Tài liệu Phản biện chính sách công ở việt nam từ thực tiễn các tỉnh miền trung, tây nguyên tt

  • Số trang: 27 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 503 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA CAO TIẾN SỸ PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN CÁC TỈNH MIỀN TRUNG, TÂY NGUYÊN Chuyên ngành : Quản lý hành chính công Mã số : 62 34 82 01 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG HÀ NỘI - 2019 Công trình được hoàn thành tại Học viện Hành chính Quốc gia Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Nguyễn Hữu Hải 2. TS. Trần Trọng Đức Phản biện 1: Phản biện 2: Phản biện 3: Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Hành chính Quốc gia - 77 Nguyễn Chí Thanh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2019 Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia và Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Chính sách công là công cụ định hướng quá trình phát triển kinh tế, xã hội của nhà nước; hệ thống chính sách của một quốc gia có hợp lý hay không sẽ quyết định đến sự phát triển hay suy thoái của cả nền kinh tế hoặc của từng vùng, từng địa phương. Hoạt động xây dựng và thực thi chính sách công ở nước ta những năm qua còn những hạn chế như: xác định mục tiêu, biện pháp chính sách chưa sâu sát với tình hình thực tiễn; việc huy động trí tuệ, nguồn lực xã hội vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách chưa cao, nhất là việc thu hút trí tuệ, nguồn lực của nhân dân vào hoạch định, thực thi chính sách còn chưa được coi trọng. Những bất cập này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả của các chính sách công cũng như các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế trên trên là hoạt động phản biện xã hội (PBXH) đối với quá trình xây dựng và thực thi chính sách của các cấp chính quyền chưa được đặt đúng tầm mức; thiếu cơ chế, biện pháp thích hợp để tạo nên sự thống nhất cao trong xã hội. Hoạt động phản biện chính sách còn bó hẹp trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị, thiếu sự tham gia tích cực của người dân. Thực tế cho thấy những chính sách nào có sự tham vấn, PBXH rộng rãi, công khai, dân chủ đều tạo được sự đồng thuận và mang tính khả thi cao. Phản biện chính sách công (PBCSC) là hoạt động PBXH của công dân và tổ chức xã hội dân sự (XHDS) đối với toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách công của nhà nước, từ bước khởi sự đến quy phạm hóa chính sách thành văn bản pháp lý, tổ chức thực hiện, đánh giá và kết thúc chu trình chính sách. Thực hiện phản biện đối với quá trình hoạch định và thực thi chính sách công sẽ nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của nền hành chính, hạn chế ý chí chủ quan, lợi ích nhóm trong hoạch định chính sách. Đồng thời, tạo nên sự đồng thuận xã hội về mục tiêu, biện pháp thực thi và chuẩn bị về tư tưởng, dư luận xã hội ủng hộ cho việc triển khai chính sách. Giúp phát hiện những điểm mù chính sách và là căn cứ thực tiễn để đo lường, đánh giá chính sách. Không thể có chính sách tốt nếu thiếu sự tham gia phản biện tích cực và hiệu quả của người dân trong toàn bộ quá trình chính sách. Tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước theo hướng trong sạch, vững mạnh, hiệu lực và hiệu quả nhằm mục tiêu xây dựng nền hành chính công thực sự của dân, do dân và vì dân, tất yếu dẫn đến việc mở rộng sự tham gia PBCSC của nhân dân. 1 Nghiên cứu về PBCSC ở nước ta còn khá mới mẻ, kết quả nghiên cứu còn hết sức khiêm tốn và cũng chỉ tập trung trên một vài khía cạnh, phương diện nhất định. Thực tiễn xây dựng, thực thi chính sách công ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu về PBCSC nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng, thực thi và quản lý, đổi mới chính sách công. Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài nghiên cứu "Phản biện chính sách công từ thực tiễn các tỉnh Miền trung, Tây nguyên" cho luận án khoa học của mình với mong muốn đóng góp thêm về lý luận và thực tiễn cho hoạt động PBCSC ở Việt Nam. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích Mục đích của đề tài luận án là luận giải một cách khoa học về PBCSC; đánh giá thực trạng PBCSC ở nước ta; đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới phương thức PBCSC hiện nay nhằm nâng cao chất lượng PBCSC ở Việt Nam. Qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng và thực thi chính sách trong hoạt động quản lý hành chính công ở nước ta. 2.2. Nhiệm vụ Khái quát tình hình nghiên cứu về PBCSC trong và ngoài nước, từ đó chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong đề tài luận án. Hệ thống hóa lý luận về PBCSC, bổ sung lý luận cho hoạt động PBCSC ở nước ta. Phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn về hoạt động PBCSC ở Việt Nam nói chung, các tỉnh thuộc Miền trung, Tây Nguyên nói riêng để tìm kiếm những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng phản biện chính sách ở nước ta. Đề xuất đổi mới quy trình PBCSC và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động phản biện chính sách ở nước ta trong thời gian tới. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án được xác định là hoạt động PBCSC của các chủ thể: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật (KH&KT) Việt Nam (VUSTA) tại một số tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên; Hoạt động PBCSC của người dân trong khu vực. 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nội dung nghiên cứu Nghiên cứu về nội dung, hình thức, phương pháp và các điều kiện đảm bảo cho hoạt động PBCSC, cụ thể: Nghiên cứu các lý thuyết, tư tưởng, mô hình PBCSC trên thế giới, hoạt động PBCSC tại một số quốc gia tiêu biểu. 2 Nghiên cứu nội dung hoạt động PBCSC ở Việt Nam, bao gồm: Hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về chính sách công và PBCSC. Quy định pháp luật Việt Nam về PBXH, PBCSC. Nghiên cứu về chủ thể, quy trình, phương thức tổ chức PBCSC hiện nay. - Phạm vi không gian Ngoài nước: Nghiên cứu hoạt động PBCSC của các quốc gia Hoa Kỳ, Canada, Vương quốc Anh, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore. Trong nước: Nghiên cứu hoạt động PBCSC của MTTQVN, VUSTA và người dân tại 06 tỉnh thuộc khu vực Miền trung, Tây Nguyên (trong đó: 2 tỉnh Tây Nguyên là Kon Tum và Gia Lai; 4 tỉnh, thành phố miền trung là Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên và Bình Định). Nghiên cứu xã hội học hoạt động tham vấn, phản biện chính sách của người dân tại 6 địa phương trên. - Phạm vi thời gian Các hoạt động PBCSC trong nước từ năm 2010 đến nay. 4. Phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận Đề tài dựa trên phương phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; căn cứ vào nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. 