Tài liệu Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện ba tri – bến tre

  • Số trang: 71 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 70 |
  • Lượt tải: 0
bangnguyen-hoai

Đã đăng 3509 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH  LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT MÔ HÌNH LUÂN CANH 2 VỤ LÚA 1 VỤ BẮP CỦA NÔNG HỘ HUYỆN BA TRI – BẾN TRE Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: LA NGUYỄN THÙY DUNG NGUYỄN THỊ LỢT Mã số SV : 4054165 Lớp: KTNN 1 K31 Tháng 05/2009 Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ---- -ooOoo- ---1.1. ĐẶT VẤN ĐẾ NGHIÊN CỨU: 1.1.1. Sự cần thiết nghiên cứu Việt Nam là nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời, mà nông nghiệp giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển. Để tạo nền tảng vững chắc cho đất nước phát triển thì phải có nền nông nghiệp phát triển bền vững. Đồng Bằng Sông Cửu Long luôn giữ là một vùng kinh tế sản xuất nông nghiệp, thủy sản hàng hóa trọng điểm của cả nước. Hằng năm, vùng Đồng Bằng này sản xuất trên 50% lượng lúa, cung cấp 70% lượng trái cây, 52% sản lượng thủy sản, đóng góp 90% lượng gạo xuất khẩu và gần 60% kim ngạch thủy sản cả nước. Hình ảnh của Việt Nam được biết đến như một gánh gạo với hai đầu là hai vùng đồng bằng, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích đất tự nhiên sử dụng cho sản xuất nông nghiệp cao nhất cả nước. Trong đó, đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất nông nghiệp là 2977 ngàn hecta, chiếm 75% tổng diện tích đất tự nhiên. Sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa, cây ăn quả, mía đường, chăn nuôi lợn, bò sữa, gia cầm và nuôi trồng thủy sản với số lượng và chất lượng ngày càng được nâng cao. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn đã từng bước được đổi mới theo hướng ngày càng đạt hiệu quả cao. Sự chuyển dịch cơ cấu trong thời gian qua đã từng bước phát huy được thế mạnh của vùng. Đặc biệt, người dân đã linh hoạt trong việc áp dụng mô hình luân canh hai vụ lúa – một vụ màu, một vụ lúa – hai vụ màu, hai vụ lúa – một vụ cá … để phá thế độc canh cây lúa. Đơn cử trong trường hợp này là huyện Ba Tri thuộc tỉnh Bến Tre. Hiệu quả từ mô hình không những đảm bảo an ninh lương thực trong huyện mà còn trao đổi sang vùng khác và xa hơn là đưa mặt hàng nông sản Việt Nam ra thị trường quốc tế. GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 1 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre Một trong những mô hình luân canh đạt năng suất cao được người dân áp dụng rộng rãi là mô hình trồng luân canh hai vụ lúa – một vụ bắp. Tuy nhiên, đa số người dân vẫn chưa đậm đà với việc đưa cây màu xuống ruộng do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nhưng để nâng cao năng suất cũng như chất lượng đời sống của người dân, chúng ta cần biết được điểm mạnh, điểm yếu của từng vùng để có kế hoạch phát triển mô hình phù hợp đạt năng suất cao. Đây cũng là lý do tôi chọn :”Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình trồng luân canh hai vụ lúa – một vụ bắp của hộ nông dân huyện Ba Tri – tỉnh Bến Tre” là đề tài tốt nghiệp của mình. 1.1.2. Căn cứ khoa học và thực tiễn Để phá thế độc canh cây lúa và tìm cách tăng thu nhập cho người dân, năm 2003, tỉnh Bến Tre chủ trương đưa cây màu trồng xen trên đất lúa. Trong đó cây bắp lai có nhiều ưu thế. Trung tâm Khuyến nông (TTKN) đã thực hiện mô hình trồng bắp, đậu xen canh trên đất lúa - mía, với tổng diện tích là 8 ha. Hầu hết các điểm trình diễn đều gặt hái kết quả khả quan, năng suất bình quân mỗi ha của bắp đạt từ 6-7 tấn, đậu nành từ 1,3 1,5 tấn. Với giá đậu nành là 6.000 đ/kg và giá sàn của bắp là 1.600 đ/kg, tính thành tiền mỗi năm (1 vụ lúa + 2 vụ màu), nông dân lãi từ 20 – 30 triệu đồng. Điều đáng kể là cây trồng xen nào cũng cho thu nhập cao hơn cây trồng chính. Chưa kể khi luân canh, xen canh bắp đậu trên nền đất lúa một cách hợp lý, sẽ làm giảm mật số của nhiều chủng loại sâu bệnh quan trọng, nên cũng giảm chi phí thuốc BVTV. Điều này rất tốt cho người lao động và môi trường. Bên cạnh đó, chế độ canh tác hợp lý sẽ làm cho lý hoá tính của đất thay đổi theo hướng có lợi, dẫn đến độ phì nhiêu của đất được tăng và chi phí phân bón sẽ giảm. Việc canh tác bất hợp lý dẫn đến chất lượng chất hữu cơ trong đất ngày càng suy giảm, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của cây