Tài liệu Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế việt nam

  • Số trang: 12 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 59 |
  • Lượt tải: 0
hieu1782921

Tham gia: 07/06/2019

Mô tả:

Tăng trưởng kinh tế là gì? Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng được tính cho toàn bộ nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Tăng trưởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng). Trong phân tích kinh tế, để phán ánh mức độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm tốc độ tăng trưởng kinh tế thường được dùng. Đây là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc thời kỳ gốc. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế 4.1. Nhân tố kinh tế Đây là những nhân tố có tác động trực tiếp đến các biến số đầu vào và đầu ra của nền kinh tế. Xuất phát của nghiên cứu được bắt đầu bằng hàm sản xuất tổng quát: Y=F(Xi) Trong đó: Y là giá trị đầu ra (phụ thuộc vào tổng cầu của nền kinh tế) Xi là giá trị các biến số đầu vào (liên quan trực tiếp đến tổng cung). Từ đó ta xét cụ thể hai nhóm nhân tố tác động: Các nhân tố tác động trực tiếp đến tổng cung Nói đến các yếu tố tổng cung tác động đến tăng trưởng kinh tế là nói đến 4 yếu tố nguồn lực chủ yếu, đó là: Vốn (K), Lao động (L), Tài nguyên, đất đai (R), Công nghệ kỹ thuật (T) + Vốn (K)
Tăng trưởng kinh tế là gì? Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng được tính cho toàn bộ nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Tăng trưởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng). Trong phân tích kinh tế, để phán ánh mức độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm tốc độ tăng trưởng kinh tế thường được dùng. Đây là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc thời kỳ gốc. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế 4.1. Nhân tố kinh tế Đây là những nhân tố có tác động trực tiếp đến các biến số đầu vào và đầu ra của nền kinh tế. Xuất phát của nghiên cứu được bắt đầu bằng hàm sản xuất tổng quát: Y=F(Xi) Trong đó: Y là giá trị đầu ra (phụ thuộc vào tổng cầu của nền kinh tế) Xi là giá trị các biến số đầu vào (liên quan trực tiếp đến tổng cung). Từ đó ta xét cụ thể hai nhóm nhân tố tác động: Các nhân tố tác động trực tiếp đến tổng cung Nói đến các yếu tố tổng cung tác động đến tăng trưởng kinh tế là nói đến 4 yếu tố nguồn lực chủ yếu, đó là: Vốn (K), Lao động (L), Tài nguyên, đất đai (R), Công nghệ kỹ thuật (T) + Vốn (K) Đứng trên góc độ vĩ mô, vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế được đặt ra ở khía cạnh vốn vật chất chứ không phải dưới dạng tiền (giá trị), nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích luỹ lại của nền kinh tế và bao gồm: Vốn cố định (nhà máy, công xưởng, trụ sở cơ quan, trang thiết bị văn phòng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, cơ sở hạ tầng) và vốn lưu động (tồn kho của tất cả các loại hàng hóa). Mặt khác, để duy trì hoặc gia tăng mức vốn sản xuất phải có một khoản chi phí gọi là vốn đầu tư sản xuất. Vốn đầu tư sản xuất được chia thành vốn đầu tư vào tài sản cố định và vốn đầu tư vào tài sản lưu động. Trong những năm gần đây,vốn được xem là nhân tố đóng góp nhiều nhất vào tăng trưởng kinh tế VN . Nói một cách khác, những thành tựu tăng trưởng kinh tế của đất nước phần nhiều xuất phát từ khả năng huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước. Trong những năm qua, môi trường đầu tư ở nước ta đã được cải thiện tích cực.Hệ thống cơ chế,chính sách,pháp luật về tài chính đã từng bước được đổi mới theo hướng tạo cở sở sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó nhà nước cũng đã huy động các nguồn lực, tập trung đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, góp phần giảm bớt các yếu tố chi phí đầu vào, chi phí trung gian cho các doanh nghiệp. Nhờ đó môi trường đầu tư và môi trường kinh doanh ở nước ta đã cởi mở, thông thoáng, minh bạch và có tính cạnh tranh cao. Điều đó thể hiện tỷ trọng vốn dành cho đầu tư phát triển ngành càng tăng. Theo thực tế ước tính đạt 461,9 nghìn tỷ đồng bằng 40,4% tổng sản phẩm trong nước và tăng 15,8% so với năm 2006 Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước Trước thời kỳ đổi mới nguồn thu của ngân sách nhà nước ta từ thuế, phí, lệ phí và toàn bộ số thu khác trong nước cộng lại, thường