4.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể Sử dụng phương pháp thống kê để tập hợp, phân loại thông tin, tư liệu về hoạt động PBCSC ở nước ngoài và trong nước để hình thành các tài liệu sơ cấp của luận án. Sử dụng 600 phiếu điều tra xã hội học để thu thập số liệu, thông tin tại 06 địa bàn nghiên cứu. Dùng phần mềm SPSS để thống kê, phân loại, hệ thống hóa, xử lý số liệu thu thập được. Sử dụng phương pháp so sánh, phân tích định tính và định lượng để nghiên cứu bản chất vấn đề, hình thành các tài liệu thứ cấp. Dựa trên các kết quả này, dùng công cụ phân tích PEST đánh giá thực trạng, công cụ phân tích SWOT để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu trong hoạt động PBCSC ở Việt Nam, tổng hợp hóa và rút ra các kết luận, kiểm định lý thuyết. Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa, mô hình hóa để nhận diện, xác lập chủ thể, mô hình, cơ chế PBCSC tại Việt Nam và phát hiện lý luận. 5. Giả thuyết khoa học của luận án Phản biện chính sách công ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế như: Khung pháp lý chưa đầy đủ và kém hiệu quả. Năng lực phản biện của các chủ thể, cơ chế hoạt động còn nhiều bất cập; cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin phản biện chính sách chưa được pháp lý hóa cụ thể, đồng bộ. Thiếu quy 3 trình PBCSC hợp lý, rõ ràng, có tính xã hội cao làm cơ sở huy động có hiệu quả sự tham gia của người dân vào hoạt động chính sách. Các điều kiện đảm bảo chất lượng, hiệu quả cho PBCSC chưa đáp ứng được yêu cầu. Từ thực tiễn trên, yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu thực trạng các vấn đề cơ bản của PBCSC: Cơ sở lý luận, khung pháp lý, năng lực chủ thể, hệ thống tổ chức và hoạt động; nội dung, hình thức, quy trình, phương pháp phản biện; các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện đảm bảo của PBCSC ở nước ta nhằm trả lời các câu hỏi: Tiền đề lý luận và thực tiễn của PBCSC ở Việt Nam là gì? Vai trò của nó trong xây dựng, thực thi chính sách công; trong việc xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ, trong sạch và hiện đại? Phản biện chính sách ở nước ta nên tổ chức như thế nào? Mô hình, quy trình, hình thức và phương pháp phản biện chính sách nào phù hợp với thực tiễn Việt Nam? Các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện đảm bảo? 6. Những đóng góp mới về khoa học của luận án Là công trình nghiên cứu chuyên sâu về PBCSC, luận án có những điểm mới sau: Hoàn thiện cơ sở lý luận về PBCSC: Luận chứng vai trò, ý nghĩa, tác dụng của PBCSC trong kiểm soát quyền lực nhà nước; thực hành quyền dân chủ của nhân dân trong xây dựng và thực thi chính sách công với tư cách là một hình thức tham gia công dân. Làm rõ đặc điểm, nội dung, hình thức, mô hình quy trình PBCSC ở Việt Nam. Đề xuất đổi mới quy trình phản biện chính sách, các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động PBCSC trong điều kiện hiện nay. Kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung cho hệ thống lý thuyết về PBCSC. Cung cấp những luận cứ thiết thực cho công tác tổ chức, quản lý hoạt động phản biện chính sách; công tác xây dựng và thực thi chính sách ở Việt Nam. Đây cũng là tài liệu tham khảo đối với các nhà nghiên cứu, giảng dạy, sinh viên của các cơ sở đào tạo về khoa học chính sách công và các chủ thể PBCSC trong xã hội. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phản biện chính sách công. Chương 2: Cơ sở lý luận về phản biện chính sách công. Chương 3: Thực trạng phản biện chính sách công tại các tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng phản biện chính sách công ở Việt Nam. 4 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG 1.1. Các công trình nghiên cứu về phản biện xã hội 1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Nghiên cứu sinh đã tiếp cận một số công trình nghiên cứu về tư duy phản biện, PBXH tiêu biểu như: "How We Think" (Chúng ta suy nghĩ như thế nào), John Dewey (1910); Các công trình: "The Subject and Power" (Chủ thể và quyền lực), "Discipline and Punish" (Kỷ luật và trừng phạt), "The Other" (Cái khác), Michel Foucault (1983); "Structure, Sign, and Play in The Discourse of the Human Sciences", Jacques Derrida (1978); "Critical theory and Public Life", John Forester (1987); "Critical Thinking: Its Definition and Assessment", Fisher, Alec and Scriven, Michael. (1997); "Critical Reasoning: Understanding and criticizing arguments and theories", Cederblom, J & Paulsen, D.W. (2006), 6th edn. (Belmont, CA, Thomson Wadsworth); "Critical Thinking as Dialectics: A Hegelian-Marxist Approach", Pavlidis, Periklis (2010), Journal for Critical Education Policy Studies.Vol.8(2); "Critical Thinking", Moore, Brooke Noel and Parker, Richard (2012), 10th ed... Điểm chung của các công trình nghiên cứu trên là đều xem tư duy phản biện (Reflective Thinking) là phương pháp nhận thức tự nguyện, có giá trị dân chủ cao nhất trong việc tìm kiếm sự thật, khẳng định chân lý và xây dựng niềm tin. Xem PBXH là thuộc tính của xã hội dân chủ, là một nguyên tắc chính trị thực hành được thực hiện rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bản chất của nó là việc áp dụng tư duy phê phán khoa học vào việc đánh giá các hoạt động của nhà nước và thể chế xã hội. PBXH cũng là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đồng thời là một nội dung quan trọng của hoạt động tham gia công dân và là phương pháp để quản lý các dòng tri thức xã hội, sử dụng hiệu quả trí tuệ tập thể của nhân dân vào phát triển xã hội. Là phương pháp chủ yếu để chuyển hóa hòa bình các mâu thuẫn, kiến tạo đồng thuận xã hội và là yếu tố cấu thành quan trọng của xây dựng, thực thi chính sách công, vận hành thể chế quản lý nhà nước. 