trồng. Dù có bón phân hóa học, cây trồng vẫn lấy đi khoảng 50% đến 80% đạm từ đất. Do đó, cần phải tăng cường khả năng cung cấp đạm từ đất bằng các biện pháp: luân canh lúa với cây trồng cạn, bón phân hữu cơ cho đất, cần có thời gian để khô đất giữa 2 vụ lúa bằng cách phơi ải đất từ 2 đến 4 tuần... Tiến sĩ Nguyễn Mỹ Hoa, Phó Trưởng Bộ môn Khoa học đất và Quản lý đất đai, cho biết: “Việc luân canh lúa với cây trồng cạn, phơi đất giữa 2 vụ canh tác sẽ làm chất GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 2 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre hữu cơ trong đất chuyển đổi từ dạng này sang dạng khác theo hướng có lợi cho cây trồng sử dụng, làm tăng lượng đạm trong đất”. Vì thế việc luân canh cây trồng, phá thế độc canh cây lúa là một trong những việc làm cần thiết để cải thiện năng suất lúa; đồng thời cũng giúp cho đất không bị cạn kiệt nguồn dinh dưỡng. 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 1.2.1. Mục tiêu chung Phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất mô hình trồng luân canh hai vụ lúa – một vụ bắp của hộ nông dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Từ đó đề ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông hộ. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể - Phân tích thực trạng sản xuất chung của các hộ nông dân huyện Ba Tri thông qua một số nguồn lực sẵn có như: diện tích đất canh tác, kinh nghiệm sản xuất, nguồn lực lao động. - Phân tích và so sánh hiệu quả sản xuất lúa – bắp thông qua ba vụ Đông Xuân, Hè Thu, Thu Đông trong năm 2007-2008 ở huyện Ba Tri. - Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất lúa – bắp của các nông hộ ở huyện Ba Tri như: phân bón, thuốc, lao động… - Đề xuất một số giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa – bắp của các nông hộ ở huyện Ba Tri. 1.3. CÁC GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU: 1.3.1. Các giả thuyết cần kiểm định Tìm hiểu các khoản mục chi phí liên quan đến mô hình luân canh hai vụ lúa một vụ bắp ở huyện Ba Tri, Bến Tre. So sánh hiệu quả sản xuất của từng vụ Đông Xuân, Hè Thu, Thu Đông, từ đó xem các nhân tố tác động đến từng vụ như thế nào. 1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu Trong phân tích mô hình trồng luân canh lúa – bắp, phân tích các vấn đề về các khoản chi phí đầu vào để sản xuất ra sản phẩm, sản lượng thu được khi thu hoạch, doanh thu, thu nhập của hộ nông dân. Bao gồm các câu hỏi sau: GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 3 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre * Về chi phí: 1. Chi phí cày xới đất để gieo trồng là bao nhiêu? 2. Cho phí mua giống là bao nhiêu? 3. Chi phí trong quá trình chăm sóc (gieo sạ, cấy giặm, làm cỏ, phân, thuốc hóa học, tưới tiêu …) là bao nhiêu? 4. Chi phí thuê lao động chăm sóc và thu hoạch là bao nhiêu? * Doanh thu, thu nhập của nông hộ 1. Sản lượng thu hoạch được trên một 1000m2 là bao nhiêu ? 2. Đơn giá cho mỗi Kg sản phẩm thu hoạch được? 3. Số tiền thu được sau khi bán? 4. Phần tiền thu được sau khi chi trả tất cả các khoản chi phí? 1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 1.4.1. Không gian Phân tích nội dung trồng luân canh hai vụ lúa , một vụ bắp ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Trong đó, chọn ra hai xã để tiến hành phỏng vấn là xã An Hoà Tây và xã Tân Thủy. 1.4.2. Thời gian Thời gian thu thập số liệu sơ cấp từ tháng 02 năm 2009 đến hết tháng 3 năm 2009. Các số liệu thứ cấp từ tài liệu của cơ quan hướng dẫn qua các năm 2006, 2007, 2008. 1.4.3. Đối tượng nghiên cứu Do nội dung của đề tài là phân tích hiệu quả sản xuất luân canh hai vụ lúa, một vụ bắp nên đối tượng nghiên cứu của đề tài cây lúa và cây bắp. 1.5. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU: - Nguyễn Thị Thu An, 2006, “Phân tích hiệu quả sản xuất của việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa của nông hộ xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng”. Mục tiêu của đề tài phân tích hiệu quả sản xuất khi nông dân ứng dụng các mô hình khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa và xác định những thuận lợi, khó khăn trong quá trình sản xuất trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp liên quan đến việc ứng dụng kỹ thuật mới đối với nông hộ và chính quyền địa phương. GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 4 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre - Nguyễn Thị Yến, 2007, “So sánh hiệu quả kinh tế của mô hình lúa ba vụ và mô hình hai vụ lúa một vụ màu ở huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ”. Mục tiêu của đề tài là phân tích và so sánh hiệu quả kinh tế của mô hình lúa ba vụ và mô hình hai vụ lúa một vụ màu. Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố chi phí đến thu nhập ròng. Đưa ra các biện pháp để mô hình có hiệu quả tiếp tục được nhân rộng và phát triển.  Điểm mạnh có thể học hỏi từ các đề tài này là: Luận văn có cấu trúc rõ ràng, nội dung phân tích đạt mục tiêu đề ra, tính logic của đề tài, format theo chuẩn của khoa. GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 5 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ---- -ooOoo- ---2.1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN: 2.1.1. Khái niệm về kinh tế hộ, hộ gia đình 2.1.1.1. Nông hộ ( hộ nông dân ) Là gia đình sống bằng nghề nông, được kể là một đơn vị về mặt chính quyền. 2.1.1.2. Khái niệm kinh tế nông hộ Nông hộ tiến hành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp… để phục vụ cuộc sống gọi là kinh tế nông hộ. Kinh tế nông hộ là loại hình sản xuất có hiệu quả về kinh tế - xã hội, tồn tại và phát triển lâu dài, có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Kinh tế hộ phát triển tạo ra sản lượng hàng hóa đa dạng, có chất lượng, giá trị ngày càng cao,góp phần tăng thu nhập cho mỗi gia đình nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm cho công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngay từ kinh tế hộ. Như vậy, đặc trưng bao trùm của kinh tế nông hộ là các thành viên trong nông hộ làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân và gia đình mình. Mặc khác, kinh tế nông hộ nhìn chung là nền sản xuất nhỏ mang tính tự cấp tự túc hoặc có sản xuất hàng hóa với năng suất lao động thấp nhưng lại có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp trong quá trình phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng. 2.1.1.3. Khái niệm hộ gia đình Hộ gia đình mà các thành viên cùng đóng góp công sức, tài sản chung để hợp tác kinh tế chung trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc trong một số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó; hộ gia đình mà đất ở được giao cho hộ cũng là chủ thể trong quan hệ dân sự liên quan đến đất ở đó. GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 6 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre 2.1.1.4. Đặc điểm của kinh tế hộ Kinh tế hộ có những đặc trưng riêng biệt với quá trình tiến triển của hộ qua các giai đoạn lịch sử. Cũng do những đặc trưng riêng biệt này của nó mà có thể cho rằng hộ là đơn vị kinh tế xã hội đặc biệt - Hộ mang tính huyết tộc. Các thành viên huyết tộc của hộ là chủ thể đích thực của hộ, và đã tạo nên sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất. - Hộ dựa trên cơ sở kinh tế chung, mỗi thành viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm, đều có ý thức tự giác làm tăng quỹ thu nhập của hộ, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi thành viên. - Đặc trưng nổi bật của các hộ nước ta là có quy mô canh tác rất nhỏ bé và quy mô canh tác của hộ có xu hướng giảm dần do việc gia tăng dân số, do việc lấy đất đai nông nghiệp phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ, phi nông nghiệp…Bản thân nông nghiệp muốn phát triển cũng phải lấy đất để xây dựng các kết cấu hạ tầng của nông nghiệp. - Quá trình tổ chức lao động là do hộ tổ chức, công việc đồng án hộ sử dụng nhân công gia đình là chủ yếu. Lao động gia đình không được xem là hình thái hàng hóa. Hiện nay, tình trạng thuê mướn nhân công lao động đã xuất hiện ở mức độ khác nhau của sản xuất hàng hóa. Thị trường lao động nông thôn cũng ra đời. - Cơ cấu lao động nông hộ bao gồm: lao động nông nghiệp, lao động bán nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp. Cơ cấu này khác nhau giữa các hộ, các địa bàn, các vùng, tùy theo điều kiện cụ thể của chúng. 2.1.1.5. Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển ngày nay Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp và nông thôn. Các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ trước tiên bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, dựa trên cơ sở huyết thống, ngoài ra còn do truyền thống qua nhiều đời, do phong tục tập quán, do tâm lí đạo đức và dòng họ. Về kinh tế, các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trên quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối mà cốt lõi của nó là quan hệ lợi ích kinh tế. Các thành viên trong nông GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 7 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre hộ có cùng mục đích và lợi ích chung là làm cho hộ mình ngày càng phát triển, ngày càng giàu có. Trong mỗi nông hộ thường bố mẹ là chủ hộ vừa là người phân công lao động trong gia đình, vừa là người lao động trực tiếp. Các thành viên trong hộ cùng lao động, gần gũi nhau về khả năng, trình độ, tình hình và hoàn cảnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân công và hợp tác lao động một cách hợp lí. Kinh tế nông hộ trong quá trình phát triển nông hộ của nhiều nước có vai trò hết sức quan trọng. Ở Việt Nam, kinh tế nông hộ mặc dù còn ở quy mô sản xuất nhỏ và phân tán nhưng có vai trò hết sức quan trọng để phát triển nông nghiệp. Kinh tế nông hộ đã cung cấp cho xã hội rất nhiều sản phẩm góp phần tăng nhanh sản lượng lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp và xuất khẩu, góp phần sử dụng tốt hơn đất đai, lao động…tăng thêm việc làm ở nông thôn và tăng thêm thu nhập cho nông dân. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã tạo ra sự thay đổi lớn trong nông thôn. Nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân luôn là mục đích phấn đấu cho toàn Đảng và Nhà nước ta cũng như nhân dân. Nhằm để tăng thu nhập cho người dân, làm cho nông thôn ngày càng giàu đẹp, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và cũng góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Nhà nước. 2.1.2. Khái niệm về hiệu quả, hiệu quả sản xuất Hiệu quả là sự xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các nguồn lực sao cho đạt kết quả cao nhất. Hiệu quả bao gồm ba yếu tố: không sử dụng nguồn lực lãng phí, sản xuất với chi phí thấp nhất và sản xuất đáp ứng nhu cầu con người. Muốn đạt hiệu quả sản xuất cần quan tâm một số vấn đề sau: - Hiệu quả kinh tế: Tiêu chí về hiệu quả kinh tế thật ra là giá trị nghĩa là sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại thì không có hiệu quả. - Hiệu quả kỹ thuật: Là việc tạo ra một số lượng sản phẩm nhất định từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất. Nó được xem là một thành phần của hiệu quả kinh tế. Bởi vì muốn đạt được hiệu quả kinh tế thì trước hết phải đạt hiệu quả lỹ thuật. 2.1.3. Các khái niệm về doanh thu, chi phí, thu nhập GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 8 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre - Doanh thu: Là toàn bộ giá trị của sản phẩm cho một đơn vị diện tích bằng năng suất nhân với đơn giá của sản phẩm cho một đơn vị diện tích. DOANH THU = NĂNG SUẤT x ĐƠN GIÁ x ĐƠN VỊ DIỆN TÍCH - Chi phí: Là tất cả những hao phí bỏ ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh để tiêu thụ sản phẩm hoặc toàn bộ chi phí bỏ ra để sản xuất một sản phẩm nhất định. Chi phí gồm hai loại: định phí và biến phí. Sự thay đổi của tổng chi phí là do sự thay đổi của biến phí. Khi sản lượng bằng không nghĩa là việc không sản xuất lúc này chi phí = định phí. CHI PHÍ = BIẾN PHÍ + ĐỊNH PHÍ Trong đó: + Định phí là chi phí cố định không thay đổi khi sản lượng thay đổi. Chi phí cố định là khoản chi phí mà hộ gia đình buộc phải bỏ ra trong quá trình sản xuất hoặc ngay cả khi hộ gia đình ngừng sản xuất cũng phải chịu khoản chi phí này. + Biến phí: Là chi phí biến đổi, tăng hoặc giảm theo sự tăng hoặc giảm của sản lượng. Doanh nghiệp hoặc hộ gia đình không phải chịu khoản chi phí này khi ngừng hoạt động sản xuất. - Thu nhập : là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra để sản xuất sản phẩm đó. Thu nhập có hai loại : thu nhập chưa tính lao động nhà và thu nhập có tính lao động nhà. 2.