không đảm bảo đủ chi thường xuyên chứ chưa nói gì tới chi đầu tư phát triển. Kể từ khi đổi mới nền kinh tế, cải cách hệ thống thu ngân sách nhà nước dẫn đến những thay đổi tích cực: ngân sách hằng năm đều tăng với tốc độ cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế với nguồn thu luôn được đảm bảo dù thu nhập từ thuế nhập khẩu giảm theo tiến trình hội nhập quốc tế, tốc độ năm 2004 tăng 17,5%; 2005 tăng lên38% b)Vốn đầu tư của khu vực tư nhân Bên cạnh sự đầu tư từ ngân sách nhà nước thì vốn đầu tư của khu vực tư nhân cũng đóng góp một phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế. Việc ban hành luật doanh nghiệp mới đầy đủ và hoàn thiện hơn cho khu vực kinh tế tư nhân đã tạo ra bước đột phá trong công cuộc cải cách kinh tế Việt Nam (trong đó có luật đầu tư(chung) và luật đoanh nghiệp (thống nhất) Viêc gia nhậpTổ chứcThương mại thế giới (WTO) của nước ta, ngoài nhiều mục tiêu khác, thì việc thu hút các nguồn vốn đâù tư nước ngoài là một trong những mục tiêu quan trọng Sự tăng tốc đầu tư nước ngoài vào VN được thể hiện ở cả ba nguồn, bao gồm nguồn vốn đầu tư trực tiếp, nguồn vốn hỗ trợ phát triễn chính thức và nguồn vốn đầu tư gián tiếp Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sự tăng trưởng của một quốc gia. Trong 10 năm qua, Việt Nam vẫn duy trì mức thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bình quân 15 – 20 tỷ USD vốn đăng ký mỗi năm (vốn đăng ký đặc biệt cao vào năm 2008 trên 60 tỷ USD). tăng tốc vốn đăng ký là quan trọng, nhưng tăng tốc vôn thực hiện còn quan trọng hơn, bởi vì đây mới là lượng vốn thực tế đưa vào đầu tư sản xuất kinh doanh. Sản xuất kinh doanh của khu vưc FDI trong 2 tháng đầu năm 2007 đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Chưa kể dầu khí ,khu vực này đạt doanh thu khoảng gần 4 ti USD , tăng 25% so vơi cùng kỳ ; xuất khẩu đạt trên 2,7 tỉ USD ,tăng 41,1%;giá trị sản xuất công nghiệp tăng cao hơn nhiều so với tốc độ tăng của toàn ngành công nghiệp(25,5% so với 17,5%)… Khi hội nhập quốc tế sâu hơn, Việt Nam còn được hưởng lợi hơn nữa dòng vốn FDI vì các hiệp định này sẽ tiếp tục khơi thông dòng vốn sẵn có tại các nước trong khối vốn đã có quan hệ với Việt Nam. Bên cạnh những nguồn vốn nêu trên,còn có 1 nguồn không kém phần quan trọng đó là nguồn kiều hối. Nhiều hội thảo doanh nhân Việt Kiều ,các buổi họp mặt của các hội người VN ở nước ngoài đã góp phần mang nguồn vốn của Việt Kiều về với quê hương đất nước + Lao động (L) Lao động là một nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu được trong các hoạt động kinh tế. Lao động là một nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu được trong các hoạt động kinh tế. Việc nâng cao vốn nhân lực sẽ làm cho việc tổ chức lao động, việc ứng dụng công nghệ có hiệu quả, làm cho năng suất lao động tăng và từ đó là tăng hiệu quả sản xuất. Hiện nay tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển được đóng góp nhiều bởi quy mô, số lượng lao động, yếu tố vốn nhân lực còn có vị trí chưa cao do trình độ và chất lượng lao động ở các nước này còn thấp. Nguồn lao động dồi dào giá rẻ Việt Nam là một trong số ít nước có thế hệ dân số vàng với khoảng gần 50 triệu lao động trong độ tuổi được đào tạo tương đối tốt nhưng mức lương trung bình so với mặt quốc tế là khá thấp (thấp hơn khoảng 30% so với Trung Quốc, Ấn Độ). Nhìn thấy lợi thế này, gần đây nhiều hãng điện tử, công nghệ cao trên thế giới đã chuyển hướng đầu tư vào Việt Nam với những dự án hàng tỷ USD thay vì vào Trung Quốc hay các quốc gia truyền thống ở khu vực Đông Nam Á. Diễn biến phân luồng đào tạo tích cực trong mấy năm gần đây ở Việt Nam theo hướng chuyển mạnh hơn vào đào tạo nghề và công nhân kỹ thuật thay vì đổ xô học đại học, cao học được kỳ vọng là sẽ khắc phục tình trạng thừa thầy thiếu thợ vốn tồn tại trong một thời kỳ dài. Đội ngũ công nhân lành nghề sau khi hết thời hạn xuất khẩu lao động ở các nước phát triển cũng là một xu thế mới bổ sung cho chất lượng của đội ngũ lao động ở nước ta. Hơn nữa, điều khoản tự do di chuyển lao động trong khối các nước thuộc cộng đồng kinh tế ASEAN là một nhân tố khác có tác động tích cực tới lực lượng lao động ở Việt Nam trong những thập niên tới. Sự cải thiện về chất lượng lao động với lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công thấp là