Tài liệu Phân tích bài thái phó tô hiến thành

  • Số trang: 5 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 167 |
  • Lượt tải: 0
vndoc

Đã đăng 7399 tài liệu

Mô tả:

Phân tích bài Thái phó Tô Hiến Thành Sách giáo khoa Ngữ văn 10 Đề bài: Phân tích bài Thái phó Tô Hiến Thành trích Đại Việt sử lược. Bài Thái phó Tô Hiến Thành được trích từ bộ sách Đại Việt sử lược, một di sản quý báu của nền văn hóa dân tộc có giá trị về nhiều mặt. Đại Việt sử lược bị thất truyền từ lâu nên chưa tìm ra tác giả. Tác phẩm được in lần đầu tiên ở Trung Hoa thời Càn Long, thế kỉ XVIII. Đoạn trích chủ yếu nói về Tô Hiến Thành – một đại thần của triều đinh nhà Lí có tài năng và nhân cách hơn người. Điều đó thể hiện qua hai sự kiện trọng đại có ảnh hưởng quan trọng đến các bước đi của lịch sử nước ta thời đó: việc lập vua theo di chiếu và chọn người thay mình giữ chức Tể tướng là chức đứng đầu bá quan văn võ kiêm chức Thái uý, thống lĩnh quân đội. Hai sự kiện xảy ra ở hai thời điểm khác nhau (năm 1175 và năm 1179). Ở sự kiện thứ nhất, tác giả khắc họa tính cách Tô Hiến Thành bằng việc kết hợp giữa lời nói và việc làm của ông. Ở sự kiện thứ hai, tác giả chủ yếu kể về những lời nói của ông trước khi mất. Người viết sử đã lựa chọn những tình tiết tiêu biểu trong cuộc đời Tô Hiến Thành để vừa làm nổi bật được nhân cách cao quý của ông vừa thể hiện được sự phức tạp của nội bộ triều đình đương thời. Thông qua đó khẳng định: xã hội yên ổn được phần lớn là nhờ vào các bậc đại thần thanh liêm chính trực, một lòng vì dân vì nước, uy vũ không thể khuất phục, danh lợi không thể làm đổi thay như Tô Hiến Thành. Ở sự kiện thứ nhất, nhân cách của Tô Hiến Thành được thể hiện trong hoàn cảnh triều chính có nhiều vấn đề phức tạp xảy ra. Nguyên trước đây, hoàng tử Long Sưởng đã được vua cha lập làm Thái tử, sau này sẽ nối ngôi nhưng vì có lỗi nên bị truất quyền, giáng xuống làm Bảo Quốc Vương. Đại Việt sử lược viết: “Sưởng tính háo sắc, trong cung có cung nữ nào được sủng ái, Sưởng đều tư thông. Anh Tông rất ghét y vô lễ. Nguyên phi Từ Thị được vua yêu, bà hậu bèn xúi Sưởng ngầm chuyện tư tình để Anh Tông ngờ vực, hòng làm Từ Thị bị lạnh nhạt. Từ Thị đem hết hành trang của Sưởng bạch với Anh Tông, vì thế… mà phế đi”. Năm 1175, vua Lí Anh Tông mất, thế tử Long Cán lên ngôi khi mới hai tuổi, sau này lấy tên hiệu là vua Lí Cao Tông. Theo di chúc của vua cha Lí Anh Tông, Tô Hiến Thành đang là Tể tướng phải đứng ra phụ chính cho ấu chúa. Nhằm giữ vững quyền lực, Thái hậu Đỗ Thụy Châu có ý muốn lập Long Sưởng – anh của Long Cán lên ngôi. Những mâu thuẫn gay gắt bắt đầu nảy sinh từ đó. Nhưng chính sự phức tạp ấy của triều đình đã làm nổi bật lòng trung thành tuyệt đối và nhân cách cứng cỏi của Tô Hiến Thành. Bởi vì, phế lập vua là việc hệ trọng, không chỉ liên quan đến sự tồn vong của riêng triều đại đó, mà còn liên quan đến sự an nguy của đất nước. Vậy là xung quanh việc phế lập Long Cán đã diễn ra cuộc đối đầu căng thẳng giữa một bên là Tô Hiến Thành và một bên là Thái hậu. Thái hậu có nhiều tham vọng. Bà đã dùng mọi thủ đoạn từ dụ dỗ, mua chuộc đến thách thức, dọa nạt để ép Tô Hiến Thành buộc phải làm theo ý bà, thực hiện một việc trái với đạo lí quân thần, trái với di chúc của Tiên đế. Cách ứng xử của Tô Hiến Thành đã thể hiện được bản lĩnh vững vàng của một bậc đại thần và nhân cách trong sáng của một nhà Nho. Thái hậu biết rõ vai trò quyết định của Tô Hiến Thành trong việc phế