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất + Thu nhập trên chi phí: Thu nhập trên chi phí= thunhap chiphi Tỉ số này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thì chủ đầu tư thu được bao nhiêu đồng thu nhập. + Thu nhập trên doanh thu: Thu nhập trên doanh thu= GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 9 thunhap doanhthu SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre Tỉ số này cho biết trong một đồng doanh thu mà nông hộ có được thì sẽ có bao nhiêu đồng thu nhập trong đó. + Doanh thu trên chi phí: Doanh thu trên chi phí= doanhthu chiphi Tỉ số này cho biết một đồng chi phí mà nông hộ bỏ ra đầu tư thì sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu. 2.1.5. Khái niệm về luân canh và đặc điểm sinh trưởng, phát triển và các nhân tố ảnh hưởng đến cây lúa, cây bắp 2.1.5.1. Khái niệm luân canh * Khái niệm - Luân canh là sự luân phiên thay đổi cây trồng theo không gian và thời gian trong chu kỳ nhất định. - Phải tiến hành luân canh bởi vì: Luân canh là trung tâm của các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp khác. Tất cả các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp đều căn cứ vào chế độ luân canh mà xác định nội dung của mình. Các chế độ canh tác khác như thuỷ lợi, bón phân, tưới nước, làm đất, diệt trừ cỏ dại... đều căn cứ vào loại cây trồng, trình tự luân phiên cây trồng trong hệ thống luân canh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật cụ thể cho suốt cả chu kỳ luân canh. * Hiệu quả của việc trồng luân canh Việc trồng luân canh có các tác dụng sau: + Điều hoà dinh dưỡng và nước trong đất. + Luân canh chính xác có tác dụng cải tạo và bồi dưỡng đất. + Chống xói mòn và bảo vệ đất. + Phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại. + Điều tiết hoạt động của vi sinh vật trong đất. + Tăng năng suất cây trồng và tăng sản lượng nông nghiệp. + Điều hoà lao động và việc sử dụng các vật tư kỹ thuật khác. GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 10 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre 2.1.5.2. Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây lúa, cây bắp 2.1.5.2.1. Cây lúa Lúa là cây lương thực quan trọng của nước ta, có vị trí quan trọng đặc biệt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), đóng góp 50% sản lượng lúa cả nưóc và 80% gạo xuất khẩu; kế đến cây ăn trái, mía đường, thủy hải sản, chăn nuôi vịt, trâu bò, heo,... Trồng lúa là một nghề truyền thống của nhân dân Việt Nam từ rất xa xưa. Những năm gần đây Việt Nam đã tham gia vào thị trường lúa gạo quốc tế với sản lượng lúa gạo hằng năm đứng thứ 2- 4 trong số các nước xuất khẩu gạo. ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất của cả nước, đã góp phần quan trọng trong thành quả chung đó. Đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất tương đối bằng phẳng, đất phù sa có 1,16 triệu ha (chiếm 30%) tập trung dọc theo hai bờ sông Tiền, sông Hậu rất thích nghi với loại cây trồng này. ĐBSCL nằm trong vùng khí hậu ôn hòa, ít có bão lớn xảy ra, Lương mưa trung bình hàng năm 1500-2000 mm tạo điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển cây lúa. Cây lúa mang lại nguồn thu nhập cao cho nông dân, trồng lúa không những đáp ứng nhu cầu về lương thực mà còn giải quyết vấn đề về việc làm của người dân. Đa số người dân cả nước đều nắm được kỹ thuật trồng lúa nhưng tùy vào điều kiện tự nhiên của từng vùng miền khác nhau mà người dân áp dụng các biện pháp gieo trồng và các giống lúa cũng khác nhau. Cơ cấu giống lúa cụ thể cho những vùng sản xuất lúa chính đề xuất như sau: - Vùng phù sa ngọt dọc sông Tiền sông Hậu sử dụng các giống lúa thâm canh chất lượng cao như VND 95-20, OMCS 2000, IR 64, OM 2517… và duy trì tỷ lệ phù hợp các giống OM 2718, OM 1490 và các giống lúa nếp, đặc sản. - Ở vùng bán đảo Cà Mau (tính từ Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và một phần tỉnh Kiên Giang) với mức độ bộc phát rầy nâu chưa mạnh; ngoài các giống chủ lực, vẫn có thể duy trì các giống OM 2718, OM 2717 và các giống lúa ST đặc sản. Vùng đất phèn có thể sử dụng giống OM 1350, OM 2488, IR 56381 (MTL 149), AS 996… - Vùng Tây sông Hậu, Tứ giác Long Xuyên sử dụng các giống chủ lực nêu trên, giảm bớt diện tích: Jasmine 85, nếp, OM 2514, OM 2717… GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 11 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre - Vùng Đồng Tháp Mười: cơ cấu chủ lực là các giống cực sớm và sớm như OM 576, IR 50404, OMCS 2000, VND 95-20; duy trì tỷ lệ phù hợp OM 1490, OM 3536 và các giống đặc sản khác. - Vùng ven biển Nam bộ: cơ cấu chủ lực là các giống OM 576, IR 50404, OMCS 2000, AS 996, OM 4498, VND 95-20. - TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ: giống lúa chủ lực là VND 95-20, OMCS 2000, IR 64, OM 3536, VND 99-3, OM 1490, OM 2717, OM 2718 Giống lúa trồng ở vùng ĐBSCL thường cho năng suất cao tương ứng với từng vụ như: - Vụ đông xuân: Gieo đầu tháng 11 đến 25/11. Sử dụng các giống lúa OMCS 2000, OMCS21, TNĐB100, ML48, OM1706, OM1633, VND404, VND95- 19, MTL250, MTL392, MTL449, OM4498, OM4495, OM2395, OM2517, OM3405... - Vụ hè thu: Gieo đầu tháng 4 đến 25/4. Sử dụng các giống lúa OMCS 2000, OMCS21, TNĐB100, ML48, OM1706, OM1633, VND404, VND95- 19, MTL250, MTL392, MTL449, OM4498, OM4495, OM2395, OM2517, OM3405... - Vụ mùa: Gieo 5/5- 30/5. Sử dụng các giống lúa VND404, VND95-19, MTL250, MTL392, MTL449, OM4498, OM4495, OM2395, OM2517, OM3405, Khao105, Nàng thơm chợ đào 5, Nàng Hương 2... 