một lợi thế quan trọng đóng góp vào sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam. + Tài nguyên, đất đai (R) Tài nguyên, đất đai là một yếu tố sản xuất cổ điển. Đất đai là yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và là yếu tố không thể thiếu được trong việc thực hiện bố trí các cơ sở kinh tế. Các nguồn tài nguyên dồi dào phong phú được khai thác tạo điều kiện tăng sản lượng đầu ra một cách nhanh chóng, nhất là với các nước đang phát triển. Tài nguyên thiên nhiên đa dạng, đặc biệt tài nguyên biển cũng là một trong những lợi thế cho kinh tế Việt Nam phát triển nếu biết khai thác và sử dụng hợp lý theo nguyên lý bền vững. Tài nguyên ngư nghiệp: Hiện nay, chúng ta có khoảng 1 triệu ha mắt nước nội địa, 1 triệu ha mặt nước lợ-mặn, trên 3200 km bờ biển với diện tích lãnh hải, khoảng 1 triệu km2. Đất nước ta có nhiều loại thủy hải sản phong phú, có giá trị kinh tế cao như: tôm, cua, mực, rong biển…. Cho đến nay, chúng ta đã xác định được trên 2000 loài cá biển với trữ lượng đánh bắt có thể lên tới 1,4-1,5 triệu tấn/năm. Đặc biệt với đặc điểm bờ biển trải dài, Việt Nam có tiềm năng to lớn về phát triển du lịch biển, với những bãi biển, vịnh biển của Việt Nam được du khách cả thế giới biết đến như Vịnh Hạ Long (2 lần UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và đã được nằm trong danh sách đề cử kỳ quan thiên nhiên thế giới) Vịnh Nha Trang- 1trong những vịnh đẹp nhất hành tinh, bãi biển Đà Nẵng… Việt Nam cũng đánh giá là nước có tài nguyên khoáng sản khá phong phú. Qua kết quả điều tra địa chấ, thăm dò khoáng sản đã phát triển gần 5000 mỏ quặng với 60 loại khoáng sản khác nhau. Công nghiệp khai thác khoáng sản ở Việt Nam mặc dù còn kém phát triển nhưng cũng đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, góp phần đầy nhanh quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Than có trữ lượng hàng trăm tỷ tấn, sắt khoảng 1,2 tỷ tấn, booxxit 6,6 tỷ tấn …Đặc biệt trong thời gian vừa qua dầu khí đã đóng góp rất lớn vào sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Ngoài ra còn có tài nguyên rừng và đất đai… + Công nghệ kỹ thuật (T) Yếu tố công nghệ kỹ thuật cần dạng: Thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm về cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật. Thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất. Trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng không là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất. Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất hiệu quả hơn. Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới…có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất. – Các nhân tố tác động đến tổng cầu Các yếu tố: khả năng chi tiêu, sức mua và năng lực thanh toán (tổng cầu AD) là các yế tố liên quan trực tiếp đến đầu ra của nền kinh tế. Kinh tế học vĩ mô đã cho trấy có 4 yếu tố trực tiếp cấu thành tổng cầu, bao gồm: + Chi cho tiêu dùng cá nhân (C): bao gồm các khoản chi cố định, chi thường xuyên và các khoản chi tiêu khác ngoài dự kiến phát sinh. Theo nghị định 94/2006/NĐ-CP và nghị định 03/2006/NĐ-CP về việc điều chỉnh mức lương tối thiểu thì thu nhập của người dân cũng được nâng cao Thu nhập bình quân 1 tháng của 1 ngườI lao động trong khu vực nhà nước đạt 2064,2 nghìn đồng; trong đó lao động do TW quản lý 2522,6 nghìn đồng; và lao động do địa phương quản lý 176,.0 nghìn đồng.Tỷ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn 14,75% năm 2007 và vượt kế hoạch đề ra 10%. Đi cùng với việc tăng lương, thì vấn đề giá cả cũng là một điều đáng bàn. nền kinh tế luôn phải chấp nhận 1 sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế + Chi tiêu của Chính phủ (G): Bao gồm các khoản mục chi mua hàng hoá và dịch vụ của Chính phủ. Chi tiêu của chính phủ đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Việc cân đối chi tiêu, cơ cấu ngân sách nhà nước phù hợp là 1 chính sách tài khoá hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Và ngược lại, một chính sách táI khoá không hợp lý là yếu tố tác xấu tới tăng trưởng kinh tế + Chi cho đầu tư (I): Là các khoản chi tiêu cho các nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp và các đơn vị kinh tế, bao gồm đầu tư vốn cố định và đầu tư vốn lưu động. Trong thời gian qua, Việt Nam đã đặt trọng tâm vốn đầu tư