1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước Các công trình nghiên cứu về PBXH đã được khảo sát như: "Phản biện xã hội", Trần Đăng Tuấn, Nxb Đà Nẵng (2006); Đề tài khoa học cấp nhà nước (2009): "Các hình thức và giải pháp thực hiện giám sát xã hội và phản biện xã hội đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị", Trần Hậu (chủ nhiệm đề tài); "Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay", Nguyễn Thọ Ánh (2010); "Phản biện xã hội", Nguyễn Trần Bạt, https://luatminhkhue.vn (22/2/2011); "Một số vấn đề về giám sát xã hội và phản biện xã hội", Hoàng Thị Ngân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9(269)/2010; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về phản biện xã hội", Hà Thị Thùy 5 Dương, Tạp chí Phát triển nhân lực, số 29 (3/2012); "Về vai trò giám sát xã hội và phản biện xã hội của báo chí Việt Nam", Đặng Thị Thu Hương, Tạp chí Cộng sản, số (846) (4/2013);"Tính phản biện của báo chí Việt Nam" Hoàng Thủy Chung, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2010); "Xã hội dân sự và mấy vấn đề của các tổ chức xã hội", Tương Lai, Tạp chí Khoa học pháp lý (Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh), số 41, (4/2007); "Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền", Hồ Bá Thâm, Nguyễn Tôn Thị Tường Vân đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (2010); "Quyền con người, quyền công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam", Trần Ngọc Đường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (2011); "Dân chủ trực tiếp ở Việt Nam", Nguyễn Văn Mạnh - Tào Thị Quyên, Nxb Chính trị - hành chính, (2010); "Hạn chế sự tùy tiện của cơ quan nhà nước", Nguyễn Đăng Dung, Nxb Tư Pháp (2010); "Báo chí giám sát, phản biện xã hội ở Việt Nam", Nguyễn Văn Dững (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, (2017)... Trần Đăng Tuấn cho rằng, PBXH là thuộc tính tự nhiên, là cơ chế tự cân bằng của xã hội. Thực hành PBXH một cách dân chủ sẽ làm giảm căng thẳng, xung đột xã hội, chuyển hóa mâu thuẫn, phát huy dân chủ và hạn chế sự chủ quan của các cơ quan nhà nước. PBXH có tổ chức sẽ giúp ích lớn cho ổn định và phát triển; ngược lại, tránh né PBXH sẽ dẫn đến kết quả là PBXH tự phát, đây là mảnh đất thuận lợi để hình thành tâm thế phản kháng xã hội. Nghiên cứu của Trần Hậu đề cập đến nhiều nội dung về PBXH như: quan niệm về PBXH, bản chất và vai trò của PBXH, các đặc trưng, nội dung và phương thức PBXH, xây dựng các phương án tổ chức PBXH đối với hoạt động của hệ thống chính trị nước ta. Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thọ Ánh cập đến hệ thống PBXH của các chủ thể ngoài nhà nước như: cử tri, các đảng chính trị, các nhóm lợi ích, báo chí. Lý giải về chức năng, nhiệm vụ PBXH của của MTTQVN và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực, hiệu quả hoạt động PBXH của MTTQVN. Qua đó, đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng PBXH của MTTQVN. Nhìn chung các công trình nghiên cứu về PBXH đều nhấn mạnh ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của PBXH đối với việc phát huy tự do, dân chủ; xây dựng đồng thuận xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Là công cụ quan trọng để huy động trí tuệ của các tầng lớp nhân dân vào xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của nhà nước. 1.2. Các công trình nghiên cứu về phản biện chính sách công 1.2.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Tác giả luận án đã tiếp cận các công trình nghiên cứu: "A Ladder of Citizen Participation" (Thang bậc của tham gia công dân), Sherry R Arnstein (1969); "Public Policymaking in America" (Hoạch định chính sách công ở Hoa Kỳ), Jerri Cockrel (1997); "Characterizing E-Participation in Policy-Making" (Đặc điểm của tham gia điện tử trong xây dựng chính sách công), Ann. Macintosh (2004); "The global: Go to Think tank, The Leading Public Policy Research Organizations In The World " (Toàn cầu: Think tank, các tổ chức 6 nghiên cứu chính sách công hàng đầu thế giới); James G. McGann (2013); "Handbook on Citizen Engagement: Beyond Consultation" (Hướng dẫn tham gia công dân), Bộ Tư Pháp Canada (2008); "Citizen Involvement in Policy Processes" (Tham gia công dân trong tiến trình chính sách công), Phillips, Susan D, và Michael Orsini (2002); "Remaking Public Participation in Singapore: The Form and Substance" (Tái xây dựng sự tham gia công tại Singapore: Hình thức và nội dung), Abdillah Noh; "Increasing Trust in Government through more Participatory and Transparent Government" (Thúc đẩy niềm tin vào chính phủ thông qua tăng cường sự tham gia công và ủy quyền của chính phủ); Byong Seob Kim, Chairman và Jin Hyung Kim; "Public Policy Skills" (Kỹ thuật chính sách công), Coplin, William D và Michael K.O’Leary (1998)... Nghiên cứu của Sherry R Arnstein cung cấp cái nhìn toàn cảnh về quá trình tham gia công như một tiến trình thực thi quyền dân chủ của nhân dân trong hoạch định và thực thi chính sách công từ thấp đến cao. Nội dung cốt lõi của nó chính là việc huy động trí tuệ xã hội để hỗ trợ nhà nước trong quá trình xây dựng, triển khai chính sách và kiểm soát quyền lực. Jerri Cockrel xem phản biện là nội dung, thành tố cấu trúc của chính sách công. Sự tham gia rộng rãi của công dân và các tổ chức xã hội vào tất cả các khâu của quá trình chính sách đảm bảo tính minh bạch và đồng thuận xã hội. Các hoạt động phản biện, tham vấn của cộng đồng diễn ra đồng thời với quá trình xây dựng chính sách của các cơ quan chủ trì. Thông qua đối thoại và thông tin hai chiều nhằm làm tăng trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của quá trình ban hành và thực thi chính sách công. Nghiên cứu của Ann Macintosh cho thấy: hoạt động tham vấn, phản biện chính sách là yếu tố cấu thành nội tại của hoạt động xây dựng, thực thi chính sách; được thiết kế gắn chặt với chương trình chính sách, trong tất cả các khâu của hoạt động chính sách. Được sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin nên có sức lan tỏa, tầm ảnh hưởng lớn và hiệu quả cao. Công trình của James G. McGann trình bày hoạt động của các tổ chức think tank tại 182 quốc gia trên toàn cầu, chỉ ra: Các tổ chức think tank là hệ thống tư vấn, phản biện chính sách độc lập, chuyên nghiệp, có chất lượng khoa học cao của