lập Long Cán, vì vậy bà ta tiến hành từng bước để lôi kéo vị quan thanh liêm vể phía mình. Tô Hiến Thành cũng từng bước khôn khéo, thông minh, dần dần đánh bại âm mưu của Thái hậu. Trước hết, Thái hậu dùng lụa vàng hối lộ vợ Tô Hiến Thành để nhờ bà thuyết phục chồng. Việc làm này khá tinh vi vì thường tình, chồng hay nể vợ, nên dễ chấp nhận lời cầu xin của vợ. Tô Hiến Thành đã dùng đạo lí làm người và trách nhiệm Tể tướng của mình để giải thích cho bà vợ hiểu là không nên như vậy: Ta ở ngôi Tể tướng, nhận lời cố thác của Tiên vương để phò âu chúa. Nay nhận đồ hối lộ của người mà mưu phế lập, thiên hạ. sẽ nói ta như thế nào? Giá như mọi người đều là kẻ bưng tai bịt mắt không biết, thì ta biết dùng lời lẽ nào để trả lời Tiên vương ở dưới suối vàng? Tiếp theo, Thái hậu dùng miếng mồi danh vọng và phú quý để trực tiếp dụ dỗ Tô Hiến Thành. Lời của Thái hậu vừa có vẻ ca ngợi ông, vừa đánh trúng tâm lí của người lớn tuổi: Ông đối với nước nhà, có thể gọi là trung đấy! Song, tuổi ông đã xế chiều mà thờ ấu chúa thì việc làm của ông ai người biết đến? Chi bằng, lập vua đã trưởng thành thì người đó sẽ đem ơn đức mà ban cho ông giữ được phú quý lâu dài, há chẳng nên ư? Tô Hiến Thành dùng ngay lời dạy về đạo lí làm người của Khổng Tử và cách đối xử với người quá cố trong truyền thống dân tộc để bác bỏ lời dụ dỗ ấy: Bất nghĩa mà được phú và quý, đó không phải là điều người trung thần nghĩa sĩ vui làm. Huống chi, lời di chúc của Tiên Vương còn ở bên tai. Đối với công luận sẽ như thế nào? Thần không dám vâng lời. Cuối cùng, Thái hậu bất chấp pháp luật, liều lĩnh triệu Bảo Quốc Vương Long Sưởng vào để tự lập làm vua. Nếu Tô Hiến Thành cả nể hoặc sợ hãi không giữ nghiêm phép nước thì Thái hậu đã thành công. Nhưng ông đã kiên quyết dùng pháp luật để trị kẻ không tuân theo pháp luật. Trước hết, ông dùng lí lẽ nhắc nhở lòng trung nghĩa của các quan trong triều, để họ cùng ông chặn đứng tham vọng và hành động vô đạo của mẹ con Thái hậu. Lời ông nói vừa có lí, vừa có tình: Tiên Vương thấy tôi với các ngài gắng hết sức vì vương thất, không ăn ở hai lòng, nên đem ấu chúa mà phó thác. Nay Bảo Quốc vương dùng lệnh của Thái hậu, nói rằng phế chúa thượng mà tự lập. Các ngài phải tận lòng trung, đem hết sức mình, nghe lời ta. Kẻ vâng lời ta, được thưởng lâu dài, kẻ trải mệnh ta sẽ bị giết phơi ngoài chợ. Các ngài nên gắng sức. Tô Hiến Thành đã chặn đứng mọi ý định phản nghịch, đồng thời thức tỉnh ý thức trách nhiệm trong hàng ngũ quan lại. Vì vậy, âm mưu của Thái hậu đã bị ngăn chặn, sơn hà xã tắc tránh được một phen điên đảo. Qua những lời nói và việc làm trên, ta thấy rõ phẩm chất cao quý của Tô Hiến Thành: hiền đức, cương trung, giữ nghiêm kỉ cương phép nước. Đó là phẩm chất của bậc chính nhân quân tử: “Phú quý bất năng dâm; uy vũ bất năng khuất”. (Giàu sang không làm cho chìm đắm; uy quyền, vũ lực không làm cho khuất phục), ông bình tĩnh, sáng suốt đánh bại âm mưu phế lập của Thái hậu mà vẫn giữ được hòa khí, không gây đổ máu, dân chúng vẫn được sống trong cảnh yên bình. Tô Hiến Thành đã giữ đúng đạo quân thần là: “trung quân ái quốc”. Không chỉ trung nghĩa, Tô Hiến Thành còn là người không ham tư lợi, không vì lợi ích riêng mà quên lợi ích dân tộc. Cách ứng xử của ông đối với âm mưu phế lập của Thái hậu đã thể hiện lòng trung nghĩa tuyệt vời. Người viết sử đã kể, chuyện Tô Hiến Thành chọn người thay thế mình bằng những chi tiết chọn lọc đặc sắc. Về lí, chức Tham tri