cao,đặc biệt trong cơ sở hạ tầng. Trong giai đoạn 5 năm từ 2001 đến 2005, tổng đầu tư Viẹt Nam dạt mức 37.5% so với GDP . tỉ lệ này đã được nâng lên 40% trong giai đoạn 5 năm từ 2006 đến 2010 + Chi qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX=X-M): Thực tế, giá trị hàng hoá xuất khẩu là các khoản phải chi cho các yếu tố nguồn lực trong nước, còn giá trị nhập khẩu là giá trị của các loại hàng hóa sử dụng trong nước nhưng lại không phải bỏ ra các khoản chi phí cho các yếu tố yếu tố nguồn lực trong nước. Mô hình phát triển hướng ngoại thành công của các nước Đông á trong những thập kỷ qua là minh chứng hùng hồn cho vai trò của xuất khẩu như là một động lực của tăng trưởng kinh tế ở khu vực này. Nền kinh tế Việt Nam từ kể thừ khi mở cử đến nay đã hội nhập gần như hoàn toàn vào dòng chảy kinh tế toàn cầu. Độ mở của nền kinh tế (được đo bằng phần trăm của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên GDP) ngày càng lớn, từ năm 2001 đến 2007 tương ứng là 97.9%, 103.4%, 114.7%, 129.4%, 131.8%, 138.9%, và 153.8%(theo Tổng cục thống kê). Tỷ trọng của xuất nhập khẩu trên GDP tăng từ 97.9% năm 2001 đến con số ấn tượng 153.8% năm 2007 tức bình quân tăng 9.32%/năm trong giai đoạn 2002-2007. Như chúng ta đã biết, tăng trưởng có thể được đo bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và GDP=C+I+G+NX. Do đó, sự thay đổi của một trong 4 nhân tố cũng đều có thể làm cho GDP thay đổi, sự thay đổi đó thể hiện sự biến động trong tăng trưởng kinh tế. 4.2. Các nhân tố phi kinh tế Khác với các nhân tố kinh tế, các nhân tố chính trị, xã hội, thể chế hay còn gọi là các nhân tố phi kinh tế, có tác động gián tiếp và rất khó lượng hóa cụ thể mức độ tác động của chúng đến tăng trưởng kinh tế. Có thể kể ra một số nhân tố phi kinh tế tác động đến tăng trưởng như: vai trò của nhà nước, các yếu tố văn hóa – xã hội, thể chế, cơ cấu dân tộc tôn giáo và sự tham gia của cộng đồng. – Đặc điểm văn hoá – xã hội: Đây là nhân tố quan trọng có tác động nhiều tới quá trình phát triển của đất nước. Nhân tố văn hoá xã hội bao trùm nhiều mặt từ các tri thức phổ thông đến các tích luỹ tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học, công nghệ, văn học, lối sống và cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp, những phong tục tập quán…Trình độ văn hoá cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia. Dân tộc Việt Nam có truyền thống quý báu như lòng yêu nước,ý thức tự tôn dân tộc,truyền thống cần cù lao động,truyền thống đoàn kết thương yêu đùm bọc lẫn nhau,truyền thống nghị lực vươn lên trong khó khăn…Với những truyền thống quý báu đó tạo nên những phẩm chất quý giá của nguồn lao động Việt Nam đó là:Cần cù chịu khó,thông minh,linh hoạt sáng tạo…Đây là một yếu tố quan trọng trong việc phát huy và sử dụng nguồn lao động trong quá trình phát triển KTXH. Cùng với quá trình phát triển trình độ văn hoá của người Việt Nam cũng được nâng cao.Trình độ văn hoá cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát cao của mỗi quốc gia.Nhà nước ta đã có nhiều chính sách trong việc cải cách giáo dục và tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại. Trong giáo dục đã tiến hành phổ cập giáo dục hoàn toàn cho ba cấp và mục tiêu phấn đấu là phổ cập giáo dục cao đẳng,đại học… Nguồn lao động trẻ Việt Nam đã được đào tạo có quy trình và có chất lượng với trình độ học vấn tương đối cao cộng với khả năng tiếp thu học hỏi công nghệ khoa học kỹ thuật nhanh,có khả năng hội nhập giao lưu với các nền văn hoá,tôn giáo khác nhau.Thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Có nhiều chính sách đầu tư cho học sinh viên ra nước ngoài nghiên cứu,học hỏi kinh nghiệm. – Nhân tố thể chế chính trị – kinh tế – xã hội Các nhân tố này tác động đến quá trình phát triển đất nước theo khía cạnh tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường xã hội cho các nhà đầu tư. Thể chế được biểu hiện như một lực lượng đại diện cho ý chí của cộng đồng nhằm điều chỉnh các mới quan hệ kinh tế, chính trị và xã hội theo lợi ích của cộng đồng đặt ra. Thể chế được thể hiện thông qua các dự kiến mục tiêu phát triển, các nguyên tắc tổ chức quản lý kinh tế xã hội, hệ thống luật pháp, các chế độ chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực hiện. Chúng ta đã đạt được nhiều kết quả trong xây