xã hội. Sự phát triển mạnh mẽ và tham dự ngày càng sâu của think tanks vào việc hoạch định chính sách đã thúc đẩy xu thế chuyên nghiệp hóa hoạt động tư vấn, PBCSC trên thế giới. Góp phần nâng cao tính khoa học, hợp lý của hệ thống của hoạch định chính sách công trong thời đại toàn cầu hóa. Các công trình nghiên cứu về PBCSC trên cho thấy: PBCSC đã được nhiều quốc gia tổ chức thành hệ thống hoàn chỉnh, chuyên nghiệp, có khung pháp lý rõ ràng, cơ chế, mô hình, quy trình vận hành chặt chẽ và phù hợp với đặc thù của nền hành chính công của đất nước. Là nhân tố quan trọng để huy động trí tuệ xã hội vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách của nhà nước và đảm bảo quyền tham gia bình đẳng của các cộng đồng dân cư. 1.2.2. Các công trình nghiên cứu trong nước Một số công trình tác giả luận án đã khảo sát: Đề tài khoa học cấp bộ (2009): "Nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa cơ quan nhà nước với cộng đồng 7 xã hội trong phản biện chính sách công", Nguyễn Hữu Hải (chủ nhiệm); Đề tài khoa học cấp Bộ (2016): "Bảo đảm sự tham gia của công dân trong hoạch định và thực thi chính sách công ở Việt Nam hiện nay", Đặng Khắc Ánh (chủ nhiệm); "Xã hội dân sự ở Malaysia và Thái Lan", Lê Thị Thanh Hương (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội (2009); "Tham gia của người dân vào quy trình chính sách công", Vũ Thanh Sơn, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 348 (5/2007); "Tư duy kinh tế Việt Nam - Chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975-1989", Đặng Phong (2008), Nxb Tri thức, Hà Nội; "Lợi ích của phản biện xã hội đối với chính sách Nhà nước", Phương Ngọc Thạch (2007), Tạp chí Phát triển kinh tế; "Huy động sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước", Dương Quang Tùng (12/2007), Tạp chí Quản lý nhà nước (143); "Trung Quốc coi trọng phát triển hệ thống Think tank", Nguyễn Hải Hoành (2010), Tia Sáng, link: tiasang/ online/12/11/2010; "Chính sách công và tư duy phản biện", Jonathan R Pincus (2012)... Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Hải (chủ nhiệm) đã làm rõ thực trạng tham gia PBCSC của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đánh giá năng lực, thuận lợi và khó khăn của các tổ chức nói riêng, xã hội nói chung trong hoạt động phản biện chính sách ở nước ta. Đề xuất xây dựng cơ chế phối hợp tham gia PBCSC ở Việt Nam giữa các chủ thể trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách. Công trình của Đặng Khắc Ánh (chủ nhiệm) Nêu ra thực trạng hiện nay là việc lấy ý kiến công dân để đo lường tác động của chính sách trước khi ban hành trên thực tế còn hạn chế. Đặc biệt, hoạt động PBCSC là khâu rất quan trọng trong công tác làm chính sách ở các nước trên thế giới thì ở Việt Nam đang bị coi nhẹ. Chỉ ra vai trò quan trọng của sự tham gia công dân vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách công, cũng như các điều kiện về quyền và cơ chế, chính sách để đảm bảo sự tham gia công dân trong thực tiễn nước ta hiện nay. Lê Thị Thanh Hương (chủ biên) trong nghiên cứu của mình đã so sánh mô hình XHDS của các nước phương Tây và mô hình XHDS của các nước Đông Á, chỉ ra sự khác biệt trong mô hình tổ chức, phương thức vận hành của hai mô hình này. Lý giải tính tương thích trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức của xã hội vào thể chế kinh tế, chính trị, pháp lý ở mỗi quốc gia. Điều đó dẫn đến sự khác nhau trong mô hình, cơ chế, phương thức PBCSC trong các nền dân chủ phương Đông và phương Tây. Các nghiên cứu được công bố về PBCSC ở Việt Nam còn khá khiêm tốn. Nội dung nghiên cứu cơ bản tập trung vào việc khẳng định vai trò, giá trị, ý nghĩa và tầm quan trọng của PBCSC trong điều kiện nước ta hiện nay. 1.3. Những kết quả nghiên cứu đã đạt được 1.3.1. Đối với các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Phản biện chính sách công được xem là thuộc tính của XHDS, là sự đối trọng và kiểm soát của XHDS đối với nhà nước. Được thực hiện trong toàn bộ chu trình chính sách, bao gồm tất cả các vấn đề liên quan đến xây dựng và thực thi chính sách công như: phản biện về việc lựa chọn vấn đề, mục tiêu và chương trình chính sách, về hệ thống giải pháp, lộ trình, phân bổ nguồn lực 8 và các đề án thực thi chính sách, về sự thống nhất, phù hợp của chính sách với điều kiện kinh tế - xã hội, về tính hợp lý và hợp pháp của hệ thống văn bản chính sách... Chủ thể phản biện là công dân, các tổ chức XHDS, các think tank và tất các các chủ thể liên quan. 1.3.2. Đối với các công trình nghiên cứu trong nước 1. Xác định vai trò của PBCSC là hỗ trợ, bổ sung cho phản biện, thẩm định của các cơ quan nhà nước trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách. Nhằm làm cho các chính sách trở nên hợp lý, khách quan và khả thi hơn; đảm bảo quyền lực của nhân dân trong quản lý nhà nước. 2. Bước đầu luận chứng được vị trí, vai trò của một số chủ thể xã hội trong hoạt động phản biện chính sách ở nước ta như: vị trí, vai trò của MTTQVN, VUSTA và các tổ chức đoàn thể nhân dân, 3. Đã bước đầu đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động PBCSC ở nước ta (về bản chất, khái niệm, nội hàm của PBXH, phản biện chính sách, chỉ ra vai trò, tính tất yếu của PBCSC...). 4. Một số công trình đã đề xuất những giải pháp thực hiện PBCSC theo mục tiêu trực tiếp của đề tài (cơ chế phối hợp giữa cơ quan nhà nước với cộng đồng xã hội trong PBCSC; các hình thức và giải pháp thực hiện giám sát xã hội và PBXH đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị...). 1.4. Những vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu làm sáng tỏ trong luận án Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của hoạt động PBCSC ở nước ta hiện nay: Chỉ ra tính tất yếu, đặc thù và phương thức thực hiện PBCSC trong thể chế chính trị một đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền ở Việt Nam; bổ sung và hệ thống hóa cơ sở lý luận của hoạt động PBCSC. Đánh giá khách quan năng lực, trình độ, quy mô và xu hướng phát triển của hoạt động PBCSC ở Việt Nam. Qua đó, làm sáng tỏ bản chất, đặc điểm của cơ chế, quy trình phản biện chính sách ở nước ta, những hạn chế, bất cập trong mô hình, cơ chế hiện tại. Đề xuất đổi mới quy trình phản biện, hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động PBCSC. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG 2.1. Khái niệm phản biện xã hội và khái niệm phản biện chính sách công 2.1.1. Khái niệm phản biện xã hội Trong đề tài luận án, khái niệm PBXH được quan niệm là: Phản biện xã hội là hoạt động bày tỏ chính kiến, kiến nghị, đánh giá, thẩm định… của tổ chức xã hội, cá nhân và cộng đồng đối với quá trình xây dựng và thực thi các quyết sách kinh tế-chính trị của đảng cầm quyền và nhà nước nhằm thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ và đồng thuận của xã hội, làm cho các quyết sách của đảng cầm quyền và nhà nước phản ảnh đúng quy luật khách quan, 9 phù hợp với thực tiễn và đáp ứng mong đợi của nhân dân, đảm bảo hài hòa lợi ích và phát triển bền vững. 2.1.2. Phân biệt phản biện xã hội với một số dạng thức phản biện khác Trong mục này, tác giả luận án trình bày sự khác biệt giữa phản biện xã hội với một số dạng thức phản biện khác, bao gồm: 2.1.2.1. Phản biện xã hội và phản biện khoa học 2.1.2.2. Phản biện xã hội và phản biện của các cơ quan, tổ chức của nhà nước 2.1.2.3. Phân biệt phản biện xã hội với dư luận xã hội và các hình thức góp ý khác 2.1.3. Khái niệm phản biện chính sách công (phản biện xã hội đối với chính sách công) Phản biện chính sách công thực chất là PBXH đối với chính sách công, hoạt động này kéo dài suốt quá trình xây dựng, ban hành, triển khai và kiểm soát chính sách công trong thực tiễn. Theo hướng tiếp cận này, tác giả luận án quan niệm: Phản biện chính sách công là sự đánh giá, thẩm định, bày tỏ chính kiến, kiến nghị của các cá nhân, cộng đồng, tổ chức xã hội đối với quá trình xây dựng và thực thi chính sách công của nhà nước nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạch định, thực thi và kiểm soát chính sách. 2.2. Tính tất yếu khách quan của phản biện chính sách công 2.2.1. Phản biện chính sách công là một hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước Kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua PBCSC của XHDS và công dân là hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài, có giá trị dân chủ và hiệu quả cao. Là sự kiểm soát quyền lực nhà nước bằng trí tuệ, tri thức của cộng đồng - một hình thức kiểm soát quyền lực thể hiện trình độ văn minh của xã hội, bổ sung cho các phương thức kiểm soát quyền lực truyền thống khác. Tạo ra sự cân bằng, tương thích giữa nền kinh tế thị trường, tổ chức xã hội và nhà nước pháp quyền cũng như sự cân bằng nội tại của hệ thống chính sách công. 2.2.2. Phản biện chính sách công là một hình thức tham gia công dân 2.2.2.1. Phản biện chính sách công là một hình thức tham gia công dân Hoạt động tham gia công dân được xây dựng thành thang bậc tham gia công dân, với nhiều cấp độ tham gia khác nhau. Các mô hình thang bậc tham gia công dân của Sherry, R. Arnstein, Wilcox và Ann. Macintosh nghiên cứu đều cho thấy PBCSC là hình thức tham gia có chất lượng cao của hoạt động tham gia công dân. Sự tham gia của người dân được thực hiện trong tất cả các khâu của quy trình chính sách, trên tinh thần đối thoại bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa nhà nước và nhân dân 2.2.2.2. Hoạt động phản biện trong chu trình chính sách công Nội dung PBCSC bao trùm toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi chính sách, với nhiều chủ thể và mức độ khác nhau. Nội dung phản biện là xem xét tính hợp pháp, hợp lý của chính sách; đánh giá tính khoa học, giá trị thực 10 tiễn, dự báo tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội của chính sách; đồng thời kiến nghị các giải pháp đổi mới chính sách. 2.3. Vai trò của phản biện chính sách công Vai trò của phản biện chính sách công thể hiện trên các mặt: 2.3.1. Thúc đẩy dân chủ và tranh thủ sự đồng thuận, hợp tác của nhân dân trong xây dựng và thực thi chính sách công 2.3.2. Huy động các nguồn lực xã hội cho hoạt động chính sách và tiết kiệm nguồn lực nhà nước 2.3.3. Dự báo và xử lý các mâu thuẫn lợi ích 2.3.4. Nâng cao chất lượng quyết định chính sách 2.3.5. Phòng ngừa tham nhũng chính sách 2.4. Quy trình, hình thức, công cụ và nguyên tắc phản biện chính sách công 2.4.1. Quy trình phản biện chính sách công Quy trình PBCSC được Jerry Cockerl diễn giải cho thấy, quá trình phản biện diễn ra song song với quá trình xây dựng và thực thi chính sách. Hoạt động PBCSC bao trùm và gắn với mỗi khâu cụ thể trong chu trình chính sách công. 2.4.2. Hình thức tham vấn, phản biện chính sách công Các hình thức được khuyến nghị cho công dân là: Bồi thẩm đoàn công dân, hội nghị đồng thuận, hội đồng nhân dân, hội thảo kịch bản chính sách, đối thoại công dân và thăm dò ý kiến. Hoạt động PBCSC của NGOs có bốn hình thức cơ bản là: tham vấn thông tin hạn chế, thông báo, tham vấn rộng rãi, điều trần công khai và thông qua các cơ quan tư vấn, nhóm chuyên gia. 2.4.3. Công cụ phản biện chính sách công Có ba nhóm công cụ chủ yếu: Nhóm các công cụ tổ chức gồm các hình thức: Các cá nhân, tổ chức liên kết với nhau thành liên minh hoặc liên kết với các cơ quan chính phủ, tổ chức chính trị, các tổ chức think tanks…để thực hiện hoạt động phản biện. Nhóm công cụ giao tiếp gồm: văn bản, ngôn bản, mạng điện tử của chính phủ, của các NGOs, mạng xã hội, truyền thông đại chúng. Nhóm công cụ phân tích chính sách: Phân tích SWOT, phân tích chi phí-lợi ích, phân tích rủi ro, đánh giá chi phí tuân thủ và dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật (RIA), phân tích PEST. 2.4.4. Nguyên tắc phản biện chính sách công Đảm bảo tính khoa học, toàn diện, trung thực, khách quan; dân chủ, công khai và minh bạch. Tôn trọng các ý kiến, quan điểm khác nhau, không áp đặt ý kiến, quan điểm và đảm bảo lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân, lợi ích quốc gia, dân tộc. 2.5. Các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện đảm bảo chất lượng, hiệu quả chính sách công 2.5.1. Các yếu tố ảnh hưởng Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả chính sách công bao gồm: 11 2.5.1.1. Mô hình, phương pháp xây dựng thực thi chính sách công 2.5.1.2. Tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị 2.5.1.3. Sự đầy đủ và đồng bộ của hệ thống pháp luật 2.5.1.4. Trình độ phát triển của tổ chức xã hội và năng lực tham gia công dân 2.5.1.5. Sự điều chỉnh chức năng