chính sự to hơn chức Gián nghị đại phu, nghĩa là Vũ Tán Đường chức cao hơn Trần Trung Tá. Về tình, Vũ Tán Đường gần gũi, gắn bó và có ân tình với Tô Hiến Thành hơn Trần Trung Tá: khi Tô Hiến Thành ngã bệnh, chỉ có Tham tri chính sự Vũ Tán Đường ngày đêm hầu hạ bên cạnh. Quan Gián nghị đại phu Trần Trung Tá bận bịu nhiều việc, không lúc nào rảnh rang để đến thăm. Thái hậu hỏi: Nếu có mệnh hệ nào, ai thay ông? Thông thường, về tình cũng như về lí, ai cũng nghĩ rằng Tô Hiến Thành sẽ tiến cử Vũ Tán Đường. Nhưng thật bất ngờ, Tô Hiến Thành trả lời ngay: Chỉ có Trần Trung Tá mà thôi. Câu nói ấy thật sự gây ngạc nhiên cho Thái hậu. Thái hậu nhắc đến ân tình và sự gắn bó của Vũ Tán Đường đối với Tô Hiến Thành. Người đọc sẽ nghĩ rằng Tô Hiến Thành hoặc ngả theo Thái hậu, hoặc giải thích Vũ Tán Đường không đủ năng lực làm Tể tướng. Nhưng không, ông đã đáp lại bằng một câu bất ngờ: Thái hậu hỏi người thay thần, nên thần nói tới Trung Tá; nếu hỏi người hầu hạ phụng dưỡng thần thì phi Tán Đường còn ai nữa? Tiếng cười bật ra từ nghịch lí: chọn người thay chức Tể tướng kiêm Thái uý hay chọn người hầu hạ phụng dưỡng Tể tướng kiêm Thái úy? Lúc này, Tô Hiến Thành đang ốm nặng. Thường thì trước khi qua đời, về mặt tâm lí người ta dễ bỏ qua mọi việc, chấp nhận cho xong để được yên thân. Nhưng qua cách trả lời của Tô Hiến Thành, ta thấy ông vẫn rất sáng suốt, thậm chí còn hóm hỉnh và đầy trách nhiệm đối với đất nước cho đến hơi thở cuối cùng. Thông qua đoạn đối thoại ngắn gọn giữa hai nhân vật Thái hậu và Tô Hiến Thành, tác giả đưa ra một cảnh huống có thật với kết quả ngược lại lôgích thông thường của người đời. Từ đó, khẳng định phẩm chất chính trực đặc biệt của Tô Hiến Thành bằng tiếng cười thán phục. Là một quan chức trụ cột của triều đình, Tô Hiến Thành biết đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, ông làm việc bằng lí lẽ chứ không vì tình cảm riêng tư. Chọn được người gánh vác công việc nặng nề của đất nước, đó là tinh thần trách nhiệm của một vị đại thần. Song rất tiếc, Đỗ Thái hậu lại là người có quan niệm đối lập với Tô Hiến Thành. Bà ta đã đặt quyền lợi quốc gia xuống dưới quyền lợi gia đình và quyền lợi bản thân nên đã chọn Đỗ An Thuận, em trai của bà lên làm Phụ chính sau khi Tô Hiến Thành mất. Hai cách ứng xử khác nhau ấy càng làm nổi bật lên nhân cách cao đẹp của Tô Hiến Thành, đồng thời người viết sử đã phản ánh được hiện thực phức tạp của đất nước dưới triều đại cuối cùng của nhà Lí. Trong khi những người như Tô Hiến Thành mang hết tâm sức để giữ gìn sự yên bình cho xã tắc, thì những người như Đỗ Thái hậu lại luôn tìm cách tranh thủ mọi cơ hội, dùng mọi âm mưu đen tối để thực hiện tham vọng của mình, dù tham vọng ấy có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho non sông xã tắc. Với lối kể chuyện chân thực, hấp dẫn, tác giả Đại Việt sử lược đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người viết sử, ghi lại được những sự kiện lịch sử trọng đại liên quan đến vận mệnh của dân tộc một cách trung thực, không dùng hư cấu, tưởng tượng. Song, cái tài của tác giả là ghi chép lại sự kiện ấy một cách sinh động và qua đó làm nổi bật nhân cách lớn lao của Tô Hiến Thành; đồng thời biểu lộ thái độ khen chê, yêu ghét của mình một cách rõ ràng. Ngày nay, khi đọc các tác phẩm sử học như trên, những thế hệ sau không chỉ tìm được ở đó tri thức về lịch sử mà còn cả những bài học quý báu về lẽ sống và kinh nghiệm sống.
- Xem thêm -