dựng cơ sở vật chất ban đầu của chủ nghĩa xã hội,phát triển kinh tế,văn hoá,giáo dục,xây dựng con nguời mới trong điều kiện khó khăn gian khổ. Đã giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với thể chế chính trị.Từ năm 1986 đến nay,thực hiện sự nghiệp đổi mới,đất nước ta đã đạt được những bước tiến quan trọng: Đảng ta đã từng bước bổ sung và cụ thể hoá thành các chủ trương chính sách đổi mới trên từng lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội.Tổ chức bộ máy được điều chỉnh về chức năng nhiệm vụ. Cơ quan hành chính chuyển chuyển từ cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang quản lý nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Đặc biệt đã có bước chuyển quan trọng trong việc tách chức năng quản lý sản xuất kinh doanh ra khỏi chức năng quản lý nhà nước về kinh tế. Đồng thời đã có sự chuyển biến kịp thời trong việc trong việc ban hành và sửa đổi các văn bản luật pháp quan trọng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng môi truờng xã hội cho các nhà đầu tư vào Việt Nam. Về cam kết của Chính phủ, đã có những dấu hiệu cho thấy Chính phủ mới cam kết mạnh mẽ hơn với cải cách hành chính nói chung và cải cách hành chính đối với doanh nghiệp nói riêng. Nhiều rào cản đối với doanh nghiệp đã bước đầu được dỡ bỏ, các doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh hơn và đặc biệt đang dấy lên một trào lưu khởi nghiệp được khuyến khích bởi Chính phủ. Nghĩa vụ thuế đối với doanh nghiệp đang được cải thiện dần theo hướng công khai, minh bạch và giảm gánh nặng. Việc hạ mức thuế thu nhập doanh nghiệp xuống còn 20% kể từ 01/01/2016 và 17% áp dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một minh chứng cho thấy một Chính phủ kiến tạo đang hình thành coi trọng sự phát triển của các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước. Bên cạnh đó, xu hướng Chính phủ không còn dành nhiều đặc quyền đặc lợi cho các doanh nghiêp nhà nước và quyết tâm đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước ở các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối là một dấu hiện tiến bộ trong tư duy quản lý kinh tế hiện đại theo hướng tôn trọng kinh tế thị trường. Những cam kết của Chính phủ đối với cộng đồng các doanh nghiệp nội địa cũng như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nhân tố được coi là sẽ tạo ra một cú huých mới cho sự tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Song vẫn còn nhiều hạn chế cần nhanh chóng được khắc phục đó là: Công tác xây dựng luật pháp còn chậm. Chưa đủ đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế-xã hội.chất lượngachats lượng các bản ban hành tuy đã được nâng lên,nhưng một số quy định còn chồng chéo,chưa đồng bộ,chưa phù hợp với thực tế,do đó đi chậm vào cuộc sống. Công tác cải cách hành chính ở nhiều nơi tiến hành còn chậm thiếu kiên quyết.Một bộ phân cán bộ công chức nhà nước bất cập về trình độ chuyên môn,năng lực. Phương pháp tổ chức phong cách hoạt động của nhiều tổ chức trong bộ máy nhà nước vẫn còn tình trạng quan liêu cán bộ,cán bộ của nhiều đoàn thể vẫn trong tình trạng viên chức hoá. Nạn tham nhũng trong hệ thống chính trị còn xảy ra. Vì vậy cân tiếp tục xây dung đổi mới và hoàn thiện thể chế chính trị nhăm khắc phục những yếu kém trên đây trở thành đòi hỏi bức thiết để thể chế chính trị góp phần tích cực nhất vào quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước,tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc,xã hội công bằng dân chủ văn minh theo định hướng XHCN. Hệ thống chính trị được nhận định sẽ tiếp tục ổn định. Những thay đổi trong việc tự nhận thức đường lối lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới cũng như những tín hiệu tích cực của việc kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng của đội ngũ lãnh đạo cấp cao trong Đảng và Chính phủ ít nhiều cho thấy niềm tin của cộng đồng và dân chúng tiếp tục được củng cố. Hơn nữa, những chính sách hội nhập và quyết tâm theo đuổi nền kinh tế thị trường với sự khuyến khích sự phát triển của kinh tế tư nhân sẽ là một trong những nhân tố tạo sự ổn định tâm lý đầu tư và ý chí làm giàu chính đáng, nhờ đó mà trật tự xã hội, an ninh chính trị sẽ được hưởng lợi và hy vọng vào sự ổn định của hệ thống chính trị là hoàn toàn có cơ sở. Một trong những nhân tố đảm bảo sự