2.1.5.2.2. Cây bắp a ) Nguồn gốc cây ngô Ngô, bắp hay bẹ (danh pháp khoa học: Zea mays L. ssp. mays) là một loại cây lương thực được thuần dưỡng tại khu vực Trung Mỹ và sau đó lan tỏa ra khắp châu Mỹ. Ngô lan tỏa ra phần còn lại của thế giới sau khi có tiếp xúc của người châu Âu với châu Mỹ vào cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16. b ) Đặc điểm sinh trưởng và phát triển Cây ngô là loại cây trồng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, cây ngô yêu cầu ánh sáng mạnh, trồng trong điều kiện được chiếu sáng mạnh ngô sẽ cho năng suất cao, phẩm chất hạt tốt. Nhiệt độ lý tưởng để ngô sinh trưởng và phát triển là 25-300C. Ngô là cây cần đất ẩm, nhưng khả năng chịu úng kém. Bình quân một cây ngô trong vòng đời cần GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 12 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre phải có 7-10 lít nước để sinh trưởng và phát triển. Nhu cầu về nước của cây ngô thay đổi theo từng thời kỳ sinh trưởng.Cây ngô có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, tuy nhiên ngô thích hợp nhất là trên đất có thành phần cơ giới nhẹ, độ màu mỡ cao, dễ thoát nước, tầng canh tác dày, độ pH: 6-7. *Mùa vụ Cây bắp có thể trồng quanh năm ở ĐBSCL, tuy nhiên nông dân trồng bắp nhiều vào hai vụ là đông xuân và hè thu sớm. Vụ đông xuân: bắt đầu từ cuối tháng 10 đến hết tháng 11 dương lịch khi mùa mưa chuẩn bị kết thúc. Bắp trồng vào thời gian này có rất nhiều thuận lợi về thời tiết cho cây phát triển và tận dụng được những trận mưa cuối mùa. Vụ hè thu: Từ tháng tư – tháng năm dương lịch, khi mùa mưa bắt đầu, thu hoạch trong tháng bảy, tháng tám. Bắp vụ hè thu cho năng suất kém hơn vụ đông xuân do thời tiết quá nắng nóng vào đầu vụ, mưa nhiều vào cuối vụ làm bắp nhiều sâu bệnh và đổ ngã. Nếu mặt đất bằng phẳng và ít cỏ hay mới thu hoạch lúa thì không cần làm đất mà chỉ cần giăng dây cho thẳng hàng và tỉa hạt. Trường hợp đất nhiều cỏ và quá cứng thì cần xới đất sao cho kích thước 2 –3cm là được. c ) Nhu cầu cây ngô về các điều kiện khí hậu - Nhiệt độ: Ngô là cây ưa nóng. Nhu cầu về nhiệt được thể hiện bằng tổng nhiệt độ cao hơn nhiều cây trồng khác mà ngô cần để hoàn chỉnh chu kỳ sống từ gieo đến chín. Bên cạnh đó nhu cầu về nhiệt của cây ngô được thể hiện bằng các giới hạn nhiệt độ mà cây đòi hỏi như nhiệt độ tối thấp, tối cao và tối ưu. Về phương diện này các nhà khoa học đã định vùng trồng ngô lấy hạt là vùng được giới hạn bằng đường đồng nhiệt cao nhất là 18 độ C. - Nước: Nước là yếu tố môi trường quan trọng đối với đời sống cây ngô. Ở những vùng nóng, nơi có sự bốc hơi và thoát hơi nước cao, nhu cầu nước của cây ngô lại càng cao. Ngô là cây trồng cạn cần nhiều nước, song cũng rất nhạy cảm với độ ẩm đất cao, đặc biệt ở giai đoạn cây còn nhỏ khi điểm sinh trưởng còn nằm dưới mặt đất chỉ cần ngập nước 12 ngày cây cũng có thể bị chết. GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 13 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre - Ánh sáng: Ánh sáng là một yếu tố quan trọng cho sinh trưởng và phát triển cây ngô, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích lũy chất dinh dưỡng và ảnh hưởng độ dài quá trình sinh trưởng. Theo phản ứng với ánh sáng thì cây ngô thuộc nhóm cây trồng ngày ngắn. Để có năng suất ngô cao, các giờ chiếu sáng của mặt trời là: 55-64% vào tháng 5, 45-54% vào tháng 6, và 55-74% vào tháng 7, 8, 9. Độ dài chiếu sáng dưới 55% vào các tháng 7- 9 sẽ làm giảm năng suất ngô dưới mức bình thường. Các giống bắp thích hợp với đồng đất ở ĐBSCL Giống DK888: Có nguồn gốc nhập nội từ Thái Lan. Giống bắp này có thời gian sinh trưởng 90 – 95 ngày, chiều cao trung bình 2,4 – 2,6m, có hai trái/cây, số hạt/trái là 400 – 450 hạt, năng suất trung bình là 7 – 8 tấn/ha, trong điều kiện thâm canh tốt có thể đạt 9 tấn/ha. Giống G49: Giống có thời