của hành chính nhà nước từ hành chính công truyền thống sang hành chính công hiện đại 2.5.2. Điều kiện đảm bảo Hệ thống thể chế pháp lý đầy đủ, minh bạch, dân chủ và tiến bộ; hệ thống tổ chức và quy trình, công cụ phản biện chính sách rõ ràng, hợp lý; hệ thống các tổ chức xã hội năng động, tích cực tham gia vào hoạt động chính sách. Trong điều kiện Việt Nam đó là vai trò của MTTQVN và VUSTA; trình độ dân trí, trách nhiệm và năng lực tham gia của công dân, trong đó đặc biệt là vai trò của đội ngũ trí thức và truyền thông đại chúng. Chương 3 THỰC TRẠNG PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TẠI CÁC TỈNH THUỘC KHU VỰC MIỀN TRUNG,TÂY NGUYÊN 3.1. Khái quát chung về kinh tế - xã hội các tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên 3.1.1. Diện tích, đơn vị hành chính, dân cư, dân trí và lao động Tổng diện tích 06 tỉnh thuộc khu vực khảo sát là 42367,9 km2, chiếm 12,8% diện tích cả nước. Tổng dân số: 5.885,9 nghìn người, chiếm tỷ trọng 6,49% dân số nước ta, tỷ lệ dân số biết chữ tương đương bình quân cả nước. Dân số trong độ tuổi lao động tính đến ngày 31/12/2013 là 3.440,5 nghìn, chiếm 58,2% dân số khu vực. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tính chung cho khu vực là 17,9%, trong đó cao nhất là Đà Nẵng 35,9%, thấp nhất là Gia Lai, Phú Yên 10,4%. 3.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội Nhìn chung, sự phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực tại 06 tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên bao gồm cả ba nhóm: cao, trung bình và thấp so với mức bình quân chung của cả nước, đáp ứng yêu cầu làm mẫu nghiên cứu về PBCSC ở nước ta hiện nay. 3.2. Thực trạng khung pháp lý về phản biện chính sách công 3.2.1. Quy định về quyền, trách nhiệm của chủ thể phản biện chính sách Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và VUSTA là hai tổ chức được pháp luật cho phép phản biện và tổ chức hoạt động phản biện chính sách. Các tổ chức XHDS ngoài hệ thống này và cá nhân công dân chưa được xem là chủ thể PBCSC độc lập. Vai trò trực tiếp của cá nhân công dân là khá mờ nhạt, các quyền chủ thể của cá nhân công dân trong lĩnh vực này còn hạn chế. 3.2.2. Quy định về đối tượng, nội dung, phạm vi và hình thức phản biện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Chủ trì PBXH đối với các văn bản dự thảo về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các đoàn 12 thể chính trị - xã hội. Các dự thảo có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, hội viên, tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận. VUSTA: Chủ trì PBXH đối với các vấn đề về đường lối, chủ trương, chính sách quan trọng và những chương trình, dự án lớn về khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, về chính sách xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức. Có hai hình thức tham vấn, phản biện chính sách là trực tiếp và gián tiếp, gồm ba loại hình cụ thể là: Hội nghị phản biện, gởi văn bản xin ý kiến và đối thoại trực tiếp. 3.2.3. Quy định về việc lấy ý kiến, tiếp thu ý kiến phản biện chính sách của các tổ chức xã hội, công dân và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Trách nhiệm cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động phản biện chính sách là phải cung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin, tư liệu cần thiết, bảo đảm các điều kiện về thời gian, kinh phí và sử dụng cơ sở vật chất (trên cơ sở thỏa thuận trước) cho MTTQVN, VUSTA hoặc các hội thành viên. Tiếp nhận, nghiên cứu, tiếp thu các kiến nghị, đề xuất trong văn bản tư vấn, phản biện và giám định xã hội để hoàn thiện đề án; trả lời các ý kiến không tán thành. 3.3. Hoạt động phản biện chính sách công tại các tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên 3.3.1. Hoạt động phản biện chính sách của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Tính đến tháng 6/2015, 06 Liên hiệp hội KH&KT trên địa bàn đã quy tụ được 148 tổ chức hội thành viên, 28 đơn vị trực thuộc với 109.770 hội viên. Giai đoạn 2010-2014 đã tham gia phản biện tổng cộng khoảng 72 dự án, chiến lược, chương trình phát triển kinh tế - xã hội quan trọng. Tính trong toàn hệ thống của VUSTA, giai đoạn 2010-2014 có 33/63 các Liên hiệp hội địa phương triển khai thực hiện các nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội. Năm 2010, đã triển khai thực hiện 172 nhiệm vụ, năm 2011 là 181 nhiệm vụ, năm 2012 là 204 nhiệm vụ, năm 2013 là 390 nhiệm vụ và năm 2014 thực hiện 175 nhiệm vụ. Cùng thời gian này có 10/77 hội toàn quốc thực hiện các nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội với số lượng là 101 nhiệm vụ trong 5 năm. 3.3.2. Hoạt động phản biện chính sách của Mặt trận tổ quốc Việt Nam Hoạt động phản biện chính sách trong những năm qua của MTTQVN tại các địa phương được khảo sát đã có những bước chuyển biến tích cực. Tiêu biểu như MTTQVN tỉnh Quảng Trị đã tiến hành tham gia ý kiến phản biện hơn 70 đề án, dự án đầu tư công về phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh; MTTQVN tỉnh Phú Yên tổ chức 1.800 cuộc gặp gỡ, đối thoại, tham gia phản biện trực tiếp. Giai đoạn 2014-2017, MTTQVN cấp tỉnh trong cả nước tổ chức được 784 cuộc Hội nghị phản biện, cấp huyện được trên 4.000 cuộc và cấp xã được trên 25.800 cuộc; Mặt trận Tổ quốc và Ban Dân vận các cấp tổ chức trên 90.800 cuộc đối thoại trực tiếp trên cả nước. 3.3.3. Hoạt động phản biện chính sách của người dân Kết quả khảo sát cho thấy, các nhóm chính sách kinh tế, xã hội và phát triển con người cơ bản là các nhóm chính sách có mức độ tham gia phản biện 13 cao hơn so với các nhóm chính sách chuyên biệt. Hầu hết người dân đều hiểu về bản chất của PBCSC, hết sức quan tâm và đánh giá cao vai trò của PBCSC trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách, phát huy quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân. 3.4. Thực trạng về quy mô, phạm vi, hình thức, công cụ và quy trình vận hành hoạt động phản biện chính sách công tại các tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên 3.4.1. Về quy mô, phạm vi, hình thức phản biện Quy mô PBCSC nhìn chung còn nhỏ bé. Chủ thể chủ yếu là các tổ chức trong hệ thống chính trị, cá nhân công dân và các tổ chức XHDS khác chưa có sự tham gia thiết thực vào hoạt động này. Hoạt