tăng trưởng bền vững đã được nêu trên là chính sách hội nhập nhất quán vào nền kinh tế thế giới. Tất nhiên, hội nhập không phải không có giá phải trả song xét về tác động cuối cùng, hội nhập kinh tế sâu rộng mang lại nhiều lợi ích hơn là thiệt hại, nhất là đối với các nước đang phát triển. Việt Nam bắt đầu tham gia hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới kể từ khi chính thức tham gia vào WTO (2007), nhờ đó có điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu ở hầu hết các khu vực. Năm 2015 đánh dấu một bước phát triển mới đẩy tiến trình hội nhập lên một tầm mức cao hơn bằng việc ký kết hàng loạt các hiệp định kinh tế thế hệ mới. Điển hình là các Hiệp định hợp tác Việt Nam - EU, Hiệp định Thương mại Tự do khu vực ASEAN và Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA)… Đây là những hiệp định được coi là sẽ tạo sự bứt phá mạnh trong tăng trưởng của kinh tế Việt Nam nếu như những lợi thế được tận dụng triệt để. Theo đánh giá của các chuyên gia và các tổ chức quốc tế, AEC có thể mang lại cho Việt Nam xấp xỉ 3 điểm % tăng trưởng nhờ tác động gộp của tự do hóa thuế quan, tự do hóa thương mại và tự do hóa dịch vụ (Itakura, 2013). Trong khi tác động tăng trưởng của việc tham gia RCEP và VN-EU được dự báo là 10,5; 5 và 2 điểm phần trăm. Một nghiên cứu khác của Viện Kinh tế và Chính sách - Đại học Kinh tế - ĐHQGHN cho thấy, hậu AEC, Việt Nam là nước thu lợi lớn nhất dưới góc độ ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng GDP và đầu tư, xuất khẩu nhập khẩu đặc biệt trong một số ngành như may mặc, giày da (VERP, 2015). Con số đóng góp cụ thể vào tăng trưởng có thể còn gây tranh cãi, tuy nhiên, tác động tích cực vào tăng trưởng của Việt Nam khi tham gia hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới đều được khẳng định qua các kết quả nghiên cứu định tính và định lượng. – Cơ cấu dân tộc và tôn giáo Trong cộng đồng quốc gia, có các tộc người khác nhau cùng sống, các tộc người có thể khác nhau về chủng tộc (sắc tộc, bộ tộc), khác nhau về khu vực sinh sống (miền núi, đồng bằng, trung du) và với quy mô khác nhau so với tổng dân số quốc gia (thiểu số, đa số..). Do có những điều kiện sông khác nhau về trình độ tiến bộ văn minh, về mức sống vật chất, về mức sống vật chất, về vị trí địa lý và địa vị chính trị – xã hội trong cộng đồng. Vấn đề tôn giáo đi liền với vấn đề dân tộc, mỗi tộc người đều theo một tôn giao. Trong một quốc gia có nhiều tôn giáo. Các dân tộc ít người ít tiếp xúc với thế giới hiện đại thường tôn thờ các thần linh tuỳ theo quan niệm. Mỗi tôn giáo còn chia ra làm nhiều giáo phái. Ngoài ra còn có nhiều đạo giáo riêng mà chỉ có một số dân tộc tôn thờ. Hệ thống dân tộc VN trải dài tự bắc vào nam có 54 dân tộc anh em:TháI,kinh,tày …. Đa phần các dân tộc từ xưa đến nay đều có nền kinh tế là nông nghiệp,thủ công săn bắn…là những nền kinh tế nhỏ đơn giản. Sự phát triển đi lên của nền kinh tế đất nước ngoài sự đẩy mạnh phát triên kế hoạch kinh tế thì việc nâng cao đời sống nhân dân cũng rất quan trọng,sự thay đổi kinh tế cho ngưòi dân ơ các dân tộc có thể nói là khá khó khăn.Các dân tộc rải rác sống nhỏ lẻ ở các vùng đã là một khó khăn lớn.Tuy nhiên về mặt đời sống tinh thần sự khác biệt về tôn giáo cũng là một thách thức lớn. Hiện nay Việt Nam với nền chính trị ổn định sự giao thương mậu dịch tự do mở cửa nhà nước cũng mở cửa tự do phát triển tín ngưỡng tôn giáo.Theo số lượng điều tra người ta thấy trên Việt Nam có rất nhiều dòng tôn giáo khác nhau được du nhập vào Việt Nam.Đâu tiên là sự hiện diện của 3 tôn giáo lớn (tam giáo) là:Đạo giáo,Phật giáo,Khổng giáo. Với số lượng khác nhau các tôn giáo này cùng nhau phát triển và tạo ra một bức tranh tôn giáo đa màu sẵc.Tuy nhiên các tôn giáo này vẫn nằm trong sự kiểm soát của pháp luật VN vì một sự phát triển bền vững ổn định.Nên kinh tế phát triển với xu thế hội nhập.Để không bị tụt lại các tôn giáo ở Việt Nam cũng đã thay đổi phát triển sự tham gia vào kinh tế của các tôn giáo cũng đã có những bước nhất định. – Sự tham gia của cộng đồng Dân chủ và phát triển là hai vấn đề có tác dụng tương hỗ lẫn nhau. Sự phát triển là điều kiện làm tăng thêm năng lực thực hiện quyền dân chủ của cộng đồng dân cư trong xã hội. Ngược lại, về phía mình sự tham gia của cộng đồng là nhân tố bảo đảm tính chất bền vững và tính động lực nội tại cho phát triển kinh tế, xã hội. Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã từng bước đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động.Nhiều nội dung và đoàn thể được hợp pháp theo nhu cầu,lợi ích và nguyện vọng của đời sống nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Trong khi mở rộng các hình thức tập hợp quần chúng trên nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân là liên kết giai cấp công nhân,giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức thì việc đa dạng hoá các hình thức tập hợp quần chúng nhằm mở rộng Mặt trận tổ quốc Việt Nam mới góp phần tích cực vào sự ổn định chính trịxã hội,vào tăng trưởng kinh tế theo đúng định hướng XHCN và quyền làm chủ của nhân dân. Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Bản chất của ngân sách nhà nước: - Xét về phương diện pháp lý: Ngân sách nhà nước là một đạo luật dự trù các khoản thu, chi bằng tiền của nhà nước trong một thời gian nhất định, thường là một năm do cơ quan lập pháp của quốc gia ban hành. - Xét về bản chất kinh tế: Ngân sách nhà nước là tập hợp các mối quan hệ trong phân phối, gắn liền với việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung. - Về tính chất xã hội: Ngân sách nhà nước là công cụ kinh tế của nhà nước, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. gân sách nhà nước là dự toán thu, chi bằng tiền của nhà nước, được thực hiện trong thời gian một năm, và là một trong những công cụ tài chính quan trọng mà nhà nước sử dụng để phân phối thu nhập quốc dân. Cân đối NSNN mang nét đặc trưng là cân đối về mặt giá trị hay cân đối thực chất là một hình thức phản ánh tương quan giữa nguồn và sự dụng của quỹ ngân sách nhà nước. Nó phản ánh mối quan hệ tương tác giữa thu và chi ngân sách nhà nước trong năm ngân sách nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế XH mà nhà nước đã đề ra ở tầm vĩ mô cũng như trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể. Nó vừa là công cụ thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước, vừa bị ảnh hưởng bởi các chỉ tiêu kinh tế- xã hội. Cân đối ngân sách nhà nước không phải là để thu chi cân đối hoặc chỉ là cân đối đơn thuần về mặt lượng, mà cân đối ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược kinh tế- xã hội của Nhà nước đồng thời các chỉ tiêu kinh tế- xã hội này cũng quyết định sự hình thành về thu, chi ngân sách nhà nước. Mối tương quan giữa thu NSNN và chi NSNN được biểu hiện qua 3 trạng thái: Gọi B là hiệu số giữa thu và chi ngân sách, ta có B= T - G - Cân bằng ngân sách nhà nước khi tổng thu ngân sách nhà nước bằng tổng chi ngân sách nhà nước T=G - Thặng dư ngân sách nhà nước khi tổng thu ngân sách nhà nước lớn hơn tổng chi ngân sách nhà nước. T-G>0 - Bội chi hay thâm hụt ngân sách nhà nước khi tổng thu ngân sách nhà nước ít hơn tổng chi ngân sách nhà nước T-G<0 . Các học thuyết về cân đối NSNN: a. Học thuyết cổ điển về cân bằng NSNN: Nhà nước chỉ được phép chi tiêu trong phạm vi số thu thuế Số thu thuế cũng không được lớn hơn số chi của NSNN b. Học thuyết hiện đại về cân đối NSNN: Thuyết cân đối theo chu kỳ: mỗi chu kỳ nền kinh tế gồm 3 giai đoạn: phồn thịnh – khủng hoảng - suy thoái Giai đoạn phồn thịnh: thu > chi Giai đoạn khủng hoảng – suy thoái: thu < chi Cân bằng NS trong một chu kỳ… Lý thuyết về ngân sách cố ý thâm hụt: áp dụng trong giai đoạn nền kinh tế suy thoái.Việc thúc đẩy những hoạt động của nền kinh tế đang đình trệ sẽ làm nhẹ gánh nặng của NSNN đối với khoản chi trợ cấp thất nghiệp Chính sách cố ý tạo ra sự mất cân đối của NSNN, xét cho cùng chỉ là một việc làm trước hạn, căn cứ vào những việc chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai Thuyết hạn chế tiêu dùng trong thời chiến: nhà nước cần tài chính phục vụ cho chiến ranh; người dân không chi xài hết thu nhập khả dụng  nhà nước có thể thu vào một phần số tiền mà mình chi ra thông qua thuế, phát hành công trái. Về mặt tiêu cực, tác động của thâm hụt NSNN thể hiện ở các mặt sau: - Việc gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ có thể dẫn đến giảm tiết kiệm nội địa, giảm đầu tư tư nhân, hay gia tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai, giảm tăng trưởng trong dài hạn. - Thâm hụt ngân sách góp phần làm tăng vay mượn, từ đó làm tăng lãi suất