gian sinh trưởng 90 – 93 ngày, chiều cao trung bình 2,2 – 2,4m, có hai trái/cây, số hạt/trái là 400 – 450 hạt, năng suất trung bình là 8,0 – 8,5 tấn/ha, trong điều kiện thâm canh tốt có thể đạt 9 tấn/ha. Giống ngô nếp MX4: Thời gian thu hoạch hạt khô 80 - 85 ngày, thu trái ăn tươi 62 - 64 ngày sau gieo. Sinh trưởng khoẻ, chiều cao cây 186 cm, chiều cao đóng bắp 88 cm, chiều dài bắp 14.7 cm, đường kính bắp 4.2 cm, 12 - 14 hàng hạt, tỷ lệ hạt/bắp 74.1%. Chất lượng luộc ăn tươi bắp có vị thơm và dẻo. Năng suất hạt khô trung bình từ 3.5 - 4.5 tấn/ha. Năng suất bắp tươi lột vỏ 7.7 tấn trái tươi/ha. Giống ngô nếp MX2: Thời gian sinh trưởng 80 - 85 ngày, thu bắp ăn tươi 65 - 70 ngày sau gieo. Sinh trưởng khoẻ, chống chịu bệnh đốm vằn tốt, ít đổ ngã, thích nghi rộng. Chất lượng ăn tươi bắp có hương vị thơm , ngon và dẻo. Năng suất trung bình 3.5 - 5 tấn/ha. Năng suất bắp tươi trung bình từ 7 - 8 tấn bắp tươi/ha. 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 2.2.1. Phương pháp chọn vùng nghiên cứu Tổng số mẫu điều tra là 60 mẫu. Chọn ngẫu nhiên hai xã là Tân Thủy và Xã An Hòa Tây. Cách chọn nông hộ để phỏng vấn là ngẫu nhiên và thuận tiện. Tham khảo số liệu từ Phòng Nông nghiệp và PTNN của huyện Ba Tri GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 14 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre 2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu - Số liệu thứ cấp: Tạp chí chuyên ngành kinh tế, các báo cáo tình hình sản xuất chung huyện Ba Tri và niên giám thống kê của Phòng nông nghiệp huyện Ba Tri. - Số liệu sơ cấp: sử dụng phương pháp thu thập số liệu ngẫu nhiên và thuận tiện thông qua lập phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp 60 nông hộ 2.2.3. Phương pháp phân tích số liệu (theo từng mục tiêu) Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng sản xuất chung của các hộ nông dân huyện Ba Tri thông qua một số nguồn lực sẵn có như: diện tích đất canh tác, kinh nghiệm sản xuất, nguồn lực lao động. - Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng trong đề tài nhằm mô tả thực trạng trồng luân canh lúa và bắp và các nguồn lực sẵn có của nông hộ. - Phương pháp so sánh số tuyệt đối và tương đối để tính tốc độ tăng trưởng qua các năm. Mục tiêu 2: Phân tích và so sánh hiệu quả sản xuất lúa – bắp thông qua ba vụ Đông Xuân, Hè Thu, Thu Đông trong năm 2007-2008 ở huyện Ba Tri. Các bảng thống kê mô tả số liệu: Là hình thức trình bày số liệu thống kê và thông tin đã thu thập làm cơ sở để phân tích và kết luận, cũng là bảng trình bày kết quả đã nghiên cứu. Mục tiêu 3 : Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất lúa – bắp của các nông hộ ở huyện Ba Tri như: phân bón, thuốc, lao động… - Sử dụng phần mềm Stata 8 trong kinh tế lượng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập từ việc trồng luân canh cây lúa – cây bắp, xem xét cơ cấu nguồn vốn của hộ nông dân trong quá trình sản xuất. Thông qua phương trình hồi qui tuyến tính đa biến. Phương trình hồi qui tuyến tính Mục đích của việc thiết lập phương trình hồi quy là tìm các nhân tố ảnh hưởng đến một chỉ tiêu quan trọng nào đó (thu nhập/1000m2, năng suất/1000m2), chọn những nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa, từ đó phát huy nhân tố có ảnh hưởng tốt, khắc phục nhân tố ảnh hưởng xấu. GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 15 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre Phương trình hồi qui có dạng:   0 + 1X1  2X2 ……+ kXk. Trong đó: : Là biến phụ thuộc. X1: Biến độc lập (i = 1,2,…..k), là các nhân tố ảnh hưởng. Các tham số 0, 1, …….k được tính toán bằng cách sử dụng phầm mềm Stata8 kết quả: - Multiple R: Hệ số tương quan bội, nói lên liên hệ chặt chẽ giữa biến phụ thuộc Y và các biến độc lập X. R càng lớn, mối liên hệ càng chặt chẽ. - Hệ số xác định R2 (R Square): Tỷ lệ (%) biến động của Y được giải thích bởi các Xi ( hoặc % các Xi ảnh hưởng đến Y, phần còn lại do các yếu tố khác mà chúng ta chưa nghiên cứu). R2 càng lớn càng tốt (0 <= R2 <= 1). - R2: Hệ số xác định đã điều chỉnh, dùng để trắc nghiệm xem có nên thêm vào một biến độc lập nữa không. Khi thêm vào một biến mà R2 tăng lên thì chúng ta quyết định thêm biến đó vào phương trình hồi quy. - Standrad error: Sai số chuẩn cả phương trình. - ObServations: Số quan sát . - Regression: Hồi quy. - Residual: Số dư. - Df: Độ tự do. - SS: Sum of Squares: Tổng