuôi nói riêng cũng tác động không nhỏ tới doanh thu của doanh nghiệp. Lợi nhuận Lợi nhuận hiểu nôm na là lấy Tổng doanh thu trừ tổng chi phí. Lợi nhuận doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, vì nó có tác động đến tất cả mọi hoạt động, và có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Lợi nhuận tăng chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh tốt. Lợi nhuận giảm phản ánh việc kinh doanh chưa tốt, doanh nghiệp cần xem xét, đánh giá lại việc hoạt động kinh doanh trong thời gian đó, đưa ra các biện 13 Thang Long University Library pháp khắc phục tình trạng giảm và cần phục hồi tình hình tài chính doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc phấn đấu thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận là điều quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính doanh nghiệp được ổn định vững chắc. Một doanh nghiệp khi phân tích tình hình kinh doanh thường đặt ra mục tiêu kinh doanh cụ thể sẽ thu về được bao nhiêu phần lợi nhuận, kế hoạch để ra mục tiêu phấn đấu và hướng tới kết quả kinh doanh và lợi nhuận tốt nhất: - Nếu Lợi nhuận thực tế > Lợi nhuận kế hoạch đề ra: công ty phát triển tốt và đạt được kết quả cao trong công tác quản lý, kinh doanh. Lợi nhuận thực tế < Lợi nhuận kế hoạch: công ty kinh doanh chưa tốt, cần quan - tâm đến công tác quản lý và cố gắng hơn. Lợi nhuận thực tế tương đương với Lợi nhuận kế hoạch: Ban quản lý hiểu rõ về - quy trình hoạt động của công ty và đã tính toán một cách chính xác về thành quả hoạt động của doanh nghiệp. 1.4.5. Phân tích lưu chuyển tiền tệ Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ (còn gọi là phân tích ngân lưu) là công việc quan trọng, ngày càng chiếm nhiều công sức và thời gian của các nhà quản trị, các giám đốc tài chính. Mục đích của báo cáo lưu chuyển tiền tệ là cung cấp các thông tin thích hợp về các dòng tiền chi ra (outflows) và dòng tiền thu vào (inflows) trong các hoạt động của một doanh nghiệp trong một kỳ kế toán. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ đóng một vai trò quan trọng đối với cả những người sử dụng thông tin kế toán bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp. Ta có: Lƣu chuyển tiền thuần trong kỳ = Lƣu chuyển tiền thuần của từng HĐKD Lƣu chuyển tiền + thuần của hoạt động đầu tƣ + Lƣu chuyển tiền thuần từ HĐ tài chính Dòng tiền thuần của từng hoạt động kinh doanh >0 sẽ duy trì hoạt động của doanh nghiệp được liên tục, từ đó kéo theo các hoạt động khác như đầu tư, tài trợ… Mặt khác, dòng tiền từ HĐKD được xem như một khoản chủ yếu để đo lường tính linh hoạt của tài sản. Dòng tiền thuần của từng hoạt động kinh doanh <0 cho thấy tình hình hoạt động của doanh nghiệp không liên tục. Doanh nghiệp không quan tâm nhiều đến các hoạt động bên ngoài. Dòng tiền từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính trong một kỳ nào đó không nhất nhiết phải >0. Nhiều khi dòng tiền từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính <0 lại thể hiện doanh nghiệp đang phát triển và trả được nợ nhiều hơn đi vay. 14 1.4.6. Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính 1.4.6.1. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: Hệ số này cho biết mối quan hệ giữa tổng TS mà DN đang quản lý. Sử dụng với tổng số nợ phải trả. Phản ánh một đồng vay nợ có mấy đồng tài sản đảm bảo. Hệ số này được tính như sau: Hệ số khả năng thanh toán tổng quát Tổng số tài sản = Tổng số nợ phải trả Nếu trị số của chỉ tiêu này <1 có nghĩa là tổng tài sản < tổng nợ phải trả, như vậy toàn bộ số tài sản hiện có của DN không đủ để thanh toán các khoản nợ, chứng tỏ DN mất khả năng thanh toán, gặp khó khăn trong tài chính và có nguy cơ phá sản. Ngược lại, nếu trị số của chỉ tiêu này ≥ 1 thì doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán. Nhưng nếu quá cao thì cần phải xem xét lại vì khi đó việc sử dụng đòn bẩy tài chính của công ty sẽ kém hiệu quả. Thông thường hệ số này =2, được đa số các chủ nợ chấp nhận. Khả năng thanh toán ngắn hạn Khả năng thanh toán ngắn hạn TSNH = Nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán ngắn hạn hay còn gọi hệ số khả năng thanh toán hiện thời (Current ratio) là mối quan hệ giữa TSNH với khoản nợ ngắn hạn. Nếu trị số của chỉ tiêu này xấp xỉ =1: DN có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ NH và tình hình tài chính khả quan. Nếu trị số chỉ tiêu này <1 : Khả năng thanh toán nợ NH của DN càng thấp. Khả năng thanh toán nhanh TSNH - Hàng tồn kho Khả năng thanh toán nhanh = Nợ ngắn hạn Là thước đo về việc huy động các TS có khả năng chuyển đổi ngay thành tiền để thanh toán các khoản nợ NH mà các chủ nợ yêu cầu, hay đây là chỉ tiêu dùng để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ NH của DN bằng tiền và các khoản đầu tư tài chính NH. 15 Thang Long University Library Khả năng thanh toán tức thời Tiền và các khoản tương đương tiền Khả năng thanh toán tức thời = Nợ ngắn hạn Tiền và các khoản tương đương tiền là các tài sản mang tính thanh khoản cao nhất của doanh nghiệp. Hệ số khả năng thanh toán tức thời thể hiện mối quan hệ tiền (tiền mặt và các khoản tương đương tiền như chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển đổi…) và khoản nợ đến hạn phải trả. Hệ số này quá cao tức doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt thì doanh nghiệp sẽ bỏ lỡ cơ hội sinh lời của đồng vốn. Nhưng khi hệ số khả năng thanh toán quá nhỏ cho thấy doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn. Do đó, các doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng việc dự trữ các khoản tiền và tương đương tiền sao cho hợp lý và hiệu quả. 1.4.6.2. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời Mục tiêu cuối cùng của HĐKD là lợi nhuận. Để có được lợi nhuận cao thì quá trình kinh doanh phải được tiến hành một cách có hiệu quả cả trong tổ chức và quản lý sản xuất. Việc đánh giá được khả năng sinh lời và tính ổn định, bền vững về tài chính của DN cũng như những nhân tố, các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năng sinh lời.Việc phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về kết quả kinh doanh hiện thời với quá khứ. Để đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh, các nhà phân tích thường sử dụng các chỉ tiêu: Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) Tỷ suất sinh lời trên doanh thu Lợi nhuận sau thuế = Doanh thu thuần Chỉ số tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) cho biết năng lực sinh lời của doanh thu, một đồng doanh thu thuần sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này dương chứng tỏ doanh nghiệp đanh hoạt động kinh doanh có lãi và ngược lại. Khi phân tích chỉ số này, người ta thường hay so sánh với chỉ số bình quân ngành để có thể đánh giá chính xác nhất về tình hình sinh lời của doanh nghiệp. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản Lợi nhuận sau thuế = Tổng tài sản Chỉ số tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) cho biết khả năng sinh lời của tổng tài sản sử dụng trong doanh nghiệp hay việc sử dụng tài sản sẽ đem lại bao nhiêu lợi 16 nhuận ròng cho chủ sở hữu. Thông thường tỷ suất càng cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sử dụng tài sản có hiệu quả. Tuy nhiên cũng tùy ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có tỷ suất sinh lời ROA cao hay thấp. Vì vậy để có cái nhìn khách quan và chính xác cần so sánh chỉ số này với các doanh nghiệp cùng lĩnh vực kinh doanh hay tỷ lệ bình quân ngành. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất sinh lời trên VCSH Lợi nhuận sau thuế = VCSH Chỉ số tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) sẽ cho ra biết một đồng vốn mà chủ sở hữu bỏ ra đầu tư sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Thông thường các chủ đầu tư thường coi trọng đến chỉ số này, chỉ số này càng cao chứng tỏ khả năng hấp dẫn đầu tư của doanh nghiệp càng lớn. 1.4.6.3. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản. Phân tích khả năng quản lý tài sản là đánh giá hiệu suất, cường độ sử dụng và sức sản xuất của tài sản trong năm. Vòng quay hàng tồn kho Giá vốn hàng bán Hàng tồn kho Hệ số vòng quay hàng tồn kho cho ta biết khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay kho = Vòng quay HTK cao là một cơ sở tốt để có lợi nhuận cao, nếu doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí trên cơ sở sở dụng tốt các tài sản khác. Vòng quay HTK thấp chứng tỏ công tác quản lý vật tư, tổ chức sản xuất, tổ chức bán hàng chưa tốt. Thời gian quay vòng hàng tồn kho bình quân Thời gian quay vòng hàng tồn kho bình quân 360 = Số vòng quay hàng tồn