động phản biện chính sách chủ yếu diễn ra trong phạm vi của giai đoạn thẩm định và công bố văn bản chính sách. Công dân thực hiện phản biện chủ yếu bằng hai hình thức thăm dò ý kiến và đối thoại trực tiếp, các tổ chức xã hội chủ yếu qua hai hình thức là hội nghị phản biện và sử dụng các cơ quan tư vấn chính sách của mình. 3.4.2. Về công cụ phản biện Trong các công cụ phản biện chính sách, nhóm các công cụ giao tiếp được sử dụng rộng rãi nhất, bao gồm hầu hết các loại hình giao tiếp chính sách hiện nay. Đối với nhóm công cụ tổ chức, hầu hết các tổ chức XHDS trong khu vực đều thực hiện các liên kết dọc trong khuôn khổ tổ chức của VUSTA và MTTQVN, có rất ít các liên kết/liên minh hàng ngang. Nhóm các công cụ phân tích chính sách được sử dụng kém hiệu quả nhất, hầu hết các phản biện chính sách của người dân và tổ chức xã hội đều sử dụng công cụ phân tích chính trị - kinh tế xã hội (PEST). Tuy nhiên, chỉ dừng ở mức phân tích định tính nên tính thuyết phục không cao, chất lượng khoa học, giá trị thực tiễn thấp. 3.4.3. Về quy trình phản biện 3.4.3.1. Cơ sở nhận diện quy trình phản biện chính sách công Ở nước ta, Quốc hội có thẩm quyền quyết định chính sách cơ bản, được ban hành dưới hình thức luật. Chính phủ quyết định các chính sách cụ thể, ban hành dưới hình thức Nghị định. Quy trình xây dựng, thực hiện các đề án chính sách trong thực tế gồm các bước cụ thể sau: 1. Xác định vấn đề chính sách. 2. Xác định đề án, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp dự thảo chính sách. 3. Cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp dự thảo đề án. 4. Thẩm định đề án. 5. Thông qua ban hành. 6. Tuyên truyền vận động. 7. Triển khai thực hiện. 8. Điều phối, duy trì và kiểm soát. 9. Tổng kết, đánh giá Có hai quy trình tương ứng với hai hình thức tham vấn, phản biện chính sách trực tiếp và gián tiếp. Hai mô hình này có sự khác nhau về thành phần tham gia, cơ chế và trình tự thực hiện. 14 3.4.3.2. Quy trình phản biện gián tiếp Phản biện gián tiếp là hình thức chủ yếu nhất hiện nay, sự tham gia của nhân dân thông qua MTTQVN, VUSTA và các thiết chế dân chủ đại diện khác. Sự hiện diện của hai tổ chức này chủ yếu bắt đầu từ bước thứ tư (thẩm định đề án chính sách) của quy trình chính sách. Tiến trình này được mô hình hóa thành quy trình phản biện gián tiếp gồm 8 bước: 1. Thu thập thông tin, xây dựng báo cáo phản biện 2. Chọn hình thức phản biện 3. Phản ánh ý kiến phản biện 4. Tiếp nhận ý kiến phản biện, xử lý sơ bộ 5. Tổng hợp xây dựng báo cáo về ý kiến phản biện của nhân dân 6. Đệ trình kỳ họp QH, BUTVQH, CP và HĐND 7. Quyết nghị 8. Thực hiện điều chỉnh và thông báo cho nhân dân Ở quy trình phản biện gián tiếp tính đối thoại thấp. Cơ quan xây dựng, thực thi chính sách tiếp nhận ý kiến phản biện và trả lời qua trung gian là cơ quan tổ chức hoạt động phản biện như MTTQVN, VUSTA, các tổ chức đoàn thể hoặc cơ quan đại diện như Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Các chủ thể phản biện đại diện như MTTQVN, VUSTA cũng chỉ tham gia thực chất vào 6/9 bước trong quy trình chính sách. Hình thức phản biện sử dụng chủ yếu là hội nghị phản biện và các cơ quan tư vấn. Công cụ phản biện kỹ thuật chủ yếu là sử dụng phương pháp phân tích kinh tế - chính trị - xã hội mức độ định tính nên giá trị khoa học, thực tiễn không cao. 3.4.3.3. Quy trình phản biện trực tiếp Trong quy trình phản biện trực tiếp, ngoài các nhóm chịu tác động trực tiếp của chính sách được tham gia trước, phần lớn người dân chỉ thực sự tham vào 3/9 bước (từ bước 6 đến bước thứ 8) của chu trình chính sách. Hình thức phản biện chủ yếu là thăm dò ý kiến và đối thoại trực tiếp giữa cơ quan nhà nước với các đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách. Công cụ kỹ thuật chủ yếu là phân tích PEST, công cụ giao tiếp chính sách bao gồm hầu hết các phương thức hiện có. Có thể khái quát quy trình phản biện trực tiếp của người dân trong tham gia xây dựng và thực thi chính sách thành một quy trình gồm 9 bước sau: 1. Thu thập thông tin, xây dựng báo cáo phản biện. 2. Chọn hình thức phản biện. 3. Thực hiện phản biện. 4. Tiếp nhận thông tin phản biện. 5. Chỉ đạo xử lý. 6. Giao cơ quan chức năng nghiên cứu, xây dựng phương án xử lý. 7. Thẩm định đề án chính sách. 8. Quyết nghị. 9. Thực hiện điều chỉnh và trả lời nhân dân 15 Điểm mạnh của quy trình trực tiếp là ít đầu mối trung gian, cho phép rút ngắn thời gian thu thập, xử lý thông tin, giảm chi phí, nhân lực. Tạo áp lực lớn buộc chính quyền phải quan tâm và điều chỉnh chính sách. Đảm bảo tính công khai, dân chủ, sự bình đẳng trong trao đổi thông tin quản lý nhà nước giữa người dân và chính quyền. Tuy nhiên, điểm yếu của quy trình này là còn thiếu chế tài trong việc tổ chức phản biện, xử lý thông tin phản biện và đảm bảo pháp lý của chủ thể phản biện. Bên cạnh đó, hiệu quả của phản biện trực tiếp phụ thuộc lớn vào trình độ dân trí và tính tích cực chính trị của người dân cũng khả năng đáp ứng của chính quyền nên việc áp dụng trên diện rộng hiện nay còn khó khăn. 3.5. Những vấn đề đặt ra đối với phản biện chính sách công ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn các tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên Hoạt động tham vấn, phản biện ở nước ta còn mang nặng tính hành chính, thụ động, phụ thuộc chủ yếu vào bên yêu cầu phản biện. Còn thiếu những cơ sở pháp lý quan trọng, đóng vai trò nền tảng cho hoạt động tham vấn, phản biện chính sách như: Luật về hội, Luật trưng cầu dân ý, Luật PBXH. Phạm vi phản biện mới chỉ giới hạn trong khâu xây dựng chính sách, nhưng là những chính sách chung của nhà nước, chưa mở rộng ra những quyết sách cụ thể của các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý lĩnh vực. Chưa có sự tách bạch giữa quy trình hoạch định chính sách và quy trình xây dựng văn bản quy phạm chính sách. Hình thức phản biện chủ yếu là gián tiếp thông qua vai trò của MTTQVN và VUSTA, các công cụ tổ chức, giao tiếp và phân tích chính sách hiện đại chưa được sử dụng rộng rãi. Trách nhiệm giải trình, cơ chế pháp lý đảm bảo tính minh bạch trong quá trình tiếp thu ý kiến PBCSC của người dân chưa rõ ràng, thiếu chế tài để bắt buộc các cơ quan nhà nước phải thực hiện. Thực trạng này đặt ra yêu cầu: Một là, yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý nhà nước về PBCSC; hai là, tổ chức quy trình PBCSC phù hợp cho sự tham gia hiệu quả của công dân, tổ chức xã hội vào hoạt động chính sách của nhà nước; ba là, nâng cao năng lực phản biện chính sách của công dân, tổ chức xã hội; bốn là, yêu cầu về công khai, minh bạch thông tin chính sách; xây dựng văn hóa tranh luận và nâng cao vai trò của thông tin đại chúng trong phản biện chính sách; năm là, đảm bảo quyền bình đẳng trong tham gia chính sách của các cộng đồng dân cư. Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG Ở VIỆT NAM 4.1. Quan điểm định hướng nâng cao chất lượng phản biện chính sách công Nâng cao chất lượng, hiệu quả phản biện chính sách tập trung vào các giải pháp: Đổi mới quy trình phản biện chính sách; đổi mới thể chế quản lý 16 quản lý nhà nước về PBCSC để xây dựng các đảm bảo về pháp lý, quản lý; nâng cao năng lực phản biện của các chủ thể phản biện; xây dựng các đảm bảo nguồn lực, hạ tầng công nghệ và văn hóa, xã hội. 4.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng phản biện chính sách công 4.2.1. Đổi mới quy trình phản biện chính sách công 4.2.1.1. Đổi mới quy trình phản biện gián tiếp Nội dung đổi mới: Mở rộng phạm vi phản biện lên toàn bộ chu trình chính sách, đổi mới các hình thức và công cụ phản biện chính sách. Đổi mới công tác tiếp nhận, xử lý thông tin phản biện, cơ chế hồi đáp và xác lập các đảm bảo cho quy trình vận hành thuận lợi trong thực tế. Gồm 11 đề xuất điều chỉnh, bổ sung: 1. Mở rộng phạm vi phản biện của các chủ thể đại diện vào toàn bộ chu trình chính sách (từ bước thứ 4 lên bước thứ 1). 2. Mở rộng phạm vi chủ thể phản biện cơ sở. 3. Sử dụng các công cụ phân tích, công cụ giao tiếp chính sách hiện đại, hiệu quả. 4. Bổ sung hình thức phản biện và xây dựng bảng hướng dẫn sử dụng. 5. Tổ chức tham vấn, phản biện điện tử trong hệ thống tổ chức của MTTQVN, VUSTA 6. Chuyên trách hóa bộ phận xử lý thông tin tham vấn, phản biện chính sách. 7. Báo cáo tổng hợp, thẩm định phải xây dựng theo hướng phản biện. 8. Thông báo đề án chính sách mới, nội dung điều chỉnh đề án chính sách đang thực hiện phải sách kèm báo cáo tổng hợp ý kiến phản biện và cáo cáo giải trình. 9. Công khai tiến độ, kết quả thực hiện các đề án chính sách trên cổng thông tin điện tử và truyền thông đại chúng. 10. Xây dựng, ban hành quy chế đối thoại với công dân của lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, và lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp. 11. Trước khi tổng kết công tác xây dựng, thực hiện chính sách, phải công bố dự thảo báo cáo đánh giá của chính quyền trên thông tin đại chúng để nhân dân phản biện và tiếp thu ý kiến, đưa vào báo cáo đánh giá. 4.2.1.2. Đổi mới quy trình phản biện trực tiếp Mở rộng quy trình phản biện ra toàn bộ quy trình chính sách, mở rộng phạm vi chủ thể phản biện, xây dựng các hình thức và công cụ phản biện phù hợp; bổ sung các đảm bảo pháp lý. Nội dung cụ thể bao gồm: 1. Mở rộng phạm vi phản biện ra toàn bộ chu trình chính sách. 2. Mở rộng phạm vi phản biện độc lập của công dân. 3. Sử dụng công cụ phân tích chính sách hiệu quả 4. Lựa chọn hình thức và công cụ giao tiếp chính sách phù hợp 5. Bộ phận chuyên trách tiếp nhận, xử lý thông tin phản biện trực tiếp đặt ở bộ phận soạn thảo đề án chính sách. 6. Báo cáo thẩm định phải xây dựng theo hướng phản biện thay vì theo hướng báo cáo kết quả hoạt động. 17 7. Dự thảo đề án chính sách phải được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trước khi được thẩm định và ban hành. 8. Thông báo đề án chính sách mới; nội dung điều chỉnh đề án chính sách đang thực hiện phải sách kèm báo cáo tổng hợp ý kiến phản biện và cáo cáo giải trình. 9. Xây dựng, ban hành quy chế đối thoại với công dân của lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, và lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp. 10. Trước khi tổng kết công tác xây dựng, thực hiện chính sách, phải công bố dự thảo báo cáo đánh giá của chính quyền trên thông tin đại chúng để nhân dân phản biện và tiếp thu những ý kiến đó, đưa vào báo cáo đánh giá. 4.2.1.3. Quy trình chung Quy trình chung cung cấp cái nhìn tổng quát về quy trình PBCSC và sự đổi mới, gồm 10 điểm cụ thể: 1. Mở rộng phạm vi phản biện ra toàn bộ chu trình chính sách. 2. Mở rộng phạm vi chủ thể phản biện 3. Sử dụng công cụ phân tích chính sách hiệu quả 4. Lựa chọn hình thức, công cụ phản biện phù hợp 5. Thực hiện tham vấn, phản biện điện tử 6. Chuyên trách hóa bộ phận tiếp nhận, xử lý thông tin 7. Công bố dự thảo đề án xây dựng chính sách mới, đề án điều chỉnh chính sách, đề án chính sách trước khi ban hành để nhân dân tham vấn, phản biện. 8. Báo cáo thẩm định phải xây dựng theo hướng phản biện. Hồ sơ thẩm định phải kèm theo báo cáo tổng hợp ý kiến phản biện, báo cáo giải trình về việc tiếp thu hoặc không tiếp thu ý kiến phản biện của nhân dân. 9. Xây dựng Quy chế đối thoại với công dân của lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, và lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp. 10. Công khai dự thảo báo cáo đánh giá chính sách trên thông tin đại chúng để nhân dân tham vấn, phản biện, đề xuất sáng kiến chính sách mới; giải trình việc tiếp thu hoặc không tiếp thu. 4.2.1.4. Dự báo tác động và lộ trình đổi mới quy trình Trước hết, tập trung đổi mới các nhóm công cụ phân tích, giao tiếp chính sách để khoa học hóa hoạt động này. Tiếp theo là đổi mới nhóm các đảm bảo pháp lý, quản lý về quyền tiếp cận thông tin, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và nâng cao năng lực phản biện, tổ chức phản biện của MTTQVN và VUSTA, các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội. Đổi mới phương pháp xây dựng và thực thi chính sách công theo nguyên tắc cùng tham gia sẽ là bước kế tiếp để mở rộng phạm vi phản biện và nâng cao năng lực chủ thể. Việc mở rộng phạm vi phản biện ra toàn bộ chu trình chính sách và xác lập địa vị pháp lý chủ thể phản biện độc lập của công dân và tổ chức xã hội sẽ là bước cuối cùng để hoàn tất quy trình. 4.2.2. Bổ sung, hoàn thiện thể chế quản lý về phản biện chính sách công 4.2.2.1. Bổ sung, hoàn thiện khung pháp luật về phản biện chính sách công Thứ nhất, xác lập địa vị chủ thể phản biện của công dân và tổ chức xã hội. 18
- Xem thêm -