bình phương. - SSR: Tổng bình phương hồi quy, là đại lượng biến động của Y được giải thích bởi đường hồi quy. - SSE: Phần biến động còn lại (số dư): là đại lượng biến động tổng hợp của các nguồn biến động do các nhân tố khác gây ra mà không hiện diện trong mô hình hồi quy và biến động ngẫu nhiên. - SST: Tổng biến động của Y. SST = SSR + SSE. GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 16 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre SSR càng lớn mô hình hồi quy càng có độ tin cậy cao trong việc giải thích biến động của Y. - MS: Trung bình bình phương (mean of Squares). MSR: = SSR/k Trung bình bình phương hồi quy. MSE = SSE/n – k –1 - F: Tỷ số F (số thống kê F) + Thông thường dùng để kiểm định mức ý nghĩa của mô hình hồi quy. F càng lớn mô hình càng có ý nghĩa vì khi đó Sig.F càng nhỏ. + Dùng để so sánh với F trong bảng phân phối F ở mức ý nghĩa  + F là cơ sở để bác bỏ hay chấp nhận H0. H0: tất cả các tham số hồi quy đều bằng không (1 = 2 =…….= k = 0) hay các Xi không liên quan tuyến tính với Y. F càng lớn thì khả năng bác bỏ giả thuyết H0 càng cao. - Significace: mức ý nghĩa F. Sig.F nói lên ý nghĩa của phương trình hồi quy, Sig.F cho ta kết luận ngay phương trình hồi quy có ý nghĩa khi (Sig.F  ). - Coefficients: (hệ số). - t- Stat: Giá trị thống kê, dùng kiểm định cho các tham số riêng biệt (Xi); nếu t_Stat = 0 thì Xi không có ảnh hưởng đến Y. Mục tiêu 4: Đánh giá hiệu quả của mô hình và đề ra các giải pháp phát triển. Từ những số liệu thống kê sử dụng phương pháp logic để suy luận để đánh giá ưu và nhược điểm của mô hình sản xuất. GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 17 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ---- -ooOoo- ---3.1. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU : 3.1.1. Điều kiện tự nhiên Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre 3.1.1.1. Vị trí địa lý Huyện thuộc tỉnh Bến Tre. Nằm ở tận cùng của cù Lao Bảo. Đông Bắc giáp sông Ba Lai thuộc Bình Đại. Đông giáp Biển Đông. Tây Nam giáp Sông Hàm Luông qua Thạnh Phú. Tây Bắc giáp huyện Giồng Trôm, huyện lị là thị trấn Ba Tri. Huyện Ba Tri bao gồm thị trấn Ba Tri và 23 xã: Tân Mỹ, Mỹ Hòa, Mỹ Chánh, Mỹ Thạnh, An phú Trung, An Ngãi Trung, An Ngãi Tây, Tân Hưng, An Hiệp, An Hòa Tây. Mỹ Nhơn, Tân Xuân, Phước Tuy, Bảo Thạnh,Phú lễ, Phú Ngãi, An Đức, Vĩnh An, Vĩnh Hòa, An Thủy, Tân Thủy. Ba Tri là một huyện ven biển, đất đai chủ yếu là ruộng và giồng, không có vườn tược trù phú như đất đai ở phía tây. GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 18 SVTH: Nguyễn Thị Lợt Phân tích hiệu quả sản xuất mô hình luân canh 2 vụ lúa 1 vụ bắp của nông hộ huyện Ba Tri - Bến Tre 3.1.1.2. Khí hậu, thủy văn Tỉnh Bến Tre nói chung và huyện Ba Tri nói riêng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng còn lại là mùa khô. Nhiệt độ trung bình năm từ 26 - 27oC. Lượng mưa trung bình năm từ 1.250 - 1.500 mm. Nhiệt độ: nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 26oC – 27oC. Trong năm không có nhiệt độ tháng nào trung bình dưới 20oC. Bức xạ: Lượng bức xạ khá dồi dào, trung bình đạt tới 160kcal/cm2 Hướng gió: chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và gió mùa tây nam từ tháng 5 đến tháng 11, giữa 2 mùa gió tây nam và đông bắc là 2 thời kỳ chuyển tiếp có hướng gió thay đổi vào các tháng 11 và tháng 4 tạo nên 2 mùa rõ rệt. Mùa gió đông bắc là thời kỳ khô hạn, mùa gió tây nam là thời kỳ mưa ẩm. Lượng mưa: Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.250 mm – 1.500 mm. Trong mùa khô, lượng mưa vào khoảng 2 đến 6% tổng lượng mưa cả năm. Với điều kiện khí hậu, thủy văn trên rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, trồng lúa và rau màu. 3.1.1.3. Đất đai Huyện Ba Tri là phần diện tích tiếp giáp Biển Đông nên đất đai bị nhiễm mặn khá nhiều. Mặc dù sông Ba Lai và sông Hàm Luông bồi đắp nhưng lượng đất nhiễm mặn và đất phèn vẫn còn khá lớn. Đặc biệt, xã Tân Thủy và xã An Hòa Tây là hai xã có vị trí gần biển nhất. Chính vì vậy, diện tích đất nông nghiệp sản xuất lúa không tốt lắm và có năng xuất lúa tương đối thấp. Ở đây, đất đai chỉ trồng được hai vụ lúa là Hè Thu và Thu Đông, còn Đông Xuân không sản xuất được. Những nông hộ ở đây đã tân dụng được vụ Đông Xuân trồng màu trên chân đất lúa. Đặc biệt họ chuyên trồng cây bắp vào vụ màu này. GVHD: La Nguyễn Thùy Dung 19 SVTH: Nguyễn Thị Lợt
- Xem thêm -