thực do cầu về vốn vay của chính phủ để tài trợ cho chi tiếu. Điều này làm cho các dòng vốn đổ vào do chênh lệch lãi suất làm cho cầu về đồng ngoại tệ sẽ tăng lên, tạo ra áp lực làm cho giá đồng nội tệ lên giá so với các ngoại tệ khác. - Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài còn làm xói mòn niềm tin đối với năng lực điều hành vĩ mô của chính phủ. Nó cũng làm tăng mức lạm phát kỳ vọng của người dân và của các nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ trước sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt. - Thâm hụt ngân sách cao và lâu dài tất yếu dẫn tới việc nhà nước buộc phải phát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt, và điều này đến lượt nó dẫn tới lạm phát Nguyên nhân phải cân đối ngân sách nhà nước trong hoạt động ngân sách nhà nước: thứ nhất, nguyên nhân đầu tiên của việc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước chính là xuất phát từ việc đảm bảo cho các mục tiêu kinh tế- xã hội của đất nước được thực hiện đến cùng. Nếu ngân sách nhà nước luôn ở trong tình trạng bội chi thì sẽ dẫn đến tình trạng không có đủ ngân sách nhà nước để chi cho các dự án, các hoạt động cần thiết dẫn đến không thể hoàn thành các mục tiêu kinh tế-xã hội, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của nền kinh tế-xã hội. Thứ hai, việc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước còn bắt nguồn từ chủ trương ổn định hệ thống chính sách tài khóa tiến tới ổn định việc tiến hành những công việc đã đề ra theo kế hoạch. Như vậy, việc ổn định nguồn ngân sách sẽ là điều kiện cho việc tiến hành công việc cụ thể được triệt để, giúp cho nguồn ngân sách không bị xáo trộn do những nguồn thu đáp ứng đủ nhiệm vụ chi. Thứ ba, có thể đảm bảo có một nguồn dự trữ ngân sách nhà nước để chi trong những trường hợp phát sinh chi đột biến hoặc để chi cho những mục đích quan trọng khác. Thứ tư, việc cân đối ngân sách nhà nước còn là một giải pháp kiểm soát, phòng tránh việc lạm quyền, lợi dụng quyền để tham nhũng, bòn rút ngân sách nhà nước. Thứ năm, cân đối ngân sách nhà nước góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Nhà nước thực hiện cân đối ngân sách nhà nước thông qua chính sách thuế, chính sách chi tiêu hàng năm và quyết định mức bội chi cụ thể nên có nhiều tác động đến hoạt động kinh tế cũng như cán cân thương mại quốc tế. Từ đó góp phần ổn định việc thực các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô. Thứ sáu, Cân đối ngân sách nhà nước góp phần phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính có hiệu quả, để đảm bảo được vai trò này ngay từ khi lập dự toán Nhà nước đã lựa chọn trình tự ưu tiên hợp lý trong phân bổ ngân sách nhà nước và sự gắn kết chặt chẽ giữa chiến lược phát triển kinh tế- xã hội với công tác lập kế hoạch ngân sách. Trong phân cấp quản lý ngân sách, nếu cân đối ngân sách nhà nước phân định nguồn thu một cách hợp lý giữa trung ương với địa phương vàgiữa các địa phương với nhau thì sẽ đảm bảo thực hiện được các mục tiêu kinh tế- xã hội đã đề ra. Điều này cũng góp phần bảo đảm công bằng xã hội, giảm thiểu sự bất bình đẳng giữa người dân và các vùng miền. Nhà nước có thể huy động nguồn lực từ những người có thu nhập cao, những vùng có kinh tế phát triển để hổ trợ, giúp đỡ những người nghèo có thu nhập thấp và những vùng kinh tế kém phát triển. Bên cạnh đó, cân đối ngân sách nhà nước góp phần phát huy lợi thế của từng địa phương, tạo nên thế mạnh kinh tế cho địa phương đó dựa trên tiềm năng có sẳn của địa phương. Trong thực tế, cân đối thu chi NSNN chỉ mang tính tương đối vì ngân sách nhà nước luôn trong tình trạng vận động, các khoản thu chi chịu tác động từ nhiều yếu tố kinh tế xã hội… khiến cho NSNN có thể rơi vào trường hợp cân đôi hoặc mất cân đối, đòi hỏi Nhà nước phải điều chỉnh hoạt động thu, chi cho phù hợp. Bên cạnh việc cân đối NSNN, vấn đề đặt ra là cần phải quản lý các nguồn thu và chi sao cho ngân sách không bị thâm hụt quá lớn và kéo dài, bảo đảm nguồn lực tài chính để các cấp ngân sách nhà nước hoàn thành tốt các nhiệm vụ của mình trên các lĩnh vực kinh tế xã hội. Tuy vậy trong nhiều nước đặc biệt là các nước đang phát triển, các chính phủ vẫn theo đuổi một chính sách tài khóa thận trọng, trong đó chi ngân sách phải nằm trong khuôn khổ các nguồn thu ngân sách
- Xem thêm -