kho Thời gian quay vòng hàng tồn kho là bình quân của khoản mục hàng tồn kho giữa đầu kỳ và cuối kỳ trên bảng cân đối kế toán. Vòng quay khoản phải thu Doanh thu thuần Vòng quay khoản phải thu = Phải thu khách hàng Số vòng quay khoản phải thu phán ảnh tốc độ chuyển đổi các tài khoản phải thu thành tiền. Vòng quay của các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các 17 Thang Long University Library khoản phải thu nhanh, DN không phải cấp tín dụng cho khách và do đó không bị ứ đọng vốn. Ngoài việc so sánh chỉ tiêu này giữa các năm, giữa các doanh nghiệp cùng ngành thì người phân tích cần xem xét từng khoản phải thu để phát hiện những khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi để đưa ra biện pháp xử lý kịp thời. Ta có Thời gian thu tiền trung bình: 360 Số vòng quay khoản phải thu Thời gian thu tiền trung bình là số ngày bình quân cần có để chuyển các khoản Thời gian thu tiền trung bình = phải thu thành tiền mặt, thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc thu nợ từ khách hàng. Vòng quay các khoản phải trả Chỉ số vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với các nhà cung cấp. Chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá thấp có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp. Chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm nay nhỏ hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn năm trước. Ngược lại sẽ chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán nhanh hơn năm trước. Vòng quay các khoản phải trả Giá vốn hàng bán + Chi phí bán hàng, quản lí chung = Phải trả người bán + lương, thưởng, thuế phải trả Thời gian trả nợ trung bình: Chỉ số này cho biết số ngày trung bình mà doanh nghiệp trả nợ cho nhà cung cấp. Thời gian trả nợ càng dài thì doanh nghiệp càng có nhiều thời gian chiếm dụng vốn để đầu tư vào các lĩnh vực khác và ngược lại. 360 Thời gian trả nợ trung bình = Vòng quay các khoản phải trả Thời gian luân chuyển tiền Thời gian luân chuyển tiền cho biết khoảng thời gian ròng kể từ khi chi thực tế đến khi thu được tiền. Thời gian luân chuyển tiền = Thời gian quay vòng HTK + Thời gian thu nợ trung bình - Thời gian trả nợ trung bình Thời gian luân chuyển tiền càng cao thì lượng tiền mặt của doanh nghiệp càng khan hiếm cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động đầu tư khác. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý công nợ 18 Hiệu suất sử dụng tài sản Hiệu suất sử dụng tài sản Doanh thu thuần = Giá trị tổng tài sản Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cho biết mỗi đồng giá trị tài sản cố định sử dụng có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Nếu độ lớn của chỉ tiêu này cao thể hiện hiệu suất sử dụng tài sản cao của doanh nghiệp. Hay nói cách khác vốn của doanh nghiệp được quay vòng nhanh 1.4.6.4. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý công nợ Tỷ số nợ trên tổng tài sản (D/A) Tỷ số nợ trên tổng tài sản Tổng nợ = Tổng tài sản Tỷ số nợ phản ánh mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp để tài trợ cho tổng tài sản, phản ánh nợ chiếm bao nhiêu phần trong tổng nguồn vốn. Do đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng mà những nhà đầu tư thường quan tâm, xem xét và dựa vào đó để đánh giá độ rủi ro trong việc đầu tư vào doanh nghiệp. Tuy nhiên với mức tỷ lệ thấp đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không tận dụng được lợi thế của đòn bẩy tài chính, đánh mất cơ hội tiết kiếm được từ thuế do sử dụng nợ. Tỷ số nợ trên VCSH (D/E) Tổng nợ Tỷ số nợ trên VCSH = VCHS Tỷ số này cho biết mối quan hệ giữa mức độ sử dụng nợ và VCSH hay cơ cấu vốn trong doanh nghiệp như thế nào. Nếu tỷ lệ này >1, tức là doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn vay tài trợ cho tài sản, điều này cho thấy doanh nghiệp đang quá phụ thuộc vào các khoản đi vay, không tự đảm bảo nguồn tài trợ cho bản thân, rủi ro vì thế sẽ tăng cao. Song doanh nghiệp lại tiết kiệm được một khoản từ thuế. Nếu tỷ số này <1 cho thấy doanh nghiệp sử dụng VCSH nhiều hơn khoản nợ vay. Điều này sẽ khiến doanh nghiệp mất đi khoản chi phí cơ hội sử dụng vốn cho các hoạt động khác của công ty. Chính vì vậy mà công ty nên có chính sách sử dụng nguồn vốn hợp lý, cân bằng cả hai yếu tố. 